Vấn đề TNHS pháp nhân trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 19 2013; Hoàn thiện quy phạm về trách nhiệm hình sự -
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -o0o -
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những kết quả được trình bày trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy
và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và thanh toán tất cả các nghĩa
vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật - Đại học Quốc Gia Hà Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phạm Ngọc Hòa
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẪN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰTRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 9
1.1 Khái niệm Trách nhiệm hình sự và khái niệm Quyền con người 9
1.1.1 Khái niệm, vai trò và ý nghĩa của chế định trách nhiệm hình sự trong luật hình sự 9
1.1.2 Quyền con người và các cơ chế pháp lý bảo vệ quyền con người 14
1.2 Mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và quyền con người 23
1.2.1 Vị trí của chế định trách nhiệm hình sự trong bảo vệ quyền con người 23
1.2.2 Vai trò của chế định trách nhiệm hình sự trong bảo vệ quyền con người 23
1.2.3 Ý nghĩa của chế định trách nhiệm hình sự trong bảo vệ quyền con người 26
1.2.4 Đặc điểm của việc bảo vệ quyền con người bằng quy định về trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam 29
Kết luận chương 1 33
CHƯƠNG 2: BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 35
2.1 Sự thể hiện nội dung bảo vệ quyền con người bằng quy định về cơ sở của TNHS 35
2.2 Sự thể hiện nội dung bảo vệ quyền con người bằng quy định về tuổi chịu TNHS 50
2.3 Sự thể hiện nội dung bảo vệ quyền con người bằng quy định về tình trạng không có năng lực TNHS 61
2.4 Sự thể hiện nội dung bảo vệ quyền con người bằng quy định về thời hiệu truy cứu TNHS 65
Trang 52.5 Sự thể hiện nội dung bảo vệ quyền con người bằng các quy định về trách
nhiệm hình sự trong phần các tội phạm 72
Kết luận chương 2 76
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC ÁP DỤNG NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀO CÔNG TÁC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI 78
3.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng quy định pháp luật hình sự về trách nhiệm hình sự góp phần bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay 78
3.2 Những đề xuất nhằm tiếp tục hoàn thiện quy định một số quy phạm cụ thể trong Bộ luật hình sự 81
3.2.1 Hoàn thiện nội dung về cơ sở của trách nhiệm hình sự 82
3.2.2 Hoàn thiện nội dung về thời hiệu truy cứu TNHS 85
3.2.3 Hoàn thiện nội dung về tuổi chịu TNHS 89
Kết luận chương 3 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PLHS Pháp luật hình sự TNHS Trách nhiệm hình sự TAND Tòa án nhân dân CAND Công an nhân dân VKSND Viện kiểm sát nhân dân NXB Nhà xuất bản
C44 Văn phòng cơ quan cảnh sát điều tra C64 Cục Cảnh sát quản lý hành chính trật tự xã hội A92 Cục An ninh điều tra
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thống kê số vụ án do cơ quan điều tra trong công an nhân dân
tiến hành từ 2010-2015 Báo cáo của V11- Bộ công an
Trang 8MỞ ĐẦU
1, Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Quyền con người là những giá trị cao quý, là tinh hoa của nền văn minh nhân loại Đó tiếng nói chung, là phương tiện chung của tất cả các dân tộc trên thế giới nhằm hướng đến mục tiêu cuối cùng: thúc đẩy và bảo vệ phẩm giá cũng như hạnh phúc của mọi con người Kể từ sau chiến tranh thế giới lần hai, quyền con người và những đảm bảo pháp lý về quyền con người ngày càng được đề cao và phát triển thành một hệ thống với những tiêu chuẩn quốc tế, mang tính bắt buộc đối với mọi quốc gia Như vậy, cùng với sự biến chuyển của thời cuộc, tôn trọng và bảo vệ các quyền con người đã dần trở thành thước đo cơ bản cho trình độ văn minh của các nước, các dân tộc trên toàn cầu
Không nằm ngoài xu thế ấy, trong quá trình phát triển, hội nhập sâu rộng với các quốc gia trên thế giới, Việt Nam đã cho thấy những nỗ lực không ngừng của mình trong việc khẳng định và thúc đẩy quyền con người Thực tiễn lịch sử dân tộc
ta chỉ ra rằng, việc nghiên cứu quyền con người và những cơ chế bảo vệ quyền con người không hề mâu thuẫn với lý tưởng cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam Bởi, cuộc cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc do Đảng cộng sản Việt Nam tiến hành dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh không có mục đích gì hơn là giành lại và giữ gìn, phát triển quyền con người cho toàn thể dân tộc cũng như mỗi
cá nhân người Việt Nam Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước được phản ánh nhất quán từ tư tưởng chính sách đến những nguyên tắc phổ quát và từng quy định pháp luật cụ thể trên tất cả các lĩnh vực từ trước đến nay
Trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay, việc xây dựng được một hệ thống pháp luật đầy đủ và áp dụng được chúng một cách chính xác, linh hoạt sẽ góp phần quan trọng trong việc đảm bảo những quyền và tự do cơ bản của con người Trong đó, không thể không kể đến pháp luật hình sự với tư cách
là một công cụ hữu hiệu trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm; nâng cao nhận thức pháp luật và ý thức pháp lý; từng bước tiến tới hạn chế đến mức thấp
Trang 9nhất những ảnh hưởng của tội phạm gây ra Từ đó, nâng cao pháp chế, giữ gìn trật
tự pháp luật, duy trì kỷ cương xã hội, bảo vệ và bảo đảm quyền con người
Để đạt được mục tiêu này, việc xây dựng hoàn thiện và áp dụng chính xác pháp luật hình sự được đặt ra như là một trong những yêu cầu cấp thiết của việc khẳng định và bảo vệ quyền con người Qua thực tiễn nghiên cứu cũng như thi hành
Bộ luật hình sự, mặc dù đã đạt được những thành tựu mang ý nghĩa tích cực trong công tác phòng, chống tội phạm và bảo vệ quyền con người, tuy nhiên thực tế đã chỉ ra nhiều vướng mắc, thiếu sót cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện Đặc biệt, chúng ta có thể đề cập đến chế định trách nhiệm hình sự như là một trong ba chế định quan trọng nhất bên cạnh tội phạm và hình phạt Cụ thể, qua công tác nghiên cứu lý luận luật hình sự cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy, quy định pháp luật hình sự nước ta còn thiếu quy định hoặc quy định chưa rõ về nhiều vấn
đề liên qua đến chế định vừa đề cập ở trên như: khái niệm về trách nhiệm hình sự,
cơ sở của trách nhiệm hình sự, tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, quy định về trách nhiệm hình sự pháp nhân Thêm vào đó, công tác giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự trong thời gian qua chưa được quan tâm đúng mức nên một số quy phạm pháp luật hình sự, trong đó có các quy phạm của chế định trách nhiệm hình sự, còn có những nhận thức không thống nhất, gây khó khăn cho việc vận dụng pháp luật trong hoạt động thực tiễn
Vì vậy, xuất phát từ những nguyên nhân kể trên, ta thấy được việc nghiên
cứu cụ thể vấn đề: “Bảo vệ quyền con người bằng các quy định về trách nhiệm
hình sự trong Luật hình sự Việt Nam” là vô cùng cần thiết Công tác nghiên cứu
góp phần nâng cao hiệu quả công tác xây dựng pháp luật đặc biệt là trong lĩnh vực
tư pháp hình sự và cụ thể là trong chế định về trách nhiệm hình sự Từ đó, giúp cho các cơ quan bảo vệ pháp luật có cơ sở để tăng cường tính hiệu lực, hiệu qua trong thực tế công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ quyền con người trong tình hình hiện nay
Trang 102 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu khoa học về vấn đề bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình
sự nói chung, trong đó có đề cập đến một số nội dung bảo vệ quyền con người thông qua các quy định về TNHS là vấn đề quan trọng và cần thiết Với vị trí đặc biệt ấy, vấn đề này cần được xem xét một cách tổng thể, với sự tham khảo có chọn lọc nhiều quan điểm, công trình nghiên cứu của các tác giả, với nhiều góc nhìn khác nhau Khi nghiên cứu về vấn đề TNHS, ít nhiều các tác giả đã đề cập đến phần nào những nội dung liên quan đến quyền con người Bởi, trách nhiệm hình sự là vấn đề liên quan trực tiếp đến số phận pháp lý của một người Do đó, trong quá trình nghiên cứu, chúng ta không thể không đề cập đến những công trình nghiên cứu về trách nhiệm hình sự
Nhìn chung, trách nhiệm hình sự là một vấn đề khoa học phức tạp và nhận được sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học trong và ngoài nước Qua nghiên cứu những công trình khoa học vô cùng có giá trị của GS TSKS Lê Văn Cảm và
GS TSKH Đào Trí Úc, người viết được tiếp cận với nhiều công trình nghiên cứu về chế định này của các học giả của Liên Xô cũ, tiêu biểu trong số đó phải đề cập đến:
Trách nhiệm hình sự và cơ sở của trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Xô Viết
của Brainhin Ia M (năm 1963); Nhân thân người phạm tội và trách nhiệm hình sự của Leikina N X (năm 1968); Trách nhiệm hình sự và cấu thành tội phạm của Karpusin M P., Kurlianđxki V I ( năm 1974); Trách nhiệm hình sự và hình phạt của Bagri-Sakhmatov L V ( năm 1976); hay Những vấn đề lý luận của trách nhiệm
hình sự của Xantalov A I ( năm 1982)
Ở nước ta, hiện nay khi nghiên cứu về chế định trách nhiệm hình sự nói riêng
và bảo vệ quyền con người bằng các quy định về trách nhiệm hình sự nói riêng ít nhiều đã được đề cập đến tại các công trình đáng chú ý sau:
* Sách chuyên khảo, tham khảo và đề tài khoa học:
GS.TSKH Lê Văn Cảm, Hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng
Nhà nước pháp quyền, (Sách chuyên khảo) Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009;
GS.TSKH Lê Văn Cảm, Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (phần
Trang 11chung), (Sách chuyên khảo), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005; TS Trần Quang
Tiệp, Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam,
(Sách tham khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; GS.TSKH Lê Văn Cảm,
PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí, PGS.TS Trịnh Quốc Toản (đồng chủ trì), Bảo vệ các
quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Đại học Quốc gia Hà Nội, Mã số: QL 04.03, Hà Nội, 2006
* Cấp độ các bài viết, chúng ta có thể tham khảo một số ấn phẩm như:
GS.TSKH Lê Văn Cảm, Những vấn đề lý luận về bảo vệ các quyền con người
bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự, Tạp chí Tòa án nhân dân, các số: 11
(6/2006), 12 (6/2006), 13 (7/2006); 14 (7/2006); GS.TSKH Lê Văn Cảm, Bảo vệ
quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự - ý nghĩa của việc nghiên cứu, đăng
trên Tạp chí Khoa học, (Luật học), số 26 (2010); PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí, Bảo vệ
quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự, Tạp chí Khoa học, (Kinh tế - Luật),
số 23 (2007); Nguyễn Ngọc Chí - Trần Thu Hạnh Hoàn thiện chế định TNHS - Yếu
tố quan trọng để xây dựng Nhà nước Pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa Tạp
chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 18 ; Trịnh Quốc Toản Vấn đề TNHS pháp
nhân trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí
Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 19 (2013); Hoàn thiện quy phạm về trách
nhiệm hình sự - yếu tố cơ bản và quan trọng nhất trong việc bảo vệ con người bằng pháp luật hình sự ( Tạp chí Tòa án nhân dân các số 2,3,4 năm 1990); Đinh Thế Hưng, Bảo vệ quyền con người bằng các nguyên tắc chuyên biệt của Luật hình sự,
http://dinhthehung.files.wordpress.com, đăng ngày 17/3/2012
Những tài liệu nói trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau về việc bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự nói chung và bảo vệ quyền con người bằng các quy định về Trách nhiệm hình sự nói riêng Những công trình trên đã nêu lên những bình luận sắc sảo, giải quyết được phần nào những bức xúc về lý luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật đặt ra Tuy nhiên, qua công tác tham khảo cho thấy, vấn đề bảo vệ quyền con người thông qua các quy định của Bộ luật hình sự về trách
Trang 12nhiệm hình sự là một vấn đề có phạm vi nghiên cứu rộng, nội dung nghiên cứu vẫn còn là một đề tài tranh luận sôi nổi và chưa có sự đồng thuận từ các nhà khoa học
Với tình hình đó, đề tài “Bảo vệ quyền con người bằng các quy định về trách
nhiệm hình sự trong Luật hình sự Việt Nam” sẽ được nghiên cứu ở cấp độ luận
văn thạc sỹ một cách tương đối toàn diện, đảm bảo tính khoa học, logic và không trùng lặp với những công trình đã được công bố
3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn đúng như tên gọi
của nó - Bảo vệ các quyền con người bằng các quy định về TNHS trong luật hình sự Việt Nam Tuy nhiên, bảo vệ quyền con người bằng các quy định về TNHS là một đề tài vô cùng rộng lớn, cần phải nghiên cứu nhiều nội dung, từ nhiều khía cạnh khác nhau, mà chỉ một công trình ở cấp độ cao hơn mới có thể, thể hiện được đủ những đòi hỏi đó Còn ở cấp độ luận văn thạc sĩ này, với trình độ có hạn, tác giả chỉ dừng lại ở việc đề cập, nghiên cứu một cách tương đối có tính hệ thống một số nội dung mà theo tác giả cho là chủ yếu đối với vấn đề bảo vệ các quyền con người bằng các quy phạm về TNHS được quy định trong phần chung và một số quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999
* Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn là một số vấn đề lý
luận và một phần nhỏ những vấn đề về thực tiễn bảo vệ các quyền con người bằng các quy định về TNHS trong Phần chung và một số quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 Luận văn đi sâu nghiên cứu sự bảo vệ quyền con người thể hiện qua các quy định về trách nhiệm hình sự nói chung được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 và không đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề liên quan đến các yếu tố tăng nặng hay giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do đây là nội dung thuộc một chế định khác
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu: Làm rõ khái niệm, đặc điểm quyền cơ bản của con
người được bảo vệ thông qua các chế định về trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Đồng thời, người viết đi sâu phân tích tính nhân đạo của pháp luật hình
Trang 13sự Việt Nam được thể hiện thông qua các quy định này Trên cơ sở ấy, căn cứ vào
xu thế hội nhập, định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền và thực tiễn bảo vệ pháp luật ở nước ta để đưa ra những đề xuất, giải pháp bảo đảm thực hiện, góp phần hoàn thiện quy định về Trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam theo hướng bảo vệ quyền con người
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Về lý luận: Trên cơ sở những quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm
1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), có liên hệ với những quy định của Bộ luật hình
sự năm 2015 trong các quy định về trách nhiệm hình sự phân tích khái niệm, bản chất của các các quy định này để làm sáng tỏ ý nghĩa của sự bảo vệ quyền con người
- Về thực tiễn: Thông qua những ví dụ cụ thể, người viết đánh giá sự bảo vệ quyền con người bằng quy định về Trách nhiệm hình sự được ghi nhận trong Bộ luật hình sự năm 1999 ( sửa đổi, bổ sung năm 2009) Từ đó, đóng góp một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định về trách nhiệm hình sự theo hướng bảo
vệ quyền con người
5 Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở phương pháp luận:
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật, về đấu tranh phòng chống tội phạm, trên cơ sở chính sách hình sự của Nhà nước Việt Nam
* Về phương pháp nghiên cứu:
Luận văn được nghiên cứu dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Bên cạnh đó, khi thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp: Tổng hợp, phân tích, so sánh, lôgic, thống kê, tham khảo ý kiến các chuyên gia
về hình sự cũng như các cán bộ làm công tác thực tiễn
Trang 146 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
- Đã khái quát một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người bằng quy định về trách nhiệm hình sự trong các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam
- Có những phân tích, đánh giá ý nghĩa và hiệu lực của những quy định về TNHS trong công tác bảo vệ quyền con người
- Phân tích rõ nội dung bảo vệ quyền con người của từng chế định về lý luận cũng như thực tiễn
- Phân tích, đánh giá thực tiễn tình hình bảo vệ quyền con người bằng những quy định về TNHS trong Bộ luật hình sự năm 1999; thực tiễn áp dụng pháp luật và chỉ ra những khó khăn vướng mắc khi áp dụng pháp luật
- Đề xuất những giải pháp mang tính đồng bộ và toàn diện góp phần nâng
cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền con người bằng quy định về TNHS
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
* Ý nghĩa về mặt lý luận
Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, người viết đã phân tích và chỉ
ra một số nội dung bảo vệ các quyền con người bằng những quy phạm về TNHS trong Phần chung và một số điều trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, mà theo tác giả cho là chủ yếu, cơ bản và quan trọng nhất Đồng thời, đưa ra một số kiến nghị, nhằm khắc phục phần nào những hạn chế còn tồn tại trong những quy định của pháp luật thực định, hướng tới tăng cường bảo vệ các quyền con người
* Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Cùng với ý nghĩa về mặt lý luận, luận văn đã nghiên cứu, nhận ra một số tồn tại, trong hoạt động thực tiễn,xét về bình diện bảo vệ các quyền con người bằng các quy định về TNHS, đưa ra căn cứ và giải pháp nhằm khắc phục phần nào tồn tại và hạn chế, nâng cao hiệu quả trong việc bảo vệ các quyền con người Ngoài ra, luận văn còn có ý nghĩa trong hoạt động nghiên cứu khoa học đối với các luật gia, học viên, sinh viên chuyên ngành tư pháp hình sự, kể cả những người làm công tác thực tiễn trong lĩnh vực tư pháp - hình sự, như trong hoạt động tố tụng hình sự
Trang 158 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về bảo vệ quyền con người bằng quy định về
TNHS trong luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Bảo vệ quyền con người bằng quy định trong Bộ luật hình sự Việt
Nam
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả việc áp dụng những
quy định về trách nhiệm hình sự vào công tác bảo vệ quyền con người
Trang 16Chương 1: Những vấn đề chung về bảo vệ quyền con người bằng quy định về TNHS trong luật hình sự Việt Nam
1.1 Khái niệm Trách nhiệm hình sự và khái niệm Quyền con người
1.1.1 Khái niệm, vai trò và ý nghĩa của chế định trách nhiệm hình sự trong luật hình sự
Để hiểu rõ khái niệm trách nhiệm hình sự là gì, trước hết, ta cần định nghĩa được thế nào là trách nhiệm pháp lý Trách nhiệm là "điều phải làm, phải gánh vác hoặc nhận lấy về mình" [19, tr 1621] Trong lĩnh vực pháp lý, thuật ngữ trách nhiệm được hiểu theo một số cách như sau Thứ nhất, trách nhiệm là việc chủ thể phải thực hiện những nghĩa vụ pháp lý được xác lập trong phần quy định của các quy phạm pháp luật; hoặc đó là việc chủ thể phải thực hiện một yêu cầu của cơ quan, cá nhân
có thẩm quyền nhân danh Nhà nước buộc họ phải làm một công việc nào đó Thứ hai, trách nhiệm là việc chủ thể phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi được quy định trong phần chế tài của các quy phạm pháp luật khi họ thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hoặc khi có thiệt hại xảy ra do những nguyên nhân khác được pháp luật quy định Với cách hiểu như vậy, trách nhiệm pháp lý có mối quan hệ mật thiết với các hành vi vi phạm pháp luật Trách nhiệm pháp lý là một quan hệ đặc biệt giữa một bên là Nhà nước và bên còn lại là các chủ thể vi phạm pháp luật Trong mối quan hệ này, "Nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế có tính chất trừng phạt được quy định trong các chế tài của quy phạm pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật và chủ thể đó có nghĩa vụ gánh chịu hậu quả bất lợi do hành
vi của mình gây ra" [34] Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật, các mối quan hệ được các ngành luật tương ứng điều chỉnh cũng như tầm quan trọng của các khách thể được từng ngành luật điều chỉnh, chúng ta có các loại trách nhiệm pháp lý như sau: trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính và trách nhiệm pháp lý kỷ luật Trong phạm vi nội dung luận văn, người viết chỉ đề cập đến chế định "trách nhiệm hình sự"
Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà một người phải gánh chịu trước nhà nước do việc thực hiện hành vi phạm
Trang 17tội của mình Hành vi phạm tội có thể là các hành vi vi phạm những điều pháp luật hình sự cấm, hoặc không thực hiện những nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện; từ đó gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự ghi nhận và bảo vệ Nhà nước quy định TNHS để áp dụng đối với người phạm tội theo một thủ tục duy nhất là thủ tục tố tụng hình sự Việc áp dụng thủ tục này không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người phạm tội, hoặc ý muốn của người bị hại (trừ một số trường hợp đặc biệt được quy định tại những điều khoản mang tính chất loại trừ được ghi nhận riêng biệt và cụ thể) Trách nhiệm hình sự phát sinh từ khi có hành vi phạm tội, từ thời điểm đó Nhà nước có quyền yêu cầu người phạm tội phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình
Qua công tác tham khảo, nghiên cứu cho thấy, chế định trách nhiệm hình sự
là một vấn đề lý luận phức tạp "Hiện nay giữa các nhà khoa học còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau" [20, tr.41] Chúng ta có thể nêu ra ra một số quan điểm nổi bật như sau Theo GS.TSKH Đào Trí Úc định nghĩa: “TNHS là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành
vi của mình trước Nhà nước [20, tr 41]” GS.TSKH Lê Cảm khẳng định: “TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp chế của Nhà nước do Luật hình sự quy định [23, tr.122]” GS.TS Đỗ Ngọc Quang quan niệm: “TNHS là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội được quy định trong PLHS bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực hiện [28, tr.14]” Trong cuốn sách chuyên khảo "Tội phạm và trách nhiệm hình sự", TS Trịnh Tiến Việt coi trách nhiệm hình sự "là một dạng trách nhiệm pháp lý và là hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng một hay nhiều biện pháp cưỡng chế của nhà nước do Bộ luật hình sự quy định đối với người phạm tội" [35, tr 224] Trong cuốn từ điển giải thích thuật ngữ luật học (Phần luật hình sự), trách nhiệm hình sự được hiểu "là dạng trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình
Trang 18sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS ( hình phạt, biện pháp tư
là hậu quả pháp lý bất lợi, là hệ quả tất yếu của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định là tội phạm trong pháp luật hình sự Thứ ba, TNHS được xác lập bằng trình tự đặc biệt theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành buộc một người phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình đã gây ra Thứ tư, TNHS là trách nhiệm mà người phạm tội phải chịu trước Nhà nước chứ không phải với đối tượng bị hành vi phạm tội của người này xâm hại; vì vậy TNHS chỉ được giới hạn trong phạm vi quan hệ pháp luật hình sự giữa hai chủ thể vừa nêu trên Thứ năm, TNHS mang tính quyền lực nhà nước, theo đó, chỉ có Nhà nước mới có quyền buộc người phạm tội phải chịu TNHS thông qua bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật – việc phải chịu TNHS của một người là chịu trách nhiệm trước nhà nước, phản ánh sự phủ định của Nhà nước với các hành vi phạm tội, thể hiện sự lên án của cả cộng đồng xã hội chức người phạm tội không phải chịu trách nhiệm trước bất kỳ cá nhân, tổ chức nào
* Vai trò của chế định TNHS trong luật hình sự Việt Nam
Tội phạm và trách nhiệm hình sự là cặp phạm trù có mối quan hệ logic, biện chứng, là hai chế định trung tâm của pháp luật hình sự Việc xác định tội phạm và TNHS trong một ngành luật riêng biệt là sản phẩm tất yếu của quá trình vận động
xã hội Theo đó, sự tư hữu xuất hiện dẫn đến hệ quả xã hội bắt đầu phân chia giai cấp, từ đây, những hành vi nguy hại với tính chất, mức độ nguy hại cao, hậu quả để
Trang 19lại sâu rộng, ảnh hưởng lớn đến đời sống đã phát sinh mà những quy phạm đạo đức hay phong tục tập quán trước đây không còn đủ khả năng điều chỉnh Do đó, yêu cầu đặt ra là những hành vi ấy cần được điều chỉnh trong một hệ thống pháp luật với các phương thức xử lý nghiêm khắc hơn, nhằm tiến tới đẩy lùi sự vi phạm, thông qua đó hạn chế đến mức thấp nhất những hậu quả xấu do hành vi phạm tội đem lại Việc áp dụng chế tài pháp lý hình sự đối với các hành vi nêu trên trước hết
là sự lên án của Nhà nước với người phạm tội Nhà nước là đại diện của nhân dân, đại diện cho toàn xã hội, vì vậy, sự lên án của nhà nước đồng thời cũng là thái độ phản đối của cả cộng đồng, xã hội với những người phạm tội Một người thực hiện tội phạm có thể phải chịu TNHS thông qua việc thực thi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án với nội dung buộc họ phải chấp hành hình phạt hoặc các biện pháp tư pháp hình sự khác Tòa án là cơ quan đại diện thực thi quyền lực nhà nước buộc người phạm tội phải chịu những sự tác động nhất định về pháp lý hình
sự Tòa án đưa ra các quyết định, bản án xác định TNHS có hiệu lực pháp luật nhằm trừng trị những người phạm tội Sự trừng trị ấy không chỉ là biện pháp giáo dục đặc biệt giúp người phạm tội nhận ra sai lầm của mình, mà còn là biện pháp răn đe hiệu quả đối với những công dân khác trong xã hội Thông qua việc buộc những người phạm tội này phải chịu TNHS, Nhà nước hướng đến mục tiêu cuối cùng là hướng
họ trở lại làm người có ích cho xã hội, xây dựng cho họ ý thức tôn trọng pháp luật
và các quy tắc đời sống xã hội, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội sau khi đã bị trừng phạt Đây là mục tiêu cuối cùng, là kết quả mà mọi Nhà nước đều mong muốn đạt được khi tiến hành xử lý tội phạm và người phạm tội Điều đó cho thấy bản chất nhân đạo và tính hướng thiện của pháp luật hình sự hiện đại Trên cơ sở tổng hợp đầy đủ những căn cứ, điều kiện, Nhà nước xác định TNHS một cách công minh, công bằng sẽ là tiền đề vững chắc để giáo dục người phạm tội có thể trở lại với cuộc sống lương thiện Bên cạnh đó, đối tượng tác động của TNHS còn là tất cả các thành viên khác trong xã hội Nếu như TNHS tác động trực tiếp đến người phạm tội thì đối với những thành viên khác trong xã hội đó là sự tác động mang tính gián tiếp Sự tác động ấy là tác động vào tâm lý của các thành viên còn lại trong xã hội,
Trang 20đặc biệt là nhóm người đang có thái độ tâm lý chưa vững vàng, đang đứng trước nguy cơ trở thành người phạm tội Việc quy định và áp dụng trách nhiệm hình sự sẽ làm những đối tượng này thấy được hậu quả tất yếu mà mình phải gánh chịu khi thực hiện hành vi phạm tội Qua đó, làm cho những người này từ bỏ ý định phạm tội và lựa chọn cách xử sự phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh, tránh việc lựa chọn xử sự phạm tội Các quy định về trách nhiệm hình sự còn góp phần xây dựng một bộ khung cho những xử sự của con người trong đời sống, từng bước nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân, nâng cao tính tích cực của nhân dân trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm; góp phần từng bước tăng cường hơn nữa công tác bảo vệ quyền con người
* Ý nghĩa của việc ghi nhận chế định TNHS trong luật hình sự Việt Nam:
Với vị trí và vai trò quan trọng nêu trên chúng ta có thể thấy được ý nghĩa to lớn của chế định TNHS Chế định TNHS là một bộ phận quan trọng cấu thành nên pháp luật hình sự Chế định trách nhiệm hình sự ra đời dựa trên các quan điểm, chủ trương, đường lối của giai cấp cầm quyền phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội, truyền thống pháp lý và thực tiễn đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm ở mỗi quốc gia Thông qua đó, phản ánh sự lên án của Nhà nước và xã hội đối với các hành vi phạm tội, là sự phủ định lại những hành vi mang tính chất nguy hiểm xâm hại đến các khách thể được pháp luật hình sự xác lập và bảo vệ Nói cách khác, TNHS là một công cụ hữu hiệu góp phần bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội và mỗi công dân Chế định TNHS góp phần xác định chính xác hậu quả pháp lý của đối tượng phạm tội, đảm bảo công bằng, nhân đạo và đặc biệt là không để xảy ra tình trạng oan – sai trong quá trình tố tụng Qua đó cho thấy trước hết là sự quan tâm của Nhà nước đối với công tác đấu tranh, xử lý tội phạm và các vi phạm pháp luật khác Các quy định cụ thể về TNHS góp phần thể hiện hàng loạt các nguyên tắc của luật hình sự trong đó có những nội dung liên quan trực tiếp đến việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người Một mặt, xử lý nghiêm minh đúng pháp luật các hành vi vi phạm và người vi phạm Mặt khác, chế định góp phần hạn chế tối đa những sự xâm hại đến các quyền con người, quyền công dân gây ra bởi
Trang 21các cơ quan và người thực thi pháp luật Trách nhiệm hình sự cần được áp dụng đúng người, đúng tội, đúng mức độ vi phạm và theo trình tự tố tụng chính xác Từ đây, chúng ta từng bước xây dựng được niềm tin của từng công dân và toàn xã hội đối với sự nghiêm minh, công bằng và nhân đạo của pháp luật; từng bước hạn chế tiến tới loại trừ những hành vi xâm hại đến quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự Thêm nữa, chế định trách nhiệm hình sự nói riêng và toàn hệ thống tư pháp hình sự nói chung còn góp phần nâng cao hiểu biết và nhận thức về pháp luật, góp phần xây dựng văn hóa pháp lý, tăng cường hiệu quả công tác đấu tranh phòng ngừa
và chống tội phạm Cuối cùng, xây dựng và hoàn thiện chế định TNHS còn là sự thể hiện chính xác những nguyên tắc và giá trị cao cả của quyền con người vào từng quy phạm pháp luật thực định
1.1.2 Quyền con người và các cơ chế pháp lý bảo vệ quyền con người
Quyền con người là khát vọng và thành quả đấu tranh của toàn nhân loại qua các giai đoạn phát triển; là thước đo, là giá trị chung đánh giá mức độ văn minh của một quốc gia Quyền con người là một vấn đề khá phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực như đạo đức, chính trị, pháp lý Xét về ý nghĩa, bên cạnh thuật ngữ
“quyền con người”, có một thuật ngữ khác cũng thường được sử dụng, đó là “nhân
quyền” Cả hai thuật ngữ này đều bắt nguồn từ thuật ngữ "human rights" - chúng
ta có thể được dịch là quyền con người (theo nghĩa thuần Việt) hoặc nhân quyền ( theo nghĩa Hán - Việt) Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, “nhân quyền” chính là “quyền con người” Như vậy, quyền con người và nhân quyền là hai từ đồng nghĩa, do đó, chúng ta có thể sử dụng cả hai từ này trong nghiên cứu cũng như trong thực tiễn
Mặc dù có quá trình hình thành và phát triển lâu đời nhưng hiện nay, khái niệm quyền con người vẫn được xác định là phức tạp với nhiều cách hiểu khác nhau Trong tiến trình lịch sử ấy, quyền con người được tiếp cận với nhiều trường phái và môn học khác nhau Với nội hàm rộng và có tính chất tổng hợp, đa ngành, chính vì vậy, hiện nay có rất nhiều định nghĩa về quyền con người Ở mỗi định nghĩa quyền con người được tiếp cận theo những khía cạnh riêng Theo một tài liệu của Liên hợp quốc, từ trước đến nay "có đến gần 50 định nghĩa về quyền con người
Trang 22đã được công bố" [54, Tr 4] đã cho thấy đây là hướng nghiên cứu nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên khắp thế giới Khi nghiên cứu về quyền con người , có hai trường phái nổi bật là trường phái quyền tự nhiên và trường phái quyền pháp lý, với sự góp mặt của nhiều học giả nổi tiếng
Các tác giả theo học thuyết quyền tự nhiên tiêu biểu là Thomas Hobbes, John Locke, Thomas Paine coi "quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi
cá nhân đều được hưởng chỉ đơn giản bởi họ là thành viên của gia đình nhân loại"
[13] Mọi cá nhân sinh ra mặc nhiên đều có và đều được hưởng quyền này mà không bị chi phối bởi bất kỳ yếu tố khách quan bên ngoài nào Không một cá nhân
tổ chức, thiết chế xã hội nào có thể tạo ra hay phân phát quyền con người Quyền con người là tự nhiên vốn có, không phụ thuộc vào bất kỳ phong tục tập quán hay ý chí của chủ thể nào; mặc dù quyền con người có liên hệ to lớn với các nhân tố vừa nêu Ngược lại, những học giả theo trường phái quyền pháp lý mà tiêu biểu là Edmun Burke và Jeremy Bentham coi quyền con người "phải do các nhà nước xác định và pháp điển hóa thành các quy phạm pháp luật hoặc xuất phát từ truyền thống văn hóa" [13, tr 39] Quyền con người theo trường phái này chịu ảnh hưởng sâu sắc của những yếu tố tác động bên ngoài, đặc biệt là ý chí của giai cấp thống trị và những ảnh hưởng của đời sống xã hội Hiểu theo cách này thì quyền con người ở mỗi chế độ khác nhau sẽ có những cách hiểu, cách ghi nhận và thực thi khác nhau
Một định nghĩa của Văn phòng cao ủy Liên hợp quốc rất phổ biến thường được trích dẫn bởi các học giả, theo đó: "Quyền con người là những bảo đảm pháp
lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người" [ 55, tr 4] Bên cạnh đó, nhân quyền trong tài liệu đã nêu
còn được định nghĩa một cách khái quát là những quyền bẩm sinh, vốn có của con
người mà nếu không được hưởng thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người
[ 55, tr.4]
Trang 23Quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề quyền con người xuất phát
từ quan niệm coi con người vừa là sản phẩm tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng vấn đề quyền con người: "Về bản chất bao hàm cả hai mặt tự nhiên và xã hội [10, tr.4]" Xét về mặt tự nhiên, C.Mác cho rằng, con người là "động vật xã hội" có khả năng "tái sinh ra con người", con người là động vật cao cấp nhất trong quá trình tiến hóa Do đó, về khía cạnh này quyền con người trước hết là một thuộc tính tự nhiên Quyền con người không phải là một "tặng vật",
do giai cấp thống trị ban phát thông qua Nhà nước mà quyền con người trong hình thức lịch sử tự nhiên của nó mang bản chất tự nhiên, được thể hiện ở quyền được sống, quyền tự do, quyền được sáng tạo, phát triển, quyền được đối xử như con người, xứng đáng với con người Ở khía cạnh xã hội, con người chính là sản phẩm của tiến trình lịch sử xã hội C.Mác cho rằng: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội [10,tr.21]" Theo Mác: "Quyền con người là những đặc quyền chỉ có ở con người mới có, với tư cách là con người, là thành viên xã hội loài người [11, tr 14]" Định nghĩa quyền con người của chủ nghĩa Mác - Lênin không phải chỉ là việc liệt kê đối với hai cách tiếp cận về quyền con người nêu trên, mà từ phân tích cho thấy bản chất hai mặt tự nhiên và xã hội của quyền con người có những thuộc tính phức tạp và luôn có sự thống nhất giữa hai mặt đối lập Phải khẳng định rằng, chủ nghĩa Mác – Lênin coi "quyền con người mang đặc tính tự nhiên nhưng có nội dung xã hội, bị chế ước bởi từng hoàn cảnh lịch sử, từng chế độ xã hội, từng Nhà nước" [11,tr 14]
Ở Việt Nam, trải qua quá trình đấu tranh đầy gian nan của cả dân tộc để giành lấy độc lập được đánh dấu bằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm
1945, quyền con người đã được ghi nhận trong bản Hiến pháp đầu tiên - Hiến pháp năm 1946 Tất cả những nội dung về quyền con người này đều thể hiện được tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh về nhân quyền Theo đó, quyền con người không chỉ là các quyền thuộc về cá nhân, là giá trị nhân văn vốn có và thiêng liêng của mỗi người, mà đó còn là giá trị văn hóa của cộng đồng, dân tộc, quốc gia - dân tộc Quyền con người gắn chặt với các quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi chủ
Trang 24quyền quốc gia, là bộ phận không thể tách rời của tiến trình phát triển của đất nước Quyền con người cơ bản này bao gồm quyền được tồn tại (quyền sống), độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đã trở thành một phạm trù phổ quát của luật quốc tế hiện đại Điều đó cho thấy sự kế thừa một cách tinh tế và kết hợp tài tình những giá trị nhân văn của nhân loại tiến bộ với những giá trị truyền thống của dân tộc Quyền con người ở nước ta được xây dựng dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với truyền thống văn hóa dân tộc, có chọn lọc những tiêu chuẩn được cộng đồng các quốc gia tiến bộ thừa nhận rộng rãi
Sự phát triển khái niệm quyền con người thành quyền dân tộc cơ bản của Chủ tịch
Hồ Chí Minh được thể hiện sâu sắc trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 Ở đó
đã đánh dấu một bước phát triển vượt bậc của lý luận về quyền con người cũng như của luật quốc tế về quyền con người khi lần đầu tiên trong lịch sử khái niệm quyền sống, quyền tự do của các dân tộc đã được đồng nhất với quyền sống, quyền tự do của con người Trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 bằng những luận điểm đã
được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Tất cả
mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai
có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Bắt đầu từ Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt
Nam, con người đã được xác định là trung tâm của mọi chính sách phát triển kinh tế
xã hội ở Việt Nam Quan điểm mang tính chiến lược ấy về con người đã đặt ra yêu cầu bức thiết về việc nghiên cứu quyền con người cũng như những vấn đề có liên quan Trải qua quá trình phát triển, quyền con được phát triển ở những bản Hiến pháp sau này, đặc biệt là lần sửa đổi mới nhất năm 2013 gần đây, quyền con người
đã được ghi nhận tại riêng Chương 2, tại Điều 14 quy định:
"1 Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền
con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật
2 Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng "[1]
Trang 25Trong Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nôi, tập thể tác giả định nghĩa quyền con người là “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” [13, tr 38] Ở một cuốn sách khác, GS.TSKH Lê Văn Cảm đưa ra khái niệm quyền con người như sau: “Quyền con người là một phạm trù lịch sử - cụ thể là giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại và là đặc trưng tự nhiên vốn có cần được tôn trọng và không thể bị tước đoạt của bất kỳ cá nhân con người nào sinh ra trên trái đất, đồng thời phải được bảo vệ bằng pháp luật bởi các quốc gia – thành viên Liên hợp quốc cũng như bởi cộng đồng quốc tế” [ 24, tr 224] TS Trần Quang Tiệp cũng đưa ra định nghĩa về quyền con người một cách ngắn gọn, theo đó, quyền con người “là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ con người mới được hưởng trong
những điều kiện chính trị, văn hóa kinh tế, xã hội nhất định” [ 29, tr.14] Một định
nghĩa được sử dụng tương đối phổ biến trong giảng dạy, nghiên cứu về nhân quyền
ở nước ta hiện nay coi: "Nhân quyền (hay quyền con người) là những năng lực và nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người, với tư cách là thành viên cộng đồng nhân loại, được thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế"
[17, tr 10] Những định nghĩa này không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung,
quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp
lý quốc tế
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng theo quan niệm chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người được xác định dựa trên hai cơ sở chủ yếu là cơ
sở đạo đức và cơ sở pháp luật Cơ sở đạo đức của quyền con người là giá trị xã hội
cơ bản, vốn có (những đặc quyền) của con người như nhân phẩm, bình đẳng xã hội,
tự do Cơ sở pháp lý xác định những quyền cơ bản này thông qua việc thể chế hóa chúng bằng các chế định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Qua các quan điểm về quyền con người vừa nêu ta có thể chỉ ra một số đặc tính của quyền con
Trang 26người như sau Thứ nhất, tính phổ biến: tính phổ biến của quyền con người thể hiện
ở chỗ quyền con người được áp dụng chung cho tất cả mọi người, không phân biệt màu da, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân Con người, dù ở trong những chế độ xã hội riêng biệt, thuộc những truyền thống văn hóa khác nhau vẫn được công nhận là con người và được hưởng những quyền và sự tự do cơ bản
Thứ hai, tính đặc thù: Mặc dù tất cả mọi người đều được hưởng quyền con người
nhưng mức độ thụ hưởng quyền có sự khác biệt, phụ thuộc vào năng lực cá nhân của từng người, hoàn cảnh chính trị, truyền thống văn hóa xã hội mà người đó đang sống Ở mỗi vùng, mỗi quốc gia khác nhau, vấn đề quyền con người mang những sắc thái, đặc trưng riêng gắn liền với trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực
đó Thứ ba, tính không thể bị tước bỏ: Trong quan niệm chung của cộng đồng quốc
tế, quyền con người không thể tùy tiện bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước Tuy nhiên, trong một
số trường hợp nhất định được pháp luật quy định trước, chỉ có những chủ thể đặc biệt mới có thể hạn chế quyền con người trong một số trường hợp với các điều kiện
nhất định Thứ tư, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quyền: Tất cả các
quyền con người đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, việc thực hiện tốt quyền này
sẽ là tiền đề để thực hiện quyền kia Ngược lại, khi có một quyền bị xâm phạm thì
sẽ ảnh hưởng đến các quyền khác
Từ việc nghiên cứu, tổng quát các khái niệm của các cơ quan, tổ chức, các nhà luật học chuyên nghiên cứu về quyền con người, cũng như các văn bản luật của quốc tế và quốc gia, người viết có thể đưa ra khái niệm về quyền con người như
sau: Quyền con người là tổng hợp những giá trị vốn có và cao quý nhất kết tinh từ
nền văn hóa của toàn thể nhân loại, là quyền mang tính chất tự nhiên – xã hội, vừa
là động lực vừa là cái đích để tất cả các dân tộc hướng tới nhằm bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm và hạnh phúc con người Có thể khẳng đinh chắc chắn rằng, quyền con
người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và mọi giai đoạn lịch sử Trong thời đại ngày nay, quyền con người không thể tách khỏi hòa bình, dân chủ và phát triển
Trang 27* Các cơ chế pháp lý bảo vệ quyền con người:
Quyền con người là vấn đề nhận được rất nhiều sự quan tâm nghiên cứu trên thế giới, là giá trị nhân bản cao quý nhất mà mọi quốc gia đều đề cao và bảo vệ Dù quyền con người được định nghĩa theo cách nào thì tựu chung lại vẫn có một mục tiêu chung là xác lập, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người Quyền con người chỉ thực sự trở thành giá trị cao quý nhất của toàn nhân loại khi có một cơ chế bảo vệ phù hợp, nhằm xác lập vị trí của chế định này một cách chắc chắn Để bảo vệ quyền con người, chúng ta cần có sự tổng hòa của rất nhiều yếu tố khách quan, chủ quan
mà trong đó, pháp luật được xác định là công cụ quan trọng nhất Có được điều này
là bởi, pháp luật thừa nhận quyền con người như là một trong những giá trị cao quý nhất của nhân loại, phản ánh được sự thống nhất ý chí của toàn xã hội, được toàn xã hội ghi nhận Từ đó, những quy phạm pháp luật cụ thể ra đời nhằm đảm bảo vị trí tối cao và bất khả xâm phạm của quyền con người Không chỉ ghi nhận, pháp luật còn xác định những chế tài dành cho những hành vi xâm hại đến các quyền con người Khi cần thiết, Nhà nước có thể sử dụng pháp luật như một công cụ cưỡng chế hữu hiệu đối với những sự xâm hại đến quyền con người Bên cạnh đó, pháp luật cũng xây dựng một khung pháp lý nhằm đảm bảo cho hoạt động của các cơ quan hữu quan nhằm phát hiện nhanh chóng và xử lý kịp thời những sự xâm hại cũng như giới hạn hoạt động của những cơ quan này nhằm loại trừ những tác động tiêu cực đến quyền con người Pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước bảo vệ các quyền con người và pháp luật cũng chính là công cụ hữu hiệu để mỗi cá nhân tự bảo
vệ mình trước mọi hành vi xâm hại, từ đó xác lập những xử sự trong một khung tiêu chuẩn đảm bảo quyền con người Pháp luật chính là cơ sở pháp lý cần thiết góp phần cùng các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội khác bảo vệ quyền con người một cách toàn diện Ở đây pháp luật cần được hiểu theo nghĩa bao gồm cả pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế Sau khi đã được xác định bằng những quy định cụ thể chúng ta cần có "những biện pháp để bảo vệ các quyền khỏi bị vi phạm và thúc đẩy sự tôn trọng và thực hiện các quyền trên thực tế" [13, tr 327] Từ đó, ta xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể cũng như cách thức thực thi những quyền
Trang 28và nghĩa vụ ấy trên thực tế Hiện nay để bảo vệ quyền con người cơ chế pháp lý có
ba cấp độ: Cấp độ quốc tế mà nòng cốt là cơ chế dựa trên Hiến chương Liên hợp quốc và cơ chế dựa trên công ước Cấp độ chế khu vực bao gồm cơ chế thúc đẩy và bảo vệ quyền con người ở châu Âu, cơ chế thúc đẩy và bảo vệ quyền con người ở châu Mỹ, cơ chế thúc đẩy và bảo vệ quyền con người ở châu Phi, cơ chế thúc đẩy
và bảo vệ quyền con người ở châu Á, cơ chế nhân quyền ASEAN… Cuối cùng là cấp độ quốc gia về bảo vệ quyền con người Ở mỗi cấp độ, các quy phạm pháp luật
đã xác định tương đối đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể cũng như việc thực thi chúng ra sao
Với việc được ghi nhận rõ ràng trong các văn bản quy phạm pháp luật quốc
tế và quốc gia, chúng ta thấy được mức độ quan trọng và sự quan tâm của cộng đồng quốc tế với vấn đề quyền con người Trước hết, chúng ta không thể không nhắc đến nội dung về quyền con người trong các Công ước quốc tế như: Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền, Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội - văn hóa, Công ước về quyền trẻ em Cùng với những cơ chế đảm bảo quyền con người có phạm vi toàn cầu, một số khu vực cũng xây dựng cho riêng mình hệ thống bảo vệ nhân quyền Đây là những
bổ sung hữu hiệu cho các cơ chế toàn cầu nhằm đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả trong phạm vi mỗi khu vực Cuối cùng, trong hệ thống pháp luật của các quốc gia, quyền con người được xác định là vấn đề trọng tâm, chủ yếu ngay từ trong Hiến pháp rồi sau đó là những đạo luật chuyên ngành trong đó có luật hình sự Trong các văn bản này, quyền con người được ghi nhận một cách chính thức như là giá trị mang tính chất chung nhất cho toàn xã hội và đó được coi như mục tiêu quan trọng nhất mà pháp luật hướng tới Liên Hợp Quốc cũng như Chính phủ các quốc gia nhận định phát triển quyền con người là vấn đề cốt lõi để nâng cao mọi mặt của đời sống xã hội, nên trong quá trình xây dựng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người Chính vì vậy, các cơ quan chuyên trách cần tìm ra các biện pháp nhằm giúp cho công tác này diễn ra dề dàng và có trình tự Về cơ bản, pháp luật nói chung đã quy định các một số biện pháp nhằm đảm bảo cho quyền con người được thực hiện trên
Trang 29thực tế như: biện pháp tổ chức, biện pháp chính trị, biện pháp kinh tế, biện pháp tuyên truyền, giáo dục
Trong điều kiện hiện nay, nhiều nội dung cụ thể của quyền con người cũng như việc bảo vệ quyền con người đòi hỏi phải có sự đấu tranh, hợp tác giải quyết, phối hợp của nhiều quốc gia hay cả cộng đồng quốc tế - trong đó đấu trang phòng, chống tội phạm là một nhiệm vụ vô cùng cấp thiết Trách nhiệm của các quốc gia khi tham gia ký kết, hay phê chuẩn các công ước, tuyên ngôn về quyền con người là phải thực hiện các cam kết đó, mỗi nước phải cụ thể hóa những quy định của pháp luật quốc tế sao cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế của đất nước mình, hòa nhập pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế, thể hiện trách nhiệm thực hiện bảo vệ quyền con người trước cộng đồng quốc tế Hơn nữa trong bối cảnh giao lưu, hòa nhập quốc tế giữa các nước ngày nay ngày càng mở rộng ở tất cả các lĩnh vực, vấn đề bảo vệ quyền con người của công dân ở nước ngoài cũng như công dân nước ngoài đang sinh sống trên địa bàn nước sở tại đang là vấn đề phức tạp cần quan tâm
Vì vậy cần phải có sự phối hợp hợp tác giải quyết các vấn đề liên quan, mà phương pháp giải quyết đó là bằng con đường cụ thể hóa các quyền trong các văn bản pháp luật Việc ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp sẽ tạo cơ sở pháp luật giải quyết vấn đề quyền con người trong trường hợp xảy ra xung đột pháp luật
Để phát huy đầy đủ vai trò quan trọng của pháp luật trong việc bảo vệ quyền con người thì phải thể chế hóa quyền con người thành các quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật, phải có cơ chế bảo đảm cho các quy định đó được thực hiện trong thực tế, tạo thành đảm bảo pháp lý thực hiện quyền con người Một mặt cần cụ thể hóa quyền con người thành các quyền và nghĩa vụ cụ thể, mặt khác cần xác định rõ các hình thức, biện pháp xử lý những hành vi vi phạm quyền con người, quyền công dân, quy định về tổ chức hoạt động của bộ máy Nhà nước, chức năng nhiệm vụ quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và công chức Nhà nước, xây dựng hệ thống các thủ tục trong tố tụng trong đó có tố tụng hình sự, cụ thể hóa các công ước quốc tế về quyền con người mà các quốc gia đã tham gia ký kết hay phê chuẩn nhằm đảm bảo thực hiện bảo vệ nhân quyền Quyền con người được thể chế
Trang 30hóa trong hệ thống pháp luật thành hệ thống các quy định nêu trên, nhưng nếu không có cơ chể bảo đảm thực hiện các quy định đó thì không thể coi rằng đã có những đảm bảo pháp lý nhằm bảo vệ quyền con người
1.2 Mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và quyền con người
1.2.1 Vị trí của chế định trách nhiệm hình sự trong bảo vệ quyền con người
Trách nhiệm hình sự là một bộ phận quan trọng, giữ vị trí trung tâm của hệ thống pháp luật hình sự, góp phần có hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; từng bước đẩy lùi tiến tới kiềm chế tối đa những hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến quyền con người Chế định TNHS cùng với các chế định khác của pháp luật hình sự xác định một trật tự chung, một hệ thống các hành vi cần phải tuân theo trong những điều kiện hoàn cảnh nhất định nhằm đảm bảo cho những quyền con người về cơ bản không bị xâm hại Nếu như xuất hiện một chủ thể có hành vi phạm tội, đương nhiên chủ thể đó xâm hại đến các khách thể được PLHS bảo vệ mà ở đó có quyền con người là đối tượng đặc biệt, là cái đích cuối cùng cần bảo vệ Với việc thực hiện các xử sự phạm tội hậu quả tất yếu một người phải nhận chính là việc họ bị xử lý theo những quy định, trình tự của pháp luật hình sự Các quy đinh pháp luật nói chung và các quy định về TNHS nói riêng đã điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân trong cộng đồng theo hướng tôn trọng những quyền con người cơ bản đã được thừa nhận, mặt khác, chính mỗi cá nhân sẽ được bảo vệ bởi những quy định này khi xuất hiện những hành vi xâm hại Như vậy, quyền con người được ghi nhận trong các quy định pháp luật và được bảo vệ thông qua một công cụ rất hữu hiệu là luật hình sự - cụ thể ở đây là các quy định về TNHS Bằng những quy định này, chúng ta có thể xây dưng một nền tảng pháp lý vững chắc, góp phần đưa những giá trị cao quý của toàn nhân loại vào mỗi quy phạm pháp luật hình
sự và áp dụng các quy định ấy trên thực tế một cách có hiệu quả
1.2.2 Vai trò của chế định trách nhiệm hình sự trong bảo vệ quyền con người
Trách nhiệm hình sự như đã đề cập là một chế định lớn và quan trọng bậc nhất của pháp luật hình sự Sau khi đã xác định được những hành vi như thế nào
Trang 31được coi là tội phạm, chúng ta cần đưa ra những chế tài thích hợp để xử lý đối với những đối tượng thực hiện những hành vi này Bởi, tội phạm xâm hại đến các quan
hệ xã hội quan trọng nhất được pháp luật hình sự xác lập vào bảo vệ mà trong đó, quyền con người là đối tượng cần nhận sự được lưu tâm đặc biệt Với mỗi hành vi phạm tội, chủ thể phạm tội có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyền con người Do đó, yêu cầu xử lý đối với các chủ thể vi phạm là vô cùng cần thiết được đặt ra với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tùy thuộc vào mỗi hành vi phạm tội trong các điều kiện hoàn cảnh khác nhau thì chủ thể thực hiện mỗi hành vi ấy phải chịu trách nhiệm hình sự khác nhau Bằng các quy định cụ thể mà các hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời và xử lý một cách nhanh chóng và có căn cứ Không chỉ giữ vai trò xử lý người phạm tội mà những quy định ấy còn góp phần đấu tranh có hiệu quả với các vi phạm pháp luật nói chung, từng bước đẩy lùi những mối nguy cơ đe dọa đến các quyền con người cơ bản Bằng việc quy định các loại hình phạt hay các biện pháp tư pháp hình sự khác, các quy định về TNHS đã xây dựng một bộ khung chế tài đủ mạnh nhằm trấn áp mọi hành vi phạm tội, trừng trị thích đáng đối với những đối tượng phạm tội Bên cạnh đó, các quy định này còn đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục cá nhân người phạm tội và những người khác trong xã hội Đối với những người phạm tội, trách nhiệm hình sự mà họ phải gánh chịu bên cạnh yêu tố trừng trị - buộc họ phải chấp hành những hình phạt hay biện pháp tư pháp khác; còn thể hiện yếu tố nhân đạo, coi trọng việc giáo dục cải tạo họ trở lại thành con người có ích cho xã hội Đặc biệt với nhóm người này, tuy phải chịu TNHS vì hành vi phạm tội mình đã thực hiện nhưng quyền con người của
họ là không thể bị tước đoạt Việc áp dụng và thi hành trách nhiệm hình sự không được gây tổn hại đến những quyền con người cơ bản của họ, đặc biệt là khi áp dụng những chế tài hình sự có nguy cơ xâm hại thô bạo đến quyền con người như: hình phạt tử hình, các hình phạt tù giam có hoặc không có thời hạn Khi áp dụng TNHS cần căn cứ vào tất cả những yếu tố chủ quan, khách quan khi tội phạm được thực hiện để lựa chọn được loại, mức hình phạt hay biện pháp tư pháp hình sự phù hợp Trách nhiệm hình sự chỉ được ghi nhận trong Bộ luật hình sự và chỉ được thực hiện
Trang 32bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo trình tự được Bộ luật tố tụng hình sự quy định Việc truy cứu TNHS kịp thời, đúng pháp luật phản ánh nguyên tắc pháp chế, một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Trách nhiệm hình sự chỉ và phải được ghi nhận chi tiết, đầy đủ trong PLHS thực định nhằm phản ánh ý chí, mong muốn của cộng đồng xã hội chứ không phải ý muốn của bất kỳ ai, bất kỳ giai cấp nào Trách nhiệm hình sự là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất, do đó, khi áp dụng, pháp chế là yêu cầu quan trọng nhất Điều đó tránh để xảy ra tình trạng áp dụng pháp luật hình sự một cách tùy tiện, tránh việc xâm hại đến quyền con người của người bị đưa ra truy tố, xét xử từ phía các cơ quan nhà nước mà thiếu căm cứ pháp lý Việc xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật còn tạo dựng được niềm tin trong nhân dân vào tính nghiêm minh của pháp luật, tính chính xác trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, thông qua đó mà những quyền, lợi ích chính đáng của họ luôn được ghi nhận và bảo vệ Đề cao mục đích phòng ngừa hơn là để tội phạm xảy ra mới tìm cách khắc phục, các quy định về TNHS còn hướng đến mục tiêu giáo dục ý thức nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của các thành viên khách trong xã hội, nhất là nhóm đối tượng đang có ý định thực hiện tội phạm Từ
đó, góp phần loại trừ ý định phạm tội của nhóm đối tượng này, đảm bảo loại trừ từ
xa những mối đe dọa đối với những quyền con người cơ bản Với những lý do trên, chế định TNHS đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nên một hệ thống các phương pháp nhằm hướng đến mục tiêu bảo vệ tối đa quyền con người Ở
đó, sự bảo vệ quyền con người không chỉ hướng đến những nạn nhân của tội phạm
mà còn hướng đến chính bản thân những đối tượng phạm tội và rộng hơn là toàn xã hội Một mặt, trách nhiệm hình sự bảo vệ quyền con người của nạn nhân bị tội phạm xâm hại thông qua việc xử lý về hình sự với những người thực hiện tội phạm, buộc họ phải chịu sự trừng trị của pháp luật Sự trừng trị nghiêm khắc với người phạm tội là cần thiết nhằm ngăn cản việc tiếp tục phạm tội và phòng ngừa nguy cơ tái phạm của họ Thêm nữa, việc xử lý các đối tượng này có ý nghĩa răn đe với toàn
xã hội khi giúp họ thấy được hậu quả của việc phạm tội Mặt khác, cũng cần xác định rằng, việc thực hiện trách nhiệm hình sự luôn có giới hạn và nằm trong khuôn
Trang 33khổ luật định Hành vi phạm tội ở mức độ tính chất ra sao thì sự trừng trị cũng chỉ được áp dụng ở mức độ tương xứng Qua đó, không có bất kỳ ai có thể phải chịu TNHS nặng hơn hoặc nhẹ hơn so với tính chất, mức độ do hành vi của mình gây ra Việc đảm bảo quyền con người ở đây được đặt ra với tất cả mọi người dù họ có là nạn nhân của tội phạm hay là đối tượng chịu sự tác động của TNHS
1.2.3 Ý nghĩa của chế định trách nhiệm hình sự trong bảo vệ quyền con người
Bảo vệ quyền con người nói chung và bảo vệ quyền con người bằng các quy định về trách nhiệm hình sự nói riêng mà người viết đề cập trong nội dung luận văn
là một vấn đề mang nội hàm sâu rộng cần có sự nghiên cứu nghiêm túc và tổng quát Pháp luật hình sự là công cụ quan trọng góp phần đắc lực trong công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, tạo cơ sở giữa vững an ninh quốc gia, các lợi ích của nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong đó
có quyền con người Là một chế định lớn với tầm quan trọng đặc biệt bên cạnh hai chế định: Tội phạm và Hình phạt, chế định trách nhiệm hình sự là bộ phận không thể thiếu khi đề cập đến vấn đề bảo vệ quyền con người Với tầm quan trọng như vậy, việc nghiên cứu bảo vệ quyền con người bằng các quy định về TNHS có những
ý nghĩa như sau
Thứ nhất, về mặt lập pháp Với điểm bắt đầu từ vấn đề trách nhiệm hình sự đối với chủ thể thực hành vi phạm tội và phải gánh chịu hậu quả pháp lý do việc thực hiện hành vi ấy gây ra Qua nghiên cứu, cho tới nay, vẫn còn rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề TNHS từ khái niệm, đặc điểm đến các hình thức thể hiện
Từ sự khác nhau này sẽ dẫn đến những sự khác biệt khi nghiên cứu những chế định liên quan như: điều kiện của TNHS, cơ sở của TNHS, tuổi chịu TNHS, hay các vấn
đề về miễn TNHS, loại trừ TNHS, miễn hình phạt Thêm vào đó, chế định TNHS còn phản ánh trực tiếp các nguyên tắc pháp luật hình sự, thông qua đó chỉ ra được những vấn đề cốt lõi trong chính sách hình sự của một quốc gia Bởi, các quy định
về TNHS gắn với việc giải quyết đúng đắn, có căn cứ một vụ án hình sự, tạo ra những tác động trực tiếp đến những quyền con người cơ bản của một cá nhân Như
Trang 34vậy, trên cơ sở chọn lọc những ưu điểm của những nghiên cứu về trách nhiệm hình
sự trong nước và quốc tế, việc nghiên cứu bảo vệ quyền con người bằng các quy định về TNHS càng có ý nghĩa to lớn Đặc biệt trong giai đoạn đất nước ta đang tiến hành công cuộc cải cách tư pháp, việc nghiên cứu các quy định về trách nhiệm hình
sự còn góp phần chỉ ra những quy định còn hạn chế hay không còn phù hợp trong việc bảo vệ và không ngừng nâng cao quyền con người Từng bước xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm hình sự Qua đó, góp phần hoàn thành mục tiêu xây dựng thành công nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo tinh thần nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị đã xác định: " các cơ quan tư pháp phải thực sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu đảm bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các tội phạm và vi phạm pháp luật"
Thứ hai, về mặt lý luận Hiện nay trong khoa học luật hình sự nhiều vấn đề liên quan đến chế định TNHS như: trên cơ sở nào mà một người buộc phải chịu những hậu quả bất lợi về mặt pháp lý hình sự do hành vi của họ gây ra? Nguyên nhân nào khiến một công dân phải chịu TNHS về hành vi phạm tội do mình gây ra? Trình tự, thủ tục xác định TNHS đối với một người được tiến hành ra sao? Thời điểm nào TNHS phát sinh, bắt đầu được thực hiện, việc thực hiện TNHS trải qua mấy giai đoạn? Hậu quả pháp lý của người đã bị truy cứu TNHS là gì? Đối với một hành vi phạm tội trên thực tế nhưng có cơ sở nào để loại trừ TNHS cho người thực hiện tội phạm hay không? Độ tuổi để một người phải chịu TNHS là bao nhiêu? Hay vấn đề TNHS pháp nhân vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến quan điểm khác nhau Điều đó đặt ra yêu cầu cần có một nghiên cứu chuyên sâu về chế định này, đảm bảo thể hiện được đúng vị trí, vai trò của chế định trên
Thứ ba, về mặt thực tiễn Thực tiễn áp dụng Bộ luật hình sự nói chung và các quy phạm về trách nhiệm hình sự nói riêng đã và đang đặt ra những đòi hỏi cần thiết trong việc hoàn thiện Đặc biệt trong giai đoạn đổi mới đất nước và cải cách tư pháp, việc hoàn thiện các quy định về TNHS dưới góc độ bảo vệ quyền con người phản ánh chính sách hình sự tiến bộ của nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa luôn
Trang 35hướng đến mục tiêu "không ngừng chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người" [ 11, tr.134] Pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng chính là công cụ hữu hiệu để bảo vệ quyền con người, trong đó, các quy định
về TNHS không thể tách rời Nhà nước thừa nhận quyền con người với tư cách là các quyền tự nhiên cơ bản và ghi nhận chúng trong các văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời xác định những cơ chế đảm bảo thực thi các quy định này một cách
có hiệu quả Trong phạm vi luận văn, tác giả đề cập đến thực tiễn hoạt động áp dụng các quy định pháp luật về TNHS ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế do sự xâm hại thô bạo đến quyền và tự do con người bởi hậu quả từ công tác "truy cứu TNHS oan từ sự sai trái đã rõ rành rành và sự quan liêu của một số quan chức trong bộ máy Nhà nước tại một số địa phương" [15, tr.23] Việc truy cứu trách nhiệm hình sự không chính xác, dẫn đến làm oan, làm sai sẽ gây ra những hệ quả tiêu cực, xâm hại trực tiếp đến quyền con người của đối tượng bị truy cứu Rộng hơn, những hoạt động này còn tạo ra những tác động xấu đến toàn xã hội, gây suy giảm niềm tin trong nhân dân đối với các cơ quan tư pháp, với tính nghiêm minh của pháp luật, đi ngược lại nguyên tắc pháp chế - một nguyên tắc cơ bản trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Các quy định về TNHS là phương tiện cụ thể hóa một cách chính thống phần lớn các quyền, tự do của con người vốn được ghi nhận trong Hiến pháp, trên mọi lĩnh vực của đời sống nhà nước và xã hội Nhiều quyền cơ bản của con người chỉ có thể được bảo đảm, khi được cụ thể hóa thành các quy phạm pháp luật hình sự trong đó có các quy định về TNHS, nhờ đó các quy phạm mang tính hiến định về quyền con người được thực hiện trên thực tế Bằng các quy định
về TNHS, chúng ta giới hạn được quyền lực của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong quá trình giải quyết vụ án hình sự và xử lý người phạm tội Hoạt động
tố tụng hình sự được bảo đảm bởi bộ máy công quyền, vì vậy, mọi hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều phải được giới hạn bởi pháp luật, trước hết là pháp luật hình sự để tránh sự tuỳ tiện trong việc giải quyết vụ
án hình sự, đặc biệt là việc áp dụng không chính xác các quy định về TNHS gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người Bằng những lý do này, việc nghiên cứu vấn đề
Trang 36bảo vệ quyền con người bằng các quy định về TNHS có ý nghĩa vô cùng quan trọng trên phương diện thực tiễn
1.2.4 Đặc điểm của việc bảo vệ quyền con người bằng quy định về trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam
Việt Nam là một thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng động quốc tế, luôn mong muốn đóng vào việc hoàn thiện hơn nữa các quyền con người được ghi nhận trong các văn bản pháp lý mà chúng ta là thành viên Do những hạn chế của từng giai đoạn lịch sử mà vấn đề quyền con người ở nước ta có lúc chưa được nhận thức chính xác, thậm chí còn bị lợi dụng trở thành công cụ chống phá nhà nước Do
đó, để đảm bảo bảo vệ có hiệu quả các quyền con người, chúng ta cần hiểu rõ, hiểu đầy đủ về vấn đề này Để có cái nhìn tổng quát nhất về quyền con người cũng như những quy định của pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói chung và quy định
về TNHS nói riêng góp phần bảo vệ quyền con người ra sao, chúng ta cần nắm được các đặc điểm cơ bản Có thể hiểu đơn giản những đặc điểm bảo vệ quyền con người bằng các quy định về TNHS là những dấu hiệu đặc trưng riêng có và sự thể hiện trên thực tế của các quy định về TNHS nhằm bảo vệ quyền con người Với nội dung như trên, những đặc điểm của vấn đề cần nghiên cứu được bao gồm:
Thứ nhất, bảo vệ các quyền con người bằng những quy định về TNHS là một
cơ chế đảm bảo sự công bằng và tiến bộ trong xã hội Với nội dung này, mọi hành
vi phạm tội và người thực hiện tội phạm đều cần được xử lý nghiêm minh, kịp thời
và đúng các quy định của pháp luật Việc xử lý tội phạm và người phạm tội nhằm khôi phục lại trật tự ban đầu vốn có của xã hội Việc xác định TNHS đối với người phạm tội thể hiện sự lên án của xã hội, của Nhà nước đối với những hành vi sai lệch những chuẩn mực được cả cộng đồng xã hội Thêm nữa, các quy định rõ ràng về TNHS đảm bảo sự minh bạch, công bằng trong các hoạt động nhằm phát hiện, xử lý tội phạm Xuất phát từ chế định phân loại tội phạm tương ứng với đó là việc quy định nhiều loại, mức TNHS khác nhau nhằm đảm bảo không ai phải chịu TNHS nặng hơn hoặc được chịu hậu quả pháp lý nhẹ hơn so với mức độ, tính chất nguy hiểm do tội phạm gây ra Ở khía cạnh tiến bộ xã hội, việc các quy định về TNHS
Trang 37được ghi nhận một cách chính thức trong các văn bản pháp lý ta đã cho thấy mức độ coi trọng của Đảng, Nhà nước với công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Từ những quy định còn mang tính sơ khai và quy định ở nhiều văn bản từ trước năm
1985, cho đến ba lần pháp điển hóa đã cho thấy những bước tiến vượt bậc trong kỹ thuật lập pháp hình sự ở nước ta Song hành với đó là sự phát triển đó là việc quyền con người ngày càng được ghi nhận và bảo vệ một cách đầy đủ và toàn diện hơn Ở góc độ này, phần nào chúng ta thấy được cái nhìn đúng đắn và sự quan tâm ngày càng sâu rộng của các nhà làm luật nước ta với vấn đề quyền con người và bảo vệ quyền con người, đặc biệt là hạn chế được tình trạng oan, sai trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
Thứ hai, chế định TNHS góp phần bảo vệ trực tiếp đến quyền con người, tránh cho mỗi cá nhân những khả năng buộc phải gánh chịu hậu quả pháp lý nghiêm khắc nhất từ phía Nhà nước Đối với quá trình giải quyết vụ án hình sự, mục đích cuối cùng vẫn là xác định được TNHS của một chủ thể Xác định có hay không việc một người phải chịu TNHS ảnh hưởng trực tiếp đến những quyền con người của họ Bởi khi xác định được một người phải chịu những biện pháp cưỡng chế hình sự, các quyền con người ít nhiều chịu những sự tác động, đặc biệt có trường hợp, quyền sống – quyền quan trọng nhất của một người có thể bị tước bỏ Do vậy, việc xác định TNHS nói chung cần được tuân thủ theo một cơ chế thống nhất, được pháp luật quy định rõ ràng Cơ chế này được vận hành bởi cả ba nhánh quyền lực đó là lập pháp, hành pháp và tư pháp Các cơ quan trong ba nhánh quyền lực ấy phải đảm bảo thực hiện đúng vai trò, chức năng của mình, đây chính là điều kiện tiên quyết
để quyền con người được bảo đảm, và không ai có thể bị truy cứu trách nhiệm hình
sự, bị kết tội oan, bị kết sai
Thứ ba, bảo vệ các quyền con người bằng các quy phạm về TNHS góp phần vào việc thực thi pháp luật hình sự - thuộc lĩnh vực điều chỉnh, bảo đảm các quyền con người được thực hiện một cách nghiêm minh và thống nhất Theo đó, đối với hành vi phạm tội của mình, người phạm tội bị buộc phải chịu những sự hạn chế quyền và tự do nhất định bởi quá trình tố tụng hình sự của các cơ quan nhà nước có
Trang 38thẩm quyền Các cơ quan nêu trên căn cứ vào các quy định pháp luật cụ thể và những tình tiết cụ thể của vụ án mà xác định TNHS của một đối tượng phạm tội Do
đó, ở mỗi vụ án khác nhau, trách nhiệm hình sự của từng chủ thể phạm tội là khác nhau; thậm chí, cùng một vụ án, trách nhiệm của những người đồng phạm cũng có thể khác nhau do sự tham gia vào tội phạm không giống nhau Việc quy trách nhiệm đối với những chủ thể của tội phạm là cần thiết nhằm đảm bảo không một hành vi xâm hại nào đến các khách thể được luật hình sự bảo vệ bị bỏ lọt, và không một người phạm tội nào tránh khỏi trách nhiệm hình sự Điều đó hướng đến những nỗ lực không ngừng nhằm bảo vệ cho những quyền con người tránh bị đe dọa xâm hại một cách trực tiếp hay gián tiếp từ những nguồn nguy hiểm như đã đề cập Nhưng nếu chỉ đề cập đến đây thì nội dung bảo vệ quyền con người bằng các quy định về TNHS vẫn chưa đầy đủ Bởi, trong việc áp dụng pháp luật hình sự, không chỉ Nhà nước có quyền yêu cầu người phạm tội thực thi đầy đủ những yêu cầu của mình nhằm đảm bảo quyền con người mà chính những người phạm tội cũng cần được bảo
vệ Những người này có quyền yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và những người có thẩm quyền trong các cơ quan đó thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, chính xác những quy định của pháp luật đối với những quyền, lợi ích hợp pháp của người phạm tội trong suốt quá trình tố tụng – trong đó, quyền con người của họ là nhóm quyền dễ bị xâm hại
Thứ tư, bảo vệ các quyền con người bằng các quy phạm về TNHS là một bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất của việc bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự Từ đó, xây dựng niềm tin trong quần chúng nhân dân về một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm những quyền thiêng liêng của công dân luôn được ghi nhận và tôn trọng Các quy định về TNHS phải được ghi nhận cụ thể trong luật, phải bảo đảm tính minh bạch, rõ ràng, chặt chẽ, khoa học và bảo đảm tính logic Đảm bảo tính hiệu lực hiệu quả khi đem ra thi hành trên thực tế
Thứ năm, bảo vệ các quyền con người bằng các quy phạm về TNHS là một nhiệm vụ không chỉ mang ý nghĩa trong phạm vi quốc gia, mà còn có ý nghĩa quốc
tế Vì, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chúng ta phải chuẩn bị và sẵn sàng mọi điều
Trang 39kiện để đủ sức, cũng như thích ứng với những đòi hỏi của bối cảnh, trong đó có pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự trên nguyên tắc luật pháp quốc gia phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có các quy phạm về TNHS Với tư cách là một quốc gia có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam coi bảo vệ và phát triển các quyền con người không chỉ là nhiệm vụ mà còn là mục tiêu cốt lõi của sự nghiệp xây dựng đất nước Do đó, Đảng và Nhà nước ta luôn có những chủ trương, chính sách nhằm phát huy tốt nhất những quyền con người, quyền công dân trong những văn bản pháp lý quốc gia, đảm bảo cho những sự ghi nhận ấy thực sự phù hợp với hoàn cảnh thực tế của đất nước cũng như công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia hoặc ký kết
Trang 40Kết luận chương 1
Quyền con người là giá trị trân quý vốn có của mỗi cá nhân kể từ khi sinh ra
mà họ đương nhiên được hưởng, là quyền vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính pháp lý và là cái đích cuối cùng cần hướng đến của nhân loại tiến bộ Quyền con người cần được xác lập và bảo vệ không chỉ bằng hệ thống pháp luật quốc gia mà còn bằng cả pháp luật quốc tế Bởi, để quyền con người được tôn trọng và bảo vệ trên thực tế cần sự nỗ lực của tất cả các quốc gia trên thế giới, không một cá nhân,
tổ chức hay Nhà nước nào có thể thực hiện nhiệm vụ này một cách đơn lẻ Trong phạm vi của luận văn, người viết đề cập đến nhiệm vụ bảo vê quyền con người dưới khía cạnh pháp lý hình sự, thông qua các quy định về TNHS Một mặt, quyền con người được bảo vệ thông qua việc ghi nhận hậu quả pháp lý của các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội – những hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại ( trực tiếp hay gián tiếp) đến các quan hệ xã hội được PLHS bảo vệ trong đó có quyền con người Thông qua những quy định này, Nhà nước cố gắng hạn chế và từng bước đẩy lùi những mối nguy cơ đe dọa đến quyền con người từ tội phạm Bên cạnh đó, những quy định này cũng góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người phạm tội Đây cũng là nhóm người có nguy cơ cao bị xâm hại quyền con người Việc ghi nhận đầy đủ những quy định về TNHS góp phần tránh cho người phạm tội tránh khỏi sự trừng phạt thiếu căn cứ thậm chí là tùy tiện của các cơ quan nhà nước có thẩm người và người có thẩm quyền trong các cơ quan đó
Là một chế định trung tâm của pháp luật hình sự, các quy định về TNHS không chỉ góp phần xác lập, tôn trọng và bảo vệ quyền con người của mỗi thành viên trong xã hội mà còn bảo vệ ngay chính người phạm tội Cùng với chế định tội phạm, chế định TNHS góp phần xác định, xử lý nhanh chóng, kịp thời, đúng người, đúng pháp luật với tất cả những hành vi và người phạm tội
Mặc dù quy định về pháp luật nói chung và về TNHS nói riêng của mỗi quốc gia khác nhau nhưng tựu chung, đa số quy định của các quốc gia đều xác định vị trí
và vai trò quan trọng của chế định này trong nhiệm vụ bảo vệ quyền con người Trước hết những quy định về TNHS góp phần củng cố và hoàn thiện cho hệ thống