1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại việt nam

128 482 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các bài viết này chủ yếu tập trung vào pháp luật bảo vệ các loài động vật hoang dã, bảo tồn đa dạng sinh học và phân tích một trong những khía cạnh nằm trong lĩnh vực pháp luật bảo vệ độ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐÀO THỊ THU HƯƠNG

PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT RỪNG NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐÀO THỊ THU HƯƠNG

PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT RỪNG NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật kinh tế

Mã số : 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS DOÃN HỒNG NHUNG

Hà Nội – 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ iii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT RỪNG NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM 7

1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm 7

1.1.1 Khái niệm động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm 7

1.1.2 Tiêu chí xác định động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam 13

1.1.3 Phân loại động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam 15

1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm 17

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm 17

1.2.2 Các biện pháp bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm 20

1.2.3 Tầm quan trọng của việc bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm đối với bảo tồn đa dạng sinh học 22

1.3 Pháp luật bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm 23

1.3.1 Khái niệm pháp luật bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm 23

1.3.2 Sự cần thiết phải bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm bằng pháp luật 27

1.3.3 Các yếu tố tác động đến pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và tiêu chí đánh giá hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm 28

1.3.4 Nội dung của pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam 31

1.4 Pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ở một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 41

1.4.1 Kinh nghiệm của Ấn Độ 41

1.4.2 Kinh nghiệm của Namibia 43

Trang 6

1.4.3 Bài học kinh nghiệm từ Ấn Độ và Namibia đối với Việt Nam trong việc bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm 47

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT RỪNG NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM TẠI VIỆT NAM 51

2.1 Thực trạng quy định pháp luật về quản lý động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam 51

2.1.1 Thực trạng quy định pháp luật về quản lý động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam 51 2.1.2 Thực trạng quy định pháp luật về gây nuôi động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam 56 2.1.3 Thực trạng quy định pháp luật về xuất, nhập khẩu động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam 59 2.1.4 Thực trạng quy định pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam 63

2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam 74

2.2.1 Thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam 74 2.2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về gây nuôi động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam 77 2.2.3 Thực trạng thực hiện pháp luật về xuất, nhập khẩu động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam 79 2.2.4 Thực trạng thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam 81

2.3 Đánh giá pháp luật bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam 85

2.3.1 Đánh giá quy định pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam 85 2.3.2 Đánh giá việc thực hiện pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam 86

Trang 7

2.3.3 Đánh giá việc thực hiện hợp tác quốc tế trong bảo vệ động vật rừng nguy

cấp, quý, hiếm 87

Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT RỪNG NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM TẠI VIỆT NAM 93

3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam 93

3.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam 94

3.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam 96

3.3.1 Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về quản lý động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm 96

3.3.2 Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về gây nuôi động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm 97

3.3.3 Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về xử lý vi phạm động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm 99

3.3.4 Giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật 104

KẾT LUẬN 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO 108 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 BLHS: Bộ luật Hình sự

2 BNN-PTNT: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

3 BTNMT: Bộ Tài nguyên và Môi trường

4 ĐDSH: Đa dạng sinh học

5 ĐVHD: Động vật hoang dã

6 ENV: Trung tâm giáo dục thiên nhiên

7 IUCN: Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế

8 NGO: Tổ chức phi chính phủ

9 UBND: Ủy ban nhân dân

10 USAID: Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ

11 WWF: Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

STT Số hiệu

2 Bảng 1.2 Số lượng tê giác ở Namibia và Châu Phi năm 2013 47

3 Bảng 2.1 Ước tính số lượng tê giác tại Vườn Quốc gia Cát Tiên 75

Trang 11

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

STT Số hiệu

biểu đồ

1 Biểu đồ 1.1 Tổng nguồn thu và những lợi ích tương đương từ việc

bảo tồn ĐVHD ở Namibia giai đoạn 1998 – 2014 45

2 Biểu đồ 1.2 Dân cư và những khu vực được cộng đồng bảo tồn

quản lý ở Namibia qua các năm

46

4 Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ dấu hiệu vi phạm về động vật hoang dã tại

một số thành phố lớn ở Việt Nam năm 2014 76

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Việt Nam là một trong những quốc gia giàu tài nguyên đa dạng sinh học nhất thế giới Với diện tích chỉ 331.698 km2

[83], chiếm chưa đến 1% diện tích trái đất, Việt Nam sở hữu hơn 10% số loài sinh vật được biết đến [61] Trong đó, các loài động vật rừng là một mắt xích quan trọng của nguồn tài nguyên đa dạng sinh học này

Mặc dù vậy, trong thời gian qua, những loài động vật rừng như hổ, tê giác, tê

tê … đang dần dần biến mất Việt Nam xếp hạng thứ 16 trong số 152 quốc gia được nghiên cứu về tỷ lệ của các loài ĐVHD có nguy cơ bị đe dọa cao nhất và nằm trong

15 nước có số loài thú bị đe dọa [81] Nguyên nhân chính là do nạn săn bắn, buôn bán, nuôi nhốt, tàng trữ, tiêu thụ bất hợp pháp động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, các bộ phận và dẫn xuất của chúng, và do nhu cầu tiêu dùng rất lớn các sản phẩm từ động vật ở nước ta

Đánh giá được tầm quan trọng của việc bảo vệ các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm đối với bảo tồn ĐDSH, Việt Nam đã thể hiện nhiều nỗ lực trong việc ngăn cấm, xử lý các hành vi vi phạm, và tăng cường thực thi pháp luật, trong đó phải kể đến việc xây dựng một hệ thống văn bản pháp luật khá đầy đủ để điều chỉnh như các quy định trong Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10, sửa đổi, bổ sung năm 2009; Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015; Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng năm 2004; Luật Đa dạng sinh học năm 2008; và hàng loạt các Nghị định, Thông tư quy định vấn đề quản lý và xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật rừng Ngoài ra, Việt Nam cũng tham gia vào các Công ước quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ, bảo tồn các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm, trong đó phải kể đến Công ước CITES (Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp) năm 1994, Công ước CBD (Công ước về Đa dạng sinh học) năm 1992…

Tuy nhiên, do lợi nhuận thu được từ kinh doanh động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm mang lại mà tội phạm về môi trường ngày càng gia tăng Trong khi đó,

hệ thống pháp luật và việc thực thi pháp luật tại Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều hạn

Trang 14

chế, chưa đem lại hiệu quả thực tiễn cao Do vậy, nhất thiết cần có sự phân tích, đánh giá, so sánh và điều chỉnh các quy phạm pháp luật hiện hành nhằm bảo vệ, bảo tồn các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam

Qua nghiên cứu lý luận đến thực tiễn vấn đề bảo vệ động vật rừng tại Việt

Nam nói riêng và trên thế giới nói chung, đề tài “Pháp luật về bảo vệ động vật rừng

nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam” sẽ cung cấp những cơ sở lý luận và thực tiễn,

học tập kinh nghiệm của các quốc gia khác, chỉ rõ nguyên nhân, lý giải những tồn tại, vướng mắc nhằm tìm ra những giải pháp giúp hoàn thiện pháp luật bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ở Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trên phương diện nghiên cứu nói chung và với phạm vi luận văn thạc sĩ luật học nói riêng, đến nay, đề tài là một lĩnh vực khá mới mẻ và chưa có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu khoa học đề cập tới

Liên quan đến lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã tại Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu như: Luận văn thạc sĩ Luật học của Bùi Thị Hà, Khoa Luật –

Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015: “Pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở

Việt Nam”; bài nghiên cứu “Những vướng mắc, bất cập từ quy định về định giá tài sản trong tố tụng hình sự” của ThS Lê Văn Sua đăng trên Tạp chí Cảnh sát nhân

dân thứ Hai, 27/04/2015 (GMT+7); bài nghiên cứu “Áp dụng thực thi pháp luật liên

quan đến các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm” của tác giả Trần Trọng

Anh Tuấn, Tạp chí Môi Trường số 7-2015; bài nghiên cứu “Nghiên cứu một số quy

định pháp luật về bảo vệ và phát triển thực vật, động vật hoang dã ở Việt Nam” của

Nguyễn Thanh Huyền, tạp chí Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, tháng 6/2011;

“Công tác phòng chống vi phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở nước ta và một số khó khăn, vướng mắc và giải pháp khắc phục” của Đặng Thu Hiền, tạp chí

Dân chủ và Pháp luật, số 5/2011; “Vướng mắc cần giải quyết trong việc áp dụng

Điều 190 Bộ luật Hình sự về tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm” của Nguyễn Duy Giảng, Tạp chí Kiểm sát, số 4/2009; bài nghiên cứu

“Một số vấn đề về pháp lý trong xử lý các tội phạm liên quan đến động vật hoang dã,

Trang 15

quý, hiếm” của Kiểm sát viên Trịnh Ngọc Chính đăng trên Viện Kiểm sát nhân dân

tỉnh Lạng Sơn, thứ Năm, 15/10/2015 09:14:53 (GMT+7)

Trong lĩnh vực bảo vệ Đa dạng sinh học, có thể kể tên một số công trình nghiên

cứu như: Luận văn thạc sĩ Luật học của Đặng Thị Thu Hải, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2006: “Pháp luật về bảo vệ Đa dạng sinh học ở Việt Nam”; Luận văn thạc sĩ Luật học của Lương Thị Huyền Trang, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014: “Pháp luật về

bảo tồn đa dạng sinh học và thực tiễn áp dụng tại Vườn quốc gia Pù Mát, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An” Ngoài ra còn có các bài viết như “Pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học, thực trạng và tồn tại trước khi có Luật Đa dạng sinh học” của TS Nguyễn

Văn Tài đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 133 năm 2008;

Có thể thấy, các công trình nghiên cứu trên đã phân tích về pháp luật bảo vệ động vật hoang dã và đa dạng sinh học, trong đó có một số vấn đề liên quan như định giá tài sản trong tố tụng hình sự liên quan đến động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm; phân tích việc thực thi pháp luật liên quan đến các loài động vật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm Các bài viết này chủ yếu tập trung vào pháp luật bảo vệ các loài động vật hoang dã, bảo tồn đa dạng sinh học và phân tích một trong những khía cạnh nằm trong lĩnh vực pháp luật bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Trên cơ sở kế thừa các kết quả từ những công trình nghiên cứu trên, người viết nhận thấy việc nghiên cứu một cách hệ thống các quy định của pháp luật và thực trạng pháp luật bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm là hết sức cần thiết

và có ý nghĩa trên thực tiễn

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam

Với đối tượng nghiên cứu trên, phạm vi nghiên cứu của đề tài về mặt nội dung bao gồm nghiên cứu những quy định của pháp luật về quản lý động vật rừng nguy cấp quý hiếm; gây nuôi động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; xuất, nhập khẩu động vật rừng nguy cấp, quý hiếm và xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại các văn bản luật và văn bản dưới luật, nghiên cứu thực

Trang 16

trạng thực hiện pháp luật hiện hành Luận văn cũng có đề cập đến kinh nghiệm quốc

tế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực này Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra đánh giá pháp luật và những khuyến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo

vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ở Việt Nam Về mặt thời gian, luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật và thực trạng pháp luật vào thời điểm thực hiện luận văn Luận văn tập trung nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam và chỉ khái quát kinh nghiệm của một số quốc gia trên quốc tế nhằm rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, hướng tới hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

4 Mục đích nghiên cứu

Luận văn được xây dựng nhằm mục đích làm rõ những vấn đề sau:

 Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm;

 Phân tích thực trạng pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

 Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam

Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài sẽ giải quyết những nhiệm vụ sau:

 Làm rõ những vấn đề lí luận của pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam

 Đánh giá thực trạng quy định của pháp luật và thực trạng thực hiện pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

 Đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình tiếp cận và giải quyết những vấn đề mà luận văn đặt ra, luận văn đã sử dụng phương pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác- Lênin, dựa trên đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách kinh tế- xã hội và các nội dung khác có liên quan Trong những trường hợp cụ thể, luận văn kết hợp sử

Trang 17

dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp như thống kê, so sánh, tổng hợp, phân tích…nhằm kết hợp nhuần nhuyễn giữa kiến thức lý luận và thực tiễn để góp phần làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu Trong đó, phương pháp phân tích để làm

rõ những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; phương pháp so sánh giữa pháp luật của Việt Nam với pháp luật quốc

tế về bảo vệ ĐVHD nói chung và các loài nguy cấp, quý, hiếm nói riêng, giữa nội tại các quy định trong hệ thống pháp luật Việt Nam để chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế của các quy định pháp luật hiện hành; phương pháp tổng hợp, thống kê các số liệu thực tế về thực trạng bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm của Việt Nam, thực trạng bảo vệ ĐVHD của một số quốc gia trên thế giới, cũng như thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật làm dẫn chứng minh họa cho luận văn

6 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Mặc dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến pháp luật bảo vệ động vật hoang dã hay bảo vệ đa dạng sinh học nhưng đề tài này không trùng lặp với những đề tài nghiên cứu trước đó vì đề tài tập trung nghiên cứu pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam Luận văn đã có những đóng góp cụ thể sau:

- Về tư liệu: Hệ thống hóa các tư liệu, tài liệu, văn bản pháp lý về hoạt động

bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam

- Về nội dung:

Thứ nhất, khái quát hóa các quy định pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy

cấp, quý, hiếm tại Việt Nam; đưa ra bức tranh toàn cảnh về pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này

Thứ hai, thông qua nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật hiện hành, luận văn

đối chiếu với thực trạng thực hiện pháp luật để phân tích, đánh giá, tìm ra những bất cập trong các quy định về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ở Việt Nam Luận văn cũng nghiên cứu, đối chiếu kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của một số quốc gia trên thế giới

Trang 18

Thứ ba, qua việc nghiên cứu về lý luận cũng như thực tiễn pháp luật, luận văn đề

xuất một số kiến nghị cho việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam hiện nay

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 3 chương như sau:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

- Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam

- Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam

Trang 19

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ

ĐỘNG VẬT RỪNG NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM

1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và bảo

vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

1.1.1 Khái niệm động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

Hiện nay, các văn bản pháp luật Việt Nam đưa ra nhiều khái niệm liên quan đến động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

Khoản 14 Điều 3 Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng năm 2004 định nghĩa: “Loài

động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm là loài động vật có giá trị đặc biệt về kinh tế,

khoa học và môi trường, số lượng còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng thuộc Danh mục các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm do Chính phủ

quy định chế độ quản lý, bảo vệ” [25, Điều 3] Định nghĩa này cũng được nhắc lại

tại Điều 2 Nghị định của Chính phủ số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006

về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm [5, Điều 2]

Qua định nghĩa trên về động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, có thể thấy bốn vấn đề như sau:

Một là sự phân bố môi trường sống của loài động vật rừng

Hai là tính quý, hiếm của loài động vật rừng thể hiện trong những đóng góp

quan trọng của loài đó đối với các lĩnh vực của cuộc sống

Ba là tính nguy cấp của loài thể hiện ở số lượng loài còn ít trong tự nhiên hoặc

có nguy cơ bị tuyệt chủng

Bốn là loài động vật đó phải được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp

luật hiện hành của Việt Nam, cụ thể là nằm trong Danh mục các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

Sau đây, chúng tôi sẽ phân tích các thành tố cấu thành nên khái niệm này như sau:

Thứ nhất, động vật rừng là các loài động vật có môi trường sống nằm trong

hệ sinh thái rừng Đây là một hệ sinh thái điển hình với tổng diện tích chiếm đến 1/3

Trang 20

diện tích đất liền của Trái đất, khoảng 40 triệu km2

[60] Với diện tích bao phủ lớn như vậy, rừng là môi trường sống lý tưởng cho sự phát triển đa dạng của các loài động vật và thực vật Khi xem xét khái niệm động vật rừng, cần phân biệt khái niệm này với một số thuật ngữ khác thường gặp như ĐVHD, động vật nuôi, động vật thủy sinh, và các loài chim di cư Theo Wikipedia Bách khoa toàn thư mở thì ĐVHD là các loài động vật sống trong tự nhiên ở khắp mọi nơi trên trái đất, trong các hệ sinh thái đa dạng như sa mạc, đồng bằng, rừng núi, đại dương… và chưa được thuần hóa [79] So với khái niệm động vật rừng, khái niệm ĐVHD có nội hàm rộng hơn, theo

đó ĐVHD bao hàm cả động vật rừng và nhiều loài động vật khác trong tự nhiên Trong khi đó, động vật nuôi, khác với hai khái niệm trên, được dùng để chỉ các loài động vật đã được con người thuần hóa vì mục đích hữu dụng hay thương mại

Cũng theo Wikipedia Bách khoa toàn thư mở, động vật thủy sinh bao gồm loài có xương sống và không xương sống sống chủ yếu dưới nước trong quãng đời của chúng [80] Còn từ điển biology-online định nghĩa, động vật thủy sinh là các loài động vật sống trong các môi trường nước khác nhau như đại dương, biển, sông, hồ, ao… [54] Mặc dù vậy, cần lưu ý rằng các loài thủy sinh sống ở các sông, suối nằm trong rừng vẫn được coi là động vật rừng Ví dụ: Cá cóc Tam Đảo, có danh pháp khoa học là

Paramesotriton deloustali, là một loài động vật lưỡng cư đặc hữu sống tại các khe suối

rậm rạp sâu trong rừng Tam Đảo, Việt Nam [22] Cá cóc Tam Đảo nằm trong Danh mục IIB – Danh mục các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thuộc Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Tương tự như vậy, các loài chim như bồ câu, yến, vẹt… có môi trường sống trong rừng vẫn được coi là động vật rừng, khác với các loài chim di cư Khi nhắc đến các loài chim di cư là nhắc đến tập tính di chuyển đều đặn theo mùa hàng năm của chúng, việc di cư nhằm mục đích đáp ứng sự thay đổi thức ăn, sinh cảnh hoặc thời tiết Thông thường sự di cư ở chim là sự di chuyển từ phía bắc xuống phía nam dọc theo đường bay giữa vùng sinh sản và vùng trú đông [72] Chúng không sinh sống tại một khu vực cố định, ngược lại chúng có thể bay liên tục trong rất nhiều ngày

để tìm nguồn thức ăn mới, hoặc theo tập quán sinh sản, hoặc tìm một nơi có điều kiện

Trang 21

khí hậu thích nghi với chu kỳ sinh trưởng của chúng, do môi trường sống đa dạng và

linh hoạt như vậy, chúng cũng không được xếp loại nhóm động vật rừng

Thứ hai, khái niệm “nguy cấp” được dùng để chỉ khả năng tuyệt chủng của

một loài trong tương lai Khái niệm này được đề cập đến trong Sách đỏ của IUCN

(International Union for Conservation of Nature and Naturajjl Resources) hay gọi tắt là Sách Đỏ IUCN (IUCN Red List of Threatened Species) – Danh sách về tình

trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vật trên thế giới Một loài bị coi là Nguy cấp khi nó phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao trong một tương lai rất gần nhưng kém hơn mức cực kỳ nguy cấp [46] Các yếu tố như số lượng cá thể còn lại trong tự nhiên, sự suy giảm quần thể theo thời gian, tỷ lệ sinh sản, khu phân bố của loài, các mối đe dọa từ bên ngoài sẽ được xem xét khi đánh giá tính nguy cấp của một loài

Thứ ba, các giá trị đặc biệt mà loài động vật rừng mang lại trong lĩnh vực kinh

tế, khoa học, môi trường được giải thích trong Điều 6 Nghị định của Chính phủ số 160/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ Cụ thể, một loài có giá trị đặc biệt về kinh tế khi loài đó mang lại nguồn lợi kinh tế cao khi được đem ra giao dịch trên thị trường Giá trị đặc biệt về khoa học được thể hiện ở chỗ loài đó mang nguồn gen quý, hiếm để bảo tồn và chọn tạo giống Còn giá trị đặc biệt về môi trường là khi loài đó giữ vai trò quyết định trong việc duy trì sự cân bằng sinh thái; hoặc có tính đại diện hay tính độc đáo của khu vực địa lý tự nhiên [9, Điều 6] Có thể thấy, yếu tố tính quý, hiếm và tính nguy cấp của loài có sự tác động qua lại lẫn nhau Loài động vật rừng mang trong mình những giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học, hay môi trường chắc chắn sẽ là đối tượng bị con người khai thác nhiều hơn trong

tự nhiên, dẫn đến khả năng tuyệt chủng cao hơn các loài thông thường khác Ngược lại, nếu loài đó có số lượng còn ít trong tự nhiên, đang phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng mà nguyên nhân không phải do sự tác động của con người mà là các thảm họa

từ tự nhiên gây ra thì loài đó cũng đương nhiên mang giá trị đặc biệt trong việc bảo

Trang 22

tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học và hệ sinh thái, do vậy, nếu đem ra giao dịch trên thị trường, cũng sẽ mang lại giá trị cao về kinh tế

Thứ tư, về danh mục động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm theo pháp luật Việt

Nam Hiện nay ở Việt Nam, Sách đỏ Việt Nam là tài liệu khoa học trong đó công bố danh sách các loài động vật và thực vật ở Việt Nam thuộc loại quý, hiếm, đang bị giảm sút số lượng, có nguy cơ tuyệt chủng hoặc đã tuyệt chủng trong tự nhiên Mặc

dù vậy, đây chỉ là tài liệu dùng để tra cứu, nâng cao nhận thức của người dân về đa dạng sinh học và mang tính tham khảo tạo căn cứ cho Nhà nước xây dựng các văn bản pháp luật liên quan đến tài nguyên sinh vật chứ không hề có hiệu lực pháp lý hay nói cách khác, không phải tất cả các loài động vật có tên trong Sách đỏ sẽ được pháp luật bảo vệ như một loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Theo quy định của pháp luật Việt Nam, các loài động vật được coi là động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nếu nằm trong Danh mục Động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được ban hành kèm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

Từ những phân tích trên, ta có thể hiểu: “Động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

là những loài động vật có môi trường sống nằm trong hệ sinh thái rừng, số lượng còn ít và đang phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng rất cao trong tự nhiên trong một tương lai rất gần, mang nguồn gen quý, hiếm để bảo tồn và chọn tạo giống; có khả năng sinh lợi cao khi được thương mại hóa; và có vai trò quyết định trong việc duy trì sự cân bằng của các loài khác trong quần xã; hoặc có tính đại diện hay tính độc đáo của khu vực địa lý tự nhiên, được pháp luật Việt Nam công nhận”

Cũng cần làm rõ khái niệm “động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm” với khái niệm

“loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” Luật đa dạng sinh học năm 2008 định nghĩa về “loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” như sau: Một là, các loài đó bao gồm: loài hoang dã, giống cây trồng, giống vật nuôi, vi sinh vật và nấm đặc hữu, Hai là,

có giá trị đặc biệt về khoa học, y tế, kinh tế, sinh thái, cảnh quan, môi trường hoặc văn hóa - lịch sử, Ba là, số lượng loài còn ít hoặc bị đe dọa tuyệt chủng [26, Điều 3] Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ được ban hành kèm theo Nghị

Trang 23

định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ Thuật ngữ

“được ưu tiên bảo vệ” trong khái niệm trên đã cho thấy đây là nhóm loài có chế độ bảo

vệ cao nhất trong pháp luật Việt Nam

So sánh khái niệm Loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và Động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm:

Bảng 1.1: Bảng so sánh Tiêu chí Loài nguy cấp, quý, hiếm đƣợc

ƣu tiên bảo vệ

Động vật rừng nguy cấp, quý,

hiếm Khái niệm Loài nguy cấp, quý, hiếm được

ưu tiên bảo vệ là loài hoang dã, giống cây trồng, giống vật nuôi,

vi sinh vật và nấm đặc hữu, có giá trị đặc biệt về khoa học, y tế, kinh tế, sinh thái, cảnh quan, môi trường hoặc văn hóa - lịch sử mà

số lượng còn ít hoặc bị đe dọa tuyệt chủng

Loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm là loài động vật có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học và môi trường, số lượng còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng thuộc Danh mục các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

do Chính phủ quy định chế độ quản lý, bảo vệ

Mức độ nguy cấp, số lượng còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng

Giá trị đặc

biệt

Có giá trị đặc biệt về một trong các lĩnh vực sau: khoa học, y tế, kinh tế, sinh thái, cảnh quan, môi trường hoặc văn hóa - lịch sử

Có giá trị đặc biệt về một trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học, và môi trường

Trang 24

Mức độ

bảo vệ

Được ưu tiên bảo vệ - mức độ bảo vệ cao nhất

Được bảo vệ ở mức độ thấp hơn

(Nguồn: Tổng hợp từ Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và Nghị định số

160/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 về tiêu chí xác định loài và chế độ

quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ)

Từ bảng 1.1, có thể thấy loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ có sự đa dạng cả về loài lẫn về môi trường phân bố, do vậy giá trị đặc biệt của loài cũng được

mở rộng ra nhiều lĩnh vực hơn so với động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Tuy nhiên, yếu tố tình trạng loài chưa được làm rõ giữa hai khái niệm Mặc dù Điều 5 Nghị định

số 160/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ có nêu ra tiêu chí xác định loài có số lượng cá thể còn ít hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng, nhưng các tiêu chí này lại được căn cứ theo tiêu chuẩn của Sách đỏ IUCN về tình trạng “nguy cấp” của loài, do đó, tiêu chí này cũng có thể được áp dụng cho nhóm động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Còn trong Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm lại không nêu rõ tiêu chí xác định loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm mà chỉ quy định trách nhiệm theo dõi diễn biến động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Theo đó, UBND các cấp sau khi theo dõi, thống kê, đánh giá và tổng hợp tình trạng động vật rừng thuộc địa phương sẽ báo cáo lên BNN-PTNT, BNN-PTNT phối hợp với BTNMT tổng hợp tình trạng của toàn quốc và lập nên Danh mục Động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Do không có tiêu chí phân loại cụ thể mà có rất nhiều loài động vật đồng thời nằm trong cả hai danh mục: Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ban hành kèm theo Nghị định số 160/2013/NĐ-CP và Danh mục các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được ban hành kèm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, gây khó khăn trong việc thực thi pháp luật

Ngoài ra, theo mức độ nguy cấp, còn có sự phân biệt giữa động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm với động vật rừng thông thường Tại Thông tư số 90/2008/TT-BNN

Trang 25

của BNN-PTNT: Hướng dẫn xử lý tang vật là động vật rừng sau khi xử lý tịch thu, Mục II Giải thích một số từ ngữ có nhắc đến khái niệm “động vật rừng thông thường” Theo đó, các nhà làm luật đã dùng phương pháp loại trừ để định nghĩa khái niệm động vật rừng thông thường, cụ thể: động vật rừng thông thường là các loài động vật không nằm trong Danh mục động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và các Phụ lục I, II của Công ước về Buôn bán quốc tế các loài ĐVHD nguy cấp (sau đây viết tắt là Công ước CITES [1]

1.1.2 Tiêu chí xác định động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam

Như đã phân tích ở trên, Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm

2006 của Chính phủ về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm không đưa ra tiêu chí xác định thế nào là động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Tuy nhiên, dựa trên khái niệm động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, có thể hiểu một loài động vật để được xếp vào nhóm động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, cần phải thỏa mãn một số tiêu chí như sau:

Thứ nhất, môi trường sống của loài động vật thuộc hệ sinh thái rừng

Thứ hai, loài động vật rừng đang nằm trong tình trạng nguy cấp Dựa theo

tiêu chuẩn của sách đỏ IUCN thì: Một taxon được coi là nguy cấp khi chưa phải là rất nguy cấp nhưng đang đứng trước một nguy cơ rất lớn sẽ bị tuyệt chủng ngoài thiên nhiên trong một tương lai gần, được xác định bởi một tiêu chuẩn bất kỳ nào dưới đây:

Một là, suy giảm quần thể dưới bất kỳ dạng nào dưới đây dựa trên (và xác định

được) một trong những điểm như sau: quan sát trực tiếp; chỉ số về sự phong phú thích hợp đối với taxon đó; sự suy giảm nơi cư trú, khu phân bố và/hay chất lượng nơi sinh cư; mức độ khai thác hiện tại hoặc khả năng, tác động của các taxon di nhập, lai tạo, dịch bệnh, chất ô nhiễm, vật cạnh tranh hoặc ký sinh

- Suy giảm ít nhất 50%, theo quan sát, ước tính, suy đoán hoặc phỏng đoán

trong 10 năm cuối hoặc 3 thế hệ cuối (lấy khoảng thời gian nào dài nhất)

- Suy giảm ít nhất 50%, theo dự đoán hoặc phỏng đoán, sẽ xảy ra trong 10

năm tới hoặc 3 thế hệ tới (lấy khoảng thời gian nào dài nhất)

Trang 26

Hai là, khu phân bố ước tính dưới 5000 km2, hoặc nơi cư trú ước tính dưới 500km2, ngoài ra còn chỉ ra được ít nhất 2 trong các điểm dưới đây:

- Bị chia cắt nghiêm trọng hoặc chỉ tồn tại ở không quá 5 điểm

- Suy giảm liên tục, theo quan sát, suy đoán hoặc dự đoán, của một trong các

yếu tố sau: Khu phân bố, nơi cư trú, phạm vi hoặc chất lượng nơi sinh cư, số địa điểm tìm thấy hoặc số tiểu quần thể, số lượng cá thể trưởng thành

- Dao động cực lớn của một yếu tố bất kỳ nào dưới đây: Khu phân bố, nơi cư

trú, số địa điểm tìm thấy hoặc số tiểu quần thể, số lượng cá thể trưởng thành

Ba là, quần thể ước tính dưới 2500 cá thể trưởng thành và một trong các điểm

dưới đây:

- Suy giảm liên tục ước tính ít nhất 20% trong 5 năm cuối hoặc 2 thế hệ cuối

(lấy khoảng thời gian nào dài nhất) hoặc:

- Suy giảm liên tục, theo quan sát, dự đoán hoặc suy đoán về số lượng cá thể

trưởng thành và cấu trúc quần thể dưới một trong các dạng sau: Bị chia cắt nghiêm trọng (nghĩa là không một tiểu quần thể nào ước tính có trên 250 cá thể trưởng thành); tất cả các cá thể chỉ ở trong một tiểu quần thể duy nhất

Bốn là, quần thể ước tính chỉ dưới 250 cá thể trưởng thành

Năm là, phân tích định lượng cho thấy xác suất bị tuyệt chủng ngoài thiên nhiên ít

nhất là 20% trong 20 năm tới hoặc 5 thế hệ tới (lấy khoảng thời gian nào dài nhất) [46] Dựa trên các tiêu chuẩn của Sách đỏ IUCN trên, Nghị định số 160/2013/NĐ-

CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về Tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ cũng nêu ra tiêu chí xác định loài có số lượng cá thể còn ít hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng phù hợp với các điều kiện tự nhiên ở Việt Nam Các tiêu chí đó là [9, Điều 5]:

- Có sự suy giảm quần thể ít nhất 50% theo quan sát hoặc ước tính trong mười

năm gần nhất hoặc ba thế hệ cuối tính đến thời điểm đánh giá; hoặc được dự báo suy giảm ít nhất 50% trong 10 năm hoặc ba thế hệ tiếp theo tính từ thời điểm đánh giá;

Trang 27

- Nơi cư trú hoặc phân bố ước tính dưới 500 km2 và quần thể bị chia cắt nghiêm trọng hoặc suy giảm liên tục về khu vực phân bố, nơi cư trú;

- Quần thể loài ước tính dưới 2.500 cá thể trưởng thành thuộc một trong các

trường hợp: suy giảm liên tục theo quan sát hoặc ước tính số lượng cá thể từ 20% trở lên trong năm năm gần nhất hoặc hai thế hệ cuối tính đến thời điểm đánh giá; suy giảm liên tục số lượng cá thể trưởng thành, cấu trúc quần thể

có dạng bị chia cắt và không có tiểu quần thể nào ước tính có trên 250 cá thể trưởng thành hoặc chỉ có một tiểu quần thể duy nhất;

- Quần thể loài ước tính có dưới 250 cá thể trưởng thành;

- Xác suất bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên của loài từ 20% trở lên trong vòng 20

năm tiếp theo hoặc năm thế hệ tiếp theo tính từ thời điểm lập hồ sơ

Thứ ba, tính quý, hiếm của loài có mối quan hệ mật thiết với mức độ nguy cấp

của loài động vật rừng Tính quý, hiếm được xác định căn cứ theo quy định tại Điều

6 Nghị định của Chính phủ số 160/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ như đã được phân tích ở mục trên trên

1.1.3 Phân loại động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam

Theo Nghị định số 32/ 2006/ NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thì động vật rừng

nguy cấp, quy hiếm được phân thành 2 nhóm:

Nhóm 1: Nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại

Nhóm 2: Hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại

Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 32/ 2006/ NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 quy định về Tiêu chí phân loại động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm như sau [5, tr1]: Nhóm IB là các loài động vật rừng có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường hoặc

có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng cao; Nhóm IIB gồm những loài động vật rừng có giá trị về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng

Trang 28

Tuy nhiên, khi Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ về Tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ ra đời, có đến 69 loài động vật rừng trùng với Danh mục các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được ban hành kèm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 03 năm 2006 của Chính phủ về Quản

lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, do vậy, chế độ quản lý đối với

69 loài động vật này được áp dụng theo quy định tại Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013, tức là được áp dụng theo quy chế của loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ [9, Điều 19] Như vậy, trên thực tế, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được phân chia thành 3 nhóm: Nhóm được ưu tiên bảo vệ theo Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ về Tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, nhóm IB và nhóm IIB theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày

30 tháng 03 năm 2006 của Chính phủ về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

Ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, người ta không phân loại động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm như ở Việt Nam mà phân loại ĐVHD theo mức độ nguy cấp tương ứng với các tiêu chí của IUCN Theo tiêu chí đánh giá của IUCN cho Sách đỏ, các loài sinh vật thiên nhiên được xếp vào 9 bậc theo các tiêu chí về mức độ đe dọa tuyệt chủng như tốc độ suy thoái (rate of decline), kích thước quần thể (population size), phạm vi phân bố (area of geographic distribution), và mức độ phân tách quần thể và khu phân bố (degree of population and distribution fragmentation), cụ thể như sau [46]:

- Tuyệt chủng (Extinct, EX): Một loài bị coi là tuyệt chủng khi có những bằng

chứng chắc chắn rằng cá thể cuối cùng đã chết

- Tuyệt chủng trong tự nhiên (Extinct in the Wild, EW): Một loài bị coi là tuyệt

chủng trong tự nhiên khi các cuộc khảo sát kỹ lưỡng ở sinh cảnh đã biết và hoặc sinh cảnh dự đoán, vào những thời gian thích hợp (theo ngày, mùa, năm) xuyên suốt vùng phân bố lịch sử của loài đều không ghi nhận được cá

Trang 29

thể nào Các khảo sát nên vượt khung thời gian thích hợp cho vòng sống và dạng sống của đơn vị phân loại đó Các cá thể của loài này chỉ còn được tìm thấy với số lượng rất ít trong sinh cảnh nhân tạo và phụ thuộc hoàn toàn vào chăm sóc của con người

- Cực kỳ nguy cấp (Critically Endangered, CR): Một loài được coi là cực kỳ

nguy cấp khi nó phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao trong một tương lai rất gần, khi quần thể loài suy giảm đến 80% hoặc diện tích phân bố chỉ còn trên khoảng 100 km²

- Nguy cấp (Endangered, EN): Một loài bị coi là nguy cấp khi nó phải đối mặt

với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao trong một tương lai rất gần nhưng kém hơn mức cực kỳ nguy cấp

- Sắp nguy cấp (tiếng Anh: Vulnerable, viết tắt VU): Một loài bị đánh giá là sắp

nguy cấp khi nó không nằm trong 2 bậc CR và Nguy cấp (EN) nhưng phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên cao trong một tương lai không xa Quần thể của chúng bị suy giảm 20% hoặc diện tích phân bố chỉ còn khoảng 20000km²

- Sắp bị đe dọa (Near Threatened): Một loài bị đánh giá là sắp bị đe dọa khi nó

sắp phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên cao trong một tương lai không xa

- Ít quan tâm (Least Concern)

- Thiếu dữ liệu (Data Deficient)

- Không được đánh giá (Not Evaluated)

Có thể thấy, việc phân loại ĐVHD theo các tiêu chí của IUCN nêu trên giúp tạo lập một cơ chế đồng nhất để bảo vệ các loài ĐVHD, tránh sự chồng chéo về danh mục loài cũng như chồng chéo khi thực thi và áp dụng pháp luật

1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

Theo từ điển Tiếng Việt, từ “bảo vệ” có nghĩa: chống lại mọi sự hủy hoại, xâm phạm để giữ cho được nguyên vẹn Còn “bảo tồn” có nghĩa là gìn giữ (cái

Trang 30

mang ý nghĩa lịch sử thuộc tài sản chung), không để bị tổn thất, mất mát [23] Khoản 1 Điều 3 Luật ĐDSH số 20/2008/QH12 ngày 13 tháng 11 năm 2008 đã đưa

ra khái niệm về “bảo tồn ĐDSH” như sau: “Bảo tồn ĐDSH là việc bảo vệ sự phong

phú của các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, n t đ p độc đáo của tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các m u vật di truyền” [26, Điều 3] Từ điển Wikipedia Bách khoa toàn thư mở định nghĩa

“Bảo tồn loài hoang dã là hoạt động bảo vệ các loài thực vật, ĐVHD và môi trường sống của chúng Mục đích của việc bảo tồn loài hoang dã là để đảm bảo môi trường thiên nhiên cho thế hệ tương lai và giúp thế hệ tương lai nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc bảo vệ các loài hoang dã, các khu vực hoang dã đối với con người và các giống, loài khác” [79] Tuy nhiên, hiện nay trong các văn bản luật chưa có khái niệm về “bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm” mà chỉ nêu ra các quy định quản

lý hoạt động này Cụ thể, Điều 5 Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 03 năm

2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm quy định:

Một là, những khu rừng có động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm phân bố tập

trung thì được đưa vào xem xét thành lập khu rừng đặc dụng theo quy định của pháp luật Đối với động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm sinh sống ở ngoài các khu rừng đặc dụng phải được bảo vệ theo quy định của Nghị định này và quy định hiện hành của pháp luật

Hai là, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tiến hành hoạt động sản xuất, xây dựng

công trình, điều tra, thăm dò, nghiên cứu, tham quan, du lịch và các hoạt động khác trong khu rừng có động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm phải thực hiện các quy định tại Nghị định này và pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, pháp luật về bảo vệ môi trường

Ba là, nghiêm cấm những hành vi sau đây:

- Săn, bắn, bẫy, bắt, nuôi nhốt, giết mổ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm trái quy định tại Nghị định này và quy định hiện hành của pháp luật

Trang 31

- Vận chuyển, chế biến, quảng cáo, kinh doanh, sử dụng, tàng trữ, xuất khẩu, nhập khẩu động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm trái với quy định tại Nghị định này và quy định hiện hành của pháp luật [5, Điều 5]

Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

như sau: “Bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm là một hoạt động trong chuỗi các

hoạt động nhằm bảo tồn loài hoang dã, bảo tồn ĐDSH, có sự phối hợp của các chủ thể khác nhau, được thực hiện qua các công cụ, phương thức và hình thức khác nhau”

Do động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm là những loài động vật đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng rất cao trong tự nhiên nên việc bảo vệ động vật rừng nguy cấp quý, hiếm mang những đặc điểm như sau:

Thứ nhất, bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm phải được diễn ra một cách

nghiêm ngặt, thể hiện qua việc đảm bảo môi trường sống và điều kiện của loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; nghiêm cấm các hành vi gây tổn hại đến sự tồn tại và phát triển của những loài động vật này; khuyến khích, tăng cường phát triển hoạt động nghiên cứu, khảo sát, duy trì và phát triển nguồn gen động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; ban hành và hoàn thiện các quy định pháp luật cũng như tăng cường khả năng thực hiện và áp dụng pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm trên thực

tế Danh mục các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm cần liên tục được cập nhật cho phù hợp với điều kiện thực tế và được bảo vệ ở mức độ cao hơn so với các loài ĐVHD thông thường

Thứ hai, bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được diễn ra trên diện

rộng, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian Khi một loài động vật biến mất trong tự nhiên, cả chuỗi sinh học và hệ sinh thái sẽ có sự biến chuyển mạnh mẽ và

sự ảnh hưởng này không chỉ diễn ra trong phạm vi một khu vực, trong ranh giới một địa phương hay một quốc gia mà mang tính chất toàn cầu Do đó, việc bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm cũng phải được thực hiện trên diện rộng và không bị giới hạn về mặt không gian Khi nguy cơ cho các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ngày càng lớn thì hoạt động bảo vệ cần phải được diễn ra liên tục, đồng bộ, đòi hỏi những nỗ lực mạnh mẽ và kịp thời, không bị giới hạn về mặt thời gian

Trang 32

Thứ ba, các chủ thể tham gia bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm rất

đa dạng, từ cá nhân cho đến các tổ chức trong và ngoài nước, các tổ chức liên chính phủ, quốc gia, hiệp hội liên quốc gia Có sự liên kết, phối hợp chặt chẽ trong hoạt động bảo vệ cũng như chia sẻ trách nhiệm, được thực hiện dưới nhiều cấp độ khác nhau như cấp độ cá nhân; cấp độ cộng đồng; cấp độ địa phương, vùng; cấp độ quốc gia; cấp độ quốc tế [42]

Thứ tư, đây là một trong những chuỗi hành động để bảo vệ tăng trưởng xanh và

là yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển của các quốc gia nhằm gìn giữ, bảo tồn cho thế hệ tương lai những nguồn gen quý hiếm và cơ hội được sống trong môi trường sinh thái đa dạng, được thực hiện qua các phương thức, hình thức khác nhau

1.2.2 Các biện pháp bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

Một là, biện pháp t chức – chính trị

Chính trị được coi là một trong những biện pháp quan trọng của bảo vệ môi trường, bảo vệ ĐDSH nói chung và bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nói riêng Chính trị là mối quan hệ phát sinh giữa các giai cấp, các nhóm người trong xã hội nhằm thực hiện quyền lực chính trị Các biện pháp chính trị được thực hiện nhằm xây dựng hoặc củng cố quyền lực và ảnh hưởng chính trị Ở Việt Nam, các biện pháp chính trị được thể hiện ở việc Đảng Cộng sản Việt Nam đưa vấn đề bảo

vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm vào cương lĩnh, chiến lược hành động nhằm làm tăng thêm tính chất toàn diện, đúng đắn và khả thi của cương lĩnh, chiến lược

đó để trên cơ sở nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng trong xã hội

Hai là, biện pháp inh tế

Các biện pháp kinh tế được sử dụng khá hiệu quả trong các hoạt động quản lí

vi mô và vĩ mô đối với nền kinh tế Sử dụng biện pháp kinh tế là sử dụng đến những đòn bẩy lợi ích kinh tế Thực chất của phương pháp kinh tế trong bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm là việc dùng những lợi ích vật chất để kích thích chủ thể thực hiện những hoạt động có lợi, đồng thời phải chịu những thiệt hại về mặt kinh tế khi có những hành vi gây tổn thất đến việc bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Các biện pháp kinh tế này bao gồm: Thành lập các quỹ bảo vệ động vật rừng

Trang 33

nguy cấp, quý, hiếm; p dụng các ưu đãi về thuế đối với doanh nghiệp, những dự

án có các giải pháp tốt trong việc bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; Gắn hạn chế hoặc khuyến khích thương mại với việc bảo vệ môi trường…

Ba là, biện pháp hoa h c – c ng nghệ

Có thể kể đến một vài hình thức của việc áp dụng biện pháp khoa học – công nghệ trong lĩnh vực bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm như: áp dụng cơ sở vật chất vào việc quan trắc, điều tra, kiểm tra tình trạng các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; áp dụng công nghệ vào việc duy trì, bảo tồn nguồn gen quý, hiếm hay áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật trong việc cứu hộ, chăm sóc động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

độ và phạm vi khác nhau Điển hình là các hình thức sau: đưa giáo dục ý thức bảo vệ ĐVHD, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, bảo vệ ĐDSH vào chương trình học tập chính thức của các trường phổ thông, dạy nghề, cao đ ng và đại học; sử dụng rộng rãi các phương tiện truyền thông để giáo dục cộng đồng; tổ chức các hoạt động cụ thể như: Ngày tê tê thế giới, Ngày gấu thế giới…; tổ chức các diễn đàn và các cuộc điều tra xã hội

Trang 34

Năm là, biện pháp pháp lý

Khó có thể liệt kê hết các biện pháp mà các quốc gia đã thực hiện để bảo vệ

có hiệu quả nguồn tài nguyên ĐDSH này Tuy nhiên, khi nói đến bảo vệ môi trường, không thể không kể đến biện pháp pháp lý Pháp luật với tư cách là hệ thống các quy phạm điều chỉnh hành vi xử sự của con người có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

1.2.3 Tầm quan tr ng của việc bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm đối với bảo tồn đa dạng sinh h c

Theo Công ước về ĐDSH được đưa ra năm 1992 tại hội nghị Liên Hợp Quốc về môi trường và sự phát triển, ĐDSH được định nghĩa là toàn bộ sự phong phú của các thế giới sống và các tổ hợp sinh thái mà chúng là thành viên, bao gồm sự đa dạng bên trong và giữa các loài và sự đa dạng của các hệ sinh thái [19, Điều 2] Luật Đa dạng

sinh học năm 2008 định nghĩa: “ĐDSH là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ

sinh thái trong tự nhiên” [26, Điều 3] Tuy nhiên, sự phong phú này là có giới hạn, và con người cùng với những tác động của mình đến môi trường đang làm suy giảm nghiêm trọng tính phong phú của các tài nguyên sinh học Mỗi năm, dân số trên thế giới lại gia tăng, đi cùng với đó là các nhu cầu về tiêu dùng, sinh hoạt đang đòi hỏi ngày càng nhiều nguồn tài nguyên từ thiên nhiên Thực tế cho thấy con người khi khai thác tài nguyên sinh học đã không hề chú trọng đến việc sử dụng bền vững và tái đầu tư vào thiên nhiên, do vậy, đang có sự bất cân bằng giữa nhu cầu tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên của con người và khả năng đáp ứng của tự nhiên

Trong khi đó, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm là chuỗi mắt xích vô cùng quan trọng trong hệ sinh thái Trong môi trường, mỗi sinh vật thường ăn các loại thức ăn khác nhau, đến phiên chúng lại làm thức ăn cho nhiều nhóm sinh vật khác tạo thành một mạng lưới thức ăn rất phức tạp nhưng góp phần tạo nên sự ổn định của hệ sinh thái Khi một chuỗi mắt xích bị đứt, các nhà khoa học cho rằng toàn hệ thống sẽ tê liệt, gây tác động rất xấu đến môi trường và làm cho quá trình biến đổi khí hậu diễn ra nhanh và khốc liệt hơn [62]

Trang 35

Hiện nay, tốc độ tuyệt chủng của các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

đang diễn ra cực kỳ nhanh và các nhà nghiên cứu cho rằng trái đất đang bước vào giai đoạn tuyệt chủng hàng loạt lần thứ 6 khi mà cứ 20 phút lại có một loài động vật hay thực vật nào đó bị tuyệt chủng do sự khai thác của con người [50] Điều đáng nói là, từ khi bắt đầu sự sống cho đến nay, các đợt tuyệt chủng hàng loạt diễn ra chủ yếu do hậu quả của các thảm họa từ tự nhiên như sự va chạm của thiên thạch, núi lửa, động đất…, đồng thời theo quy luật tự nhiên, khi một loài biến mất thì sẽ có một loài mới được hình thành với tốc độ ngang bằng hoặc nhanh hơn tốc độ tuyệt chủng để thế giới tự nhiên luôn cân bằng và tiến hóa Tuy nhiên, trong vòng 50 năm trở lại đây, tốc độ biến mất của các loài đang diễn ra ở mức báo động, tốc độ tuyệt chủng đã tăng nhanh 40 lần so với thời cách mạng công nghiệp [50] Hệ quả của việc mất cân bằng sinh thái trầm trọng là điều không thể tránh khỏi nếu không có những biện pháp tích cực nhằm bảo tồn, bảo vệ các loài sinh vật, đặc biệt là các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm khỏi nguy cơ tuyệt chủng

1.3 Pháp luật bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

1.3.1 Khái niệm pháp luật bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

Pháp luật là hệ thống những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội pháp triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình [42] Trong đó, pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm là một lĩnh vực pháp luật bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

Dựa vào định nghĩa trên, có thể thấy các quan hệ xã hội phát sinh thuộc phạm

vi tác động của pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm phải gắn với việc bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Cụ thể, pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm điều chỉnh những nhóm quan hệ xã hội sau:

Thứ nhất, các quan hệ giữa một bên là cá nhân, tổ chức với một bên là Nhà

nước phát sinh từ hoạt động quản lý Nhà nước về động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Mối quan hệ này vừa có những đặc điểm của quan hệ pháp luật hành chính, vừa có

Trang 36

những đặc điểm của quan hệ pháp luật hình sự Đặc trưng của quan hệ pháp luật hành chính thể hiện ở việc xử phạt các vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; trong việc khiếu nại, tố cáo các hành vi của các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm Đặc trưng của quan hệ pháp luật hình sự thể hiện ở việc nhà nước sử dụng các biện pháp cưỡng chế để trừng phạt những đối tượng có hành vi vi phạm Nhìn chung, trong mối quan hệ này các chủ thể tham gia không bình đ ng về địa vị pháp lý và không thể thỏa thuận trong việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ hành chính mà được xác lập dựa trên các quy định của pháp luật

Thứ hai, quan hệ phát sinh giữa các cá nhân, tổ chức với nhau do thỏa thuận ý

chí của các bên Các chủ thể tham gia có sự bình đ ng với nhau về địa vị pháp lý, mỗi chủ thể đều đặt ra những mục đích với những động cơ nhất định trong mối quan hệ này Yếu tố chính định hướng hành vi chủ thể không phải là chế tài, hình phạt mà là các lợi ích của mỗi bên

Chủ thể của quan hệ pháp luật bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm rất

đa dạng Do động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm là một mắt xích quan trọng trong hệ sinh thái và hệ sinh thái là một hệ thống nhất không thể tách rời, không bị giới hạn bởi không gian, thời gian nên những chủ thể tham gia vào lĩnh vực này có thể nằm trong phạm vi một khu dân cư, một địa phương, hoặc nhiều địa phương, trong phạm

vi khu vực và quốc tế, có thể phát sinh giữa bất cứ chủ thể nào, không phụ thuộc vào cá nhân, hộ gia đình hay các tổ chức, pháp nhân, công quyền hay dân quyền, người trong nước hay người nước ngoài, quốc gia phát triển hay đang phát triển, giữa họ có hay không có quan hệ ngoại giao…

Chủ thể cá nhân là những con người cụ thể và đang sống, bao gồm: công dân, người nước ngoài và người không có quốc tịch

Chủ thể hộ gia đình có thể hiểu là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và cùng đóng góp công sức khi tham gia vào lĩnh vực được pháp luật về bảo

vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm điều chỉnh

Các tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật bảo vệ động rừng nguy cấp, quý, hiếm bao gồm các tổ chức nhà nước và các tổ chức phi nhà nước, gồm có: các cơ

Trang 37

quan nhà nước, nhà nước nói chung, các tổ chức kinh tế, các tổ chức liên quốc gia, và các tổ chức phi lợi nhuận Nhà nước là một chủ thể đặc biệt của quan hệ này trong việc hợp tác quốc tế đấu tranh phòng chống tội phạm xuyên quốc gia Các quốc gia bằng việc cùng nhau ký kết, gia nhập các điều ước song phương và đa phương thiết lập một cơ chế pháp lý quốc tế chung điều chỉnh lĩnh vực bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm giữa các nước ký kết, xây dựng những quy tắc chuẩn mực cho pháp luật của các nước thành viên Còn các cơ quan nhà nước với tư cách là các pháp nhân công quyền, thay mặt nhà nước tham gia quản lý bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Các tổ chức kinh tế bao gồm các tổ chức kinh tế Việt Nam và các tổ chức kinh tế quốc tế như doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh; Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã được thành lập theo Luật hợp tác xã; các tổ chức kinh tế thành lập theo luật đầu tư khi tham gia vào lĩnh vực này có thể đóng các vai trò như tham gia vào hoạt động bảo tồn, bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; khai thác, sử dụng động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; hoặc là bên

vi phạm đối với hoạt động bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Tổ chức liên quốc gia là một tổ chức bao gồm chủ yếu là các quốc gia có chủ quyền (các nước thành viên) hay các tổ chức liên chính phủ khác, được thành lập dựa trên các hiệp định (đóng vai trò hiến chương) hình thành khi các các nước thành viên thông qua quá trình phê chuẩn hiệp định Cuối cùng, không thể không nhắc đến sự tham gia của chủ thể là các tổ chức phi lợi nhuận Các tổ chức phi lợi nhuận, có thể thiết lập dưới hình thức các hợp tác xã tiêu dùng, hoặc dưới hình thức các tổ chức (hiệp hội) công hoặc tổ chức (hiệp hội) tôn giáo, dưới hình thức các thiết chế từ thiện và các quỹ khác, và cũng như các hình thức khác do pháp luật quy định Các tổ chức phi lợi nhuận chỉ tham gia các hoạt động kinh doanh tới mức độ giúp các tổ chức này đạt được mục đích hoạt động của mình, dưới tên gọi mà theo đó tổ chức đó được thành lập, và dưới hình thức phù hợp với mục đích hoạt động của tổ chức Trong thời gian qua, các tổ chức phi lợi nhuận trong và ngoài nước đã hợp tác với chính phủ trong các chương trình bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên động

Trang 38

vật rừng nguy cấp, quý, hiếm của Việt Nam qua việc tài trợ và thực hiện các chương trình hoạt động tại các địa phương trên khắp cả nước

Sự phát triển của pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm gắn liền với sự phát triển của pháp luật về môi trường, về từng yếu tố môi trường và pháp luật về ĐDSH Do vậy, những nguyên tắc của pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm cũng hài hòa với những nguyên tắc của pháp luật bảo vệ môi trường và ĐDSH, cụ thể như sau:

Một là, nguyên tắc đảm bảo quyền con người được sống trong môi trường an

toàn, hài hòa với thiên nhiên Theo nguyên tắc này thì các quy phạm pháp luật và chính sách của Nhà nước phải ưu tiên hàng đầu việc đảm bảo điều kiện sống của con người trong tự nhiên cũng như đảm bảo các tiêu chuẩn của môi trường

Hai là, nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất trong quản lý và bảo vệ động vật

rừng nguy cấp, quý, hiếm, thể hiện ở việc các chính sách, quy định pháp luật được ban hành đồng bộ, mang tính thực tiễn cao, hướng tới tính hiệu quả của công tác thực thi và áp dụng pháp luật

Ba là, nguyên tắc coi trọng tính phòng ngừa Điều này xuất phát từ đặc trưng

trong lĩnh vực bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, đó là khả năng khôi phục hiện trạng là không thể thực hiện được, hoặc rất khó khăn, tốn kém và mất nhiều thời gian Một loài động vật đã bị tuyệt chủng khỏi tự nhiên thì không có cách nào khôi phục lại sự tồn tại của loài động vật đó Do vậy, việc ban hành và áp dụng các quy định pháp luật chú trọng vào việc phòng ngừa, ngăn chặn chủ thể thực hiện các hành vi vi phạm hơn là áp dụng các hình phạt hoặc chế tài khác

Bốn là, nguyên tắc đảm bảo sự phát triển bền vững Theo báo cáo Brundtland

của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới – WCED, phát triển bền vững được

định nghĩa là “sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không

ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”

[82] Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất trong hệ thống pháp luật quốc tế về ĐDSH nói chung và về bảo vệ ĐVHD, trong đó có các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nói riêng Theo đó, bảo tồn động vật rừng nguy cấp, quý,

Trang 39

hiếm là trách nhiệm của Nhà nước và mọi tổ chức, cá nhân; kết hợp hài hòa giữa khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ; giữa bảo tồn, khai thác, sử dụng hợp lý với việc xóa đói, giảm nghèo; bảo tồn tại chỗ là chính, kết hợp bảo tồn tại chỗ với bảo tồn chuyển chỗ; tổ chức, cá nhân hưởng lợi từ việc khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm phải chia sẻ lợi ích với các bên có liên quan; bảo đảm hài hoà giữa lợi ích của Nhà nước với lợi ích của tổ chức, cá nhân Đây được coi là khung pháp lý chung, những quy tắc có tác dụng định hướng và chỉ đạo cho toàn bộ các quy phạm pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

1.3.2 Sự cần thiết phải bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm bằng pháp luật

Pháp luật đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ ĐDSH nói chung và bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nói riêng Sự suy giảm số lượng các loài động vật rừng trong tự nhiên có nguyên nhân chủ yếu là do tác động của con người Trong quá trình khai thác các yếu tố của môi trường, con người đã làm mất đi sự cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của các loài động thực vật; đồng thời nạn săn bắn, buôn bán, tiêu thụ động vật quý hiếm cũng đặt những loài này đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cao Vì vậy, muốn bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, điều quan trọng nhất là phải tác động đến con người Pháp luật với tư cách là hệ thống các quy phạm điều chỉnh hành vi xử sự của con người là công cụ sắc bén trong việc bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

Thứ nhất, pháp luật quy định các quy tắc xử sự mà con người phải thực hiện

khi khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên Trong quá trình khai thác các yếu tố

tự nhiên, con người làm biến đổi rất nhiều hiện trạng của môi trường theo chiều hướng làm suy thoái, khiến môi trường sinh cảnh của các loài động vật trong tự nhiên thay đổi Đồng thời, con người có xu hướng khai thác cạn kiệt các nguồn tài nguyên này nhằm phục vụ lợi ích cho bản thân Do đó, việc khai thác định hướng bền vững

có tác dụng rất lớn trong bảo vệ môi trường sống của các loài ĐVHD cũng như bảo tồn loài, bảo tồn ĐDSH Pháp luật với tư cách là công cụ điều tiết các hành vi của các thành viên trong xã hội đưa ra các quy định giúp định hướng việc sử dụng, khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó có khai thác nguồn tài nguyên động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm mà không làm suy giảm ĐDSH

Trang 40

Thứ hai, pháp luật quy định các chế tài hình sự, kinh tế, hành chính để buộc

các cá nhân, tổ chức phải thực hiện đầy đủ các đòi hỏi của pháp luật trong việc khai thác và sử dụng các yếu tố của môi trường Việc đưa ra các tiêu chuẩn để định hướng hành vi khai thác và sử dụng các yếu tố tự nhiên có ý nghĩa rất quan trọng nhưng không phải trong mọi tình huống các tiêu chuẩn này được con người tự giác tuân thủ và chấp hành Sự vi phạm xảy ra khi có sự mâu thuẫn giữa nhu cầu cuộc sống của một số lượng nhỏ người trong cộng đồng và yêu cầu bảo vệ, bảo tồn ĐDSH vì mục đích chung

Bằng các chế tài hình sự, hành chính, dân sự, pháp luật tác động tới những hành vi vi phạm này bằng cách hoặc cách ly những kẻ vi phạm nguy hiểm khỏi xã hội hoặc áp dụng những hậu quả vật chất, tinh thần đối với họ Có thể nói, các chế tài xử lý vi phạm được sử dụng trong lĩnh vực bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm vừa có tác dụng ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật vừa có tác dụng giáo dục công dân nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật

Thứ ba, thông qua công cụ pháp luật, Nhà nước quy định chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn của các cơ quan chức năng và các tổ chức bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Các cơ quan, tổ chức này thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trong phạm vi quyền hạn, chức năng của mình, thực hiện quyền kiểm tra, giám sát,

xử lý vi phạm theo quy định pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Đồng thời, pháp luật cũng có tác dụng rất lớn trong việc tạo ra cơ chế hoạt động hiệu quả của các các cơ quan chức năng và các tổ chức này

Thứ tư, pháp luật là cơ sở pháp lý cho việc áp dụng, thực hiện, thanh tra, kiểm tra,

giám sát, và xử lý các vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

1.3.3 Các yếu tố tác động đến pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và tiêu chí đánh giá hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

Thứ nhất, các yếu tố tác động đến pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm bao gồm:

Một là, yếu tố kinh tế Yếu tố kinh tế bao gồm tổng thể các điều kiện, hoàn

cảnh về kinh tế- xã hội, hệ thống các chính sách xã hội và việc triển khai thực hiện,

áp dụng chúng trong thực tế xã hội Nền kinh tế- xã hội phát triển năng động, bền

Ngày đăng: 19/10/2017, 21:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2008), Thông tư số 90/2008/TT- BNN ngày 28/08/2008 hướng d n xử lý tang vật là động vật rừng sau khi xử lý tịch thu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 90/2008/TT- BNN ngày 28/08/2008 hướng d n xử lý tang vật là động vật rừng sau khi xử lý tịch thu
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2008
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2014), Quyết định số 3322/QĐ- BNN-TCLN ngày 28 tháng 07 năm 2014 về công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 3322/QĐ- BNN-TCLN ngày 28 tháng 07 năm 2014 về công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2013
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2014
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2015), “Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2011 – 2015”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2011 – 2015
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2015
5. Chính phủ (2006), Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
6. Chính phủ (2006), Nghị định số 82/2006/NĐ-CP ngày 10/08/2006 về quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 82/2006/NĐ-CP ngày 10/08/2006 về quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
7. Chính phủ (2011), Nghị định số 98/2011/NĐ-CP ngày 26 tháng 10 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định về nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 98/2011/NĐ-CP ngày 26 tháng 10 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định về nông nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
8. Chính phủ (2013), Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
9. Chính phủ (2013), Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
10. Chính phủ (2013), Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
13. Cục bảo tồn đa dạng sinh học (2015), Bản tóm lược chính sách về kiểm soát buôn bán, tiêu thụ động vật hoang dã tại Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tóm lược chính sách về kiểm soát buôn bán, tiêu thụ động vật hoang dã tại Việt Nam
Tác giả: Cục bảo tồn đa dạng sinh học
Năm: 2015
14. GS. TSKH Đặng Huy Huỳnh (2014), Cần kiểm soát chặt chẽ việc gây nuôi động vật hoang dã tại Việt Nam, Tạp chí Môi trường, số 12/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần kiểm soát chặt chẽ việc gây nuôi động vật hoang dã tại Việt Nam
Tác giả: Đặng Huy Huỳnh
Nhà XB: Tạp chí Môi trường
Năm: 2014
15. Hoàng Thị Thanh Nhàn, Trần Kim Tĩnh, Phạm Việt Hùng (2015), Thực trạng quản lý khu bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam, Cục Bảo tồn Đa dạng sinh học – Tổng cục Môi trường, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý khu bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam
Tác giả: Hoàng Thị Thanh Nhàn, Trần Kim Tĩnh, Phạm Việt Hùng
Năm: 2015
16. Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã và Cục kiểm lâm Việt Nam (2008), Trang trại nuôi nhốt động vật hoang dã ở Việt Nam: Vấn nạn hay giải pháp cho bảo tồn?, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang trại nuôi nhốt động vật hoang dã ở Việt Nam: Vấn nạn hay giải pháp cho bảo tồn
Tác giả: Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã, Cục kiểm lâm Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2008
17. Kiểm sát viên Trịnh Ngọc Chính (2015), “Một số vấn đề về pháp lý trong xử lý các tội phạm liên quan đến động vật hoang dã, quý, hiếm”, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn, thứ Năm, 15/10/2015 09:14:53 (GMT+7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về pháp lý trong xử lý các tội phạm liên quan đến động vật hoang dã, quý, hiếm
Tác giả: Trịnh Ngọc Chính
Nhà XB: Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn
Năm: 2015
18. Liên Hợp Quốc (1973), Công ước về Buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước về Buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES)
Tác giả: Liên Hợp Quốc
Năm: 1973
19. Liên Hợp Quốc (1992), Công ước về Đa dạng sinh học (CBD) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước về Đa dạng sinh học (CBD)
Tác giả: Liên Hợp Quốc
Năm: 1992
20. Nguyễn Duy Giảng (2009),“Vướng mắc cần giải quyết trong việc áp dụng Điều 190 Bộ luật Hình sự về tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm”, Tạp chí Kiểm sát, số 4/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vướng mắc cần giải quyết trong việc áp dụng Điều 190 Bộ luật Hình sự về tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm”
Tác giả: Nguyễn Duy Giảng
Năm: 2009
21. Nguyễn Hải Vân, Nguyễn Việt Dũng (2015), Chồng lấn quyền sử dụng đất: Thách thức cho quy hoạch và quản lý rừng đặc dụng ở Việt Nam, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chồng lấn quyền sử dụng đất: Thách thức cho quy hoạch và quản lý rừng đặc dụng ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hải Vân, Nguyễn Việt Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức
Năm: 2015
22. Nhà xuất bản khoa học tự nhiên và công nghệ (2007), Sách đỏ Việt Nam – Phần 1: Động vật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách đỏ Việt Nam – Phần 1: Động vật
Tác giả: Nhà xuất bản khoa học tự nhiên và công nghệ
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học tự nhiên và công nghệ (2007)
Năm: 2007
67. thiennhien.org/tin-hoat-dong/1452-hoi-nghi-cac-nuoc-thanh-vien-cites-17-thanh-cong-va-nhung-thach-thuc Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Số lƣợng tê giác ở Namibia và Châu Phi năm 2013 - Pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại việt nam
Bảng 1.2 Số lƣợng tê giác ở Namibia và Châu Phi năm 2013 (Trang 59)
Bảng 2.2: Số lượng hổ ở một số nước - Pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại việt nam
Bảng 2.2 Số lượng hổ ở một số nước (Trang 91)
Bảng 2.3. Xuất nhập khẩu hợp pháp một số ĐVHD chủ yếu - Pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại việt nam
Bảng 2.3. Xuất nhập khẩu hợp pháp một số ĐVHD chủ yếu (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w