Tiểu luận: Từ thuần việt và từ vay mượn trong tiếng Việt với mục đích giúp người đọc biết được nguồn gốc, vai trò xuất hiện của từ thuần việt và từ vay mượn, làm rõ vai trò của từ thuần Việt và từ vay mượn trong ngôn ngữ tiếng Việt, làm rõ cách sử dụng của từ thuần Việt và từ vay mượn trong ngôn ngữ tiếng Việt.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
ĐỀ TÀI: TỪ THUẦN VIỆT VÀ TỪ VAY MƯỢN TRONG
TIẾNG VIỆT Tiểu luận kết thúc môn MÔN HỌC: TIẾNG VIỆT THỰC HÀNH
Nhóm Thực hiện: Số 8
Giảng viên: PHẠM THỊ HẰNGHỌC KỲ: 2 – NĂM HỌC: 2016-2017
TP Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 05 năm 2017
3 Nguyễn Văn Hiếu 15146160
4 Ngô Phước Thọ 16125173
Trang 2Mục Lục
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tiếng Việt có nguồn gốc rất cổ xưa và đã trải qua một quá trình phát triển lâudài, đầy sức sống Sức sống đó biểu hiện tinh thần dân tộc mạnh mẽ và sáng tạocủa nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh anh dũng vì tiền đồ của đất nước,trong sự phấn đấu bền bỉ để xây dựng và phát triển một nền quốc ngữ, quốc văn,quốc học Việt Nam
Ngôn ngữ dân tộc không bất biến mà luôn vận động và phát triển qua nhiềugiai đoạn.Trong một giai đoạn lịch sử cụ thể bao giờ cũng xảy ra hiện tượng giữlại từ cũ, cấu tạo từ mới, vay mượn những từ ngữ từ tiếng nước ngoài Qua nhiềuthời kì, việc xác định từ vay mượn và từ thuần không phải là việc làm đơn giản.Hiểu được điều đó, nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài “Từ thuần Việt và
từ vay mượn trong tiếng Việt” để làm rõ hơn lớp từ vựng trong tiếng Việt và giúpchúng ta hiểu rõ hơn về vai trò cũng như cách sử dụng của chúng trong đời sốnghàng ngày Từ đó, chúng ta sẽ có ý thức hơn về giữ gìn và phát huy sự trong sángcủa tiếng Việt
2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Từ thuần Việt và từ vay mượn trong tiếng Việt
Trang 44. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp logic, thống kê
Sưu tầm tài liệu và sắp xếp theo mục tiêu đề bài.Truy cập internet
Trang 5CHƯƠNG 1: TỪ THUẦN VIỆT
1.1 Nguồn gốc của từ thuần Việt
Về mặt nguồn gốc, cơ sở hình thành của lớp từ thuần Việt là các từ gốc Namphương, bao gồm cả Nam Á và Tày Thái Những kết quả nghiên cứu gần đâycho thấy rằng nhiều bộ phận, nhiều nhóm của lớp từ thuần Việt có những tươngứng, những quan hệ hết sức phức tạp với nhiều ngôn ngữ hoặc nhóm ngôn ngữtrong vùng - miền Ví dụ1
- Tương ứng Việt-Mường:
Về tiếng Mường có 29 thổ ngữ được xếp vào 9 nhóm nằm rải rác tại các tỉnhBắc Bộ và bắc Trung Bộ, từ Mường Phong, Mường Thái, Mường Bi đến GiaiXuân, Tân Hợp, Sông Con, v.v Cũng là tiếng Mường, nhưng người Mường vùngnày gọi là con trâu con, thì vùng kia gọi là con nghé; vùng này gọi là chiêng, thìvùng kia gọi là cồng; vùng này gọi là chân, vùng kia gọi là giò… Cũng để chỉmột con vật như nhau, nhưng người Mường nhóm 6 gọi là con dải, trong khingười Mường nhóm 7 lại gọi là con ba ba Cũng là một hành động như nhau,nhưng người Mường nhóm 8 gọi là chửi, trong khi người Mường nhóm 9 lại gọi
là bới …
- Tương ứng Việt – Tày Thái:
Đường, rẫy, bắt, bóc, buộc, ngắt, gọt, đẵn, bánh, vắng, mo, ngọn, mọn, méo,vải, mưa, đồng, móc, nụ, gà, chuột, đâm
- Tương ứng với các ngôn ngữ nhóm Việt Mường đồng thời với nhóm Bru-VânKiều:
Trời, trăng, đêm, bụng, ruột, kéo, bốc, ngáy, khạc, củi, hột, rắn, khô
1 Theo Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt Nhà xuất
bản Giáo dục, H., 1997, trang 213–219.
Trang 6- Tương ứng với nhóm ngôn ngữ Mon-Khmer ở Tây Nguyên Việt Nam:
Trời, mây, mưa, sấm, sét, bàn chân, đầu gối, da, óc, thịt, mỡ, bố, mẹ, mày, nó,nuốt, cắn, nói, kêu, còi, mặc, nhắm, bếp, chổi, đọi
- Tương ứng với nhóm Việt-Mường và các ngôn ngữ Mon-Khmer khác:
Sao, gió, sông, đất, nước, lửa, đá, người, tóc, mặt, mắt, mũi, răng, lưỡi, cổ,lưng, tay, chân, máu, xương, cằm, đít, con, cháu
- Tương ứng với nhóm Việt Mường và Tày Thái:
Bão, bể, bát, dao, gạo, ngà voi, than, phân, cày, đen, gạo, giặt
- Tương ứng Việt – Indonesia:
Bố, ba, bu, mẹ, bác, ông, cụ, đất, trâu, sông, cái, cây, núi, đồng, mất, nghe,đèn, đêm, trắng, tuổi, ăn, cướp, bướm, sáng, rất, nấu, này/ni, là, rằng, ngày Các ví dụ trên đây chứng tỏ rằng cội rễ của từ vựng tiếng Việt hết sức phứctạp Chúng gồm nhiều nguồn đan xen, chồng chéo, thậm chí phủ lấp lên nhau.Nghiên cứu chúng sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc khảo cứu nguồngốc tiếng Việt nói chung
Cùng với sự du nhập truyền bá của đạo giáo, đặc biệt là văn hóa Công giáo,văn hóa Việt Nam cũng được làm giàu thêm bởi những yếu tố văn hóa phươngTây, và đặc biệt thành công trong vấn đề chữ viết Khi truyền đạo cho người ViệtNam, khó khăn đầu tiên mà các giáo sĩ (các vị linh mục) vấp phải là sự khác biệt
về ngôn ngữ và văn tự; các giáo sĩ có thể học tiếng Việt được, nhưng học chữNôm thì quá khó Bởi vậy họ đã dùng bộ chữ cái Latinh quen thuộc có bổ sungthêm các dấu phụ (mà một số ngôn ngữ phương Tây như chữ Bồ Đào Nha đãtừng làm) để ghi âm tiếng Việt – thứ chữ này về sau được gọi là chữ Quốc ngữ
Trang 71.2 Cách sử dụng từ thuần Việt
Từ thuần Việt là cái gốc, cái bản chất của tiếng Việt Vì vậy từ thuần Việt được
sử dụng phổ biến trong đời sống hàng ngày, trong giao tiếp và được sử dụngtrong các trường hợp cụ thể sau:
- Chỉ các sắc thái ý nghĩa cụ thể, mang các tính chất sinh động, gợi hình
Ví dụ các từ láy: lung linh, long lanh, khúc khích,leo teo, loắt thoắt, rì rào,rầm rầm, kềnh càng, xanh xao…
- Mang sắc thái biểu cảm thân mật và trung hòa, khiêm nhã
Ví dụ: vợ, chồng, mắt mũi, chết, xơi,…
- Nhìn chung từ thuần Việt đa phong cách, một số thích hợp với tất cả các phongcách, một số khác chỉ phù hợp với phong cách sinh hoạt
Ví dụ: núi, song, anh em…
- Được xây dựng trên phương thức ghép theo trật tự yếu tố chính đứng trước, yếu
tố phụ đứng sau
Ví dụ: với từ kiến có kiến càng, kiến cánh…; với từ ốc có ốc sên, ốc bưu, ốcsắt, ốc vít…
Trang 8Có thể thấy từ thuần Việt do có sắc thái ý nghĩa cụ thể, có sắc thái biểu cảmtrung hoà nên thường đem đến cho ta những hình ảnh quen thuộc, giản dị, sinhđộng, lắm sắc màu, mang hơi thở của hiện thực khách quan nên rất thích hợp khimiêu tả những chi tiết cụ thể, sinh động Cụ thể qua các tác phẩm văn học nghệthuật giúp ta thấy rõ như “Truyện Kiều” của Nguyễn Du …
1.3 Vai trò của từ thuần Việt
Từ thuần Việt ra đời là cơ sở nền tảng tạo chữ viết, là cơ sở hình thành TiếngViệt, thể hiện những điều con người Việt muốn nói, muốn truyền đạt thông quangôn ngữ tiếng Việt
Từ thuần Việt là cốt lõi, là cái bản chất, cái gốc của từ vựng tiếng Việt Lớp từthuần Việt làm chỗ dựa (nơi bắt đầu) và có vai trò điều khiển, chi phối sự hoạtđộng của mọi lớp từ khác Từ thuần Việt còn mang đậm nét bản sắc văn hóa củacon người Việt, nó không chỉ đơn thuần là phương tiện để ghi chép lại từ ngữ, làphương tiện để giao tiếp mà từ thuần Việt mà còn là tinh hoa văn hóa của ngườiViệt trong quá trình lịch sử tạo dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Từ thuầnViệt thể hiện tính cách, bản chất của con người Việt trải qua các giai đoạn thờigian lịch sử khác nhau
Từ thuần Việt mang trong nó những sắc thái ý nghĩa cụ thể, những sắc tháibiểu cảm, đa phong cách giúp cho các nghệ sĩ, nhà thơ, nhà văn dễ dàng sử dụngsáng tác những tác phẩm văn học hay mang đậm bản sắc nghệ thuật Những tácphẩm đó được lưu truyền không chỉ cho con cháu, các thể hệ mai sau được họchỏi mà còn lan truyền ra thế giới góp phần làm rạng danh văn học đất nước ViệtNam
Trang 9CHƯƠNG 2: TỪ VAY MƯỢN TRONG TIẾNG VIỆT 2.1 Nguồn gốc của từ vay mượn trong tiếng Việt
Từ mượn là từ vay mượn từ tiếng nước ngoài (ngôn ngữ cho) để làm phongphú thêm cho vốn từ vựng của ngôn ngữ nhận
Nước ta đã trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc, hơn 100 năm bị đế quốc thựcdân xâm lược nên ít nhiều bị ảnh hưởng bởi văn hóa du nhập trong đó có chữviết Gần như tất cả các ngôn ngữ trên thế giới đều có từ mượn, vì một ngôn ngữvốn dĩ không có đủ vốn từ vựng để định nghĩa cho tất cả các khái niệm và việcchuyển ngữ từ vựng từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác để là xu thế tất yếutrong quá trình hội nhập của một nền văn hóa
Việc tạo mới và sử dụng các từ mượn cũng cần hết sức quan tâm để tránh làmmất đi bản sắc ngôn ngữ nhận, đánh mất sự đa dạng của ngôn ngữ; để tránh điều
Trang 10đó chỉ nên sử dụng từ mượn trong một ngôn ngữ khi ngôn ngữ đó không có từthay thế hoặc từ thay thế quá dài và phức tạp.
2.2 Vai trò của từ vay mượn trong tiếng Việt
Sự du nhập của các nền văn hóa khác vào nước ta sẽ làm cho các giá trị vănhóa thay đổi một cách mạnh mẽ kèm theo sự thay đổi các lĩnh vực khác như kinh
tế, chính trị, xã hội,… đã góp phần làm phong phú vốn từ của tiếng Việt
Các sự vật hiện tượng mới, hiện đại được du nhập vào nước ta trong khi TiếngViệt vẫn chưa thực sự hoàn thiện đòi hỏi phải có những ngôn ngữ diễn đạt mớiphù hợp hơn và từ mượn ra đời như một lẽ tất yếu Từ mượn được vay mượn từngôn ngữ nước ngoài nhưng được Việt hóa về hình thức chữ viết, ngữ âm, ngữnghĩa và ngữ pháp nhằm diễn tả một cách dễ dàng, đầy đủ các sự vật hiện tượngmới mà Tiếng Việt chưa diễn tả được một cách trọn vẹn
Từ mượn có vai trò nhất định trong tiếng Việt, nó bổ sung những từ còn thiếu,tạo ra một lớp từ có sắc thái nghĩa khác với từ đã có trong tiếng Việt những lớp
từ này thể hiện sự trang trọng, khái quát
Đồng thời, từ mượn giúp cho vốn từ của Tiếng Việt trở nên đa dạng, phongphú và phù hợp hơn với xu thế hội nhập thời đại
2.3 Phân loại từ mượn trong tiếng Việt
2.3.1Từ mượn tiếng Hán
2.3.1.1 Từ tiếng Hán và từ Hán-Việt
Quá trình tiếp xúc lâu dài với tiếng Hán đã để lại trong tiếng Việt một tỉ lệ lớncác từ vay mượn của tiếng Hán, gọi là từ gốc Hán hay từ Hán-Việt Theo các nhànghiên cứu thì khoảng hơn 60% số từ của tiếng Việt là từ vay mượn của tiếngHán Tuy nhiên, các từ tiếng Hán khi đi vào tiếng Việt đã được Việt hóa về cáchđọc cho phù hợp với hệ thống ngữ âm của tiếng Việt Đó gọi là cách đọc Hán-
Trang 11Việt Cách đọc này đã được hoàn thiện từ khoảng thế kỉ X- XI và được sử dụng
ổn định cho đến nay Điều đó có nghĩa là các từ vay mượn của tiếng Hán đượcngười Việt đọc theo âm cổ – âm tiếng Hán đời Đường – có sự Việt hóa ít nhiềucho phù hợp với hệ thống ngữ âm tiếng Việt Trong khi đó tại Trung Quốc, trảiqua các thời kì khác nhau, cách phát âm của các từ đã thay đổi nhiều Điều nàygiải thích tại sao từ tiếng Trung hiện đại và từ Hán-Việt có cách đọc không giốngnhau Ví dụ: từ dìfēng của tiếng Trung được người Việt đọc là địa phương Mặtkhác, các từ gốc Hán trong tiếng Việt cũng có sự khác biệt về nghĩa và cách sửdụng so với từ tương đương trong tiếng Trung hiện nay Chẳng hạn, trong tiếngViệt, từ ngoại ô được dùng để biểu thị ý nghĩa “khu vực bên ngoài thành phố”nhưng tiếng Trung lại dùng thị giao, thành giao để biểu thị ý nghĩa này Khôngnhững thế, tiếng Việt còn dùng các yếu tố gốc Hán để tạo ra từ mới chỉ dùngtrong tiếng Việt, ví dụ: tiểu đoàn, đại đội, hoặc kết hợp một yếu tố gốc Hán vớimột yếu tố thuần Việt để tạo ra từ mới, ví dụ: binh lính, tàu hỏa, đói khổ Ngoài
ra, trong tiếng Việt còn có một số từ gốc Hán nhưng không đọc theo âm Việt, ví dụ: rồng – long; sức – lực, xin – thỉnh, hoặc các từ gốc Hán mượn quakhẩu ngữ, ví dụ: mì chính, xì dầu…
Hán-2.3.1.2 Mục đích vay mượn từ tiếng Hán
Nhìn chung, tiếng Việt vay mượn các từ tiếng Hán để phục vụ cho hai mụcđích:
Thứ nhất: bổ sung những từ còn thiếu
Tiếng Việt thời kì đầu còn thiếu rất nhiều từ, nhất là trong các lĩnh vực vănhóa, văn học – nghệ thuật, luật pháp, chính trị, kinh tế, quốc phòng, giáo dục Để
bổ sung những từ còn thiếu, người Việt một mặt đã tạo ra một số từ mới trên cơ
sở các nguyên tắc cấu tạo từ tiếng Việt, song mặt khác cũng đã vay mượn một số
Trang 12lượng lớn từ ngữ tiếng Hán Việc vay mượn các từ ngữ tiếng Hán đã diễn ratrong một thời gian rất dài, ngay từ khi tiếng Việt còn chưa trở thành ngôn ngữđộc lập Tuy nhiên, những từ ngữ vay mượn từ xa xưa của tiếng Hán đã bị thayđổi nhiều trong tiếng Việt và chúng hoạt động giống như từ thuần Việt nên nhiềungười vẫn nghĩ rằng đó là từ thuần Việt, ví dụ: buồng (phòng), buồn, mây, chè…
Vì vậy, khi nói đến từ ngữ gốc Hán trong tiếng Việt, thường người ta nghĩ đếnnhững từ được vay mượn trong thời kì tiếng Việt đã trở thành ngôn ngữ độc lập
và được đọc theo một nguyên tắc chung giống nhau: đọc theo âm Hán-Việt Vídụ:
– Các từ trong lĩnh vực văn hóa: lễ nghi, lễ hội, tôn giáo, giáo phái, văn minh.– Các từ trong lĩnh vực văn học-nghệ thuật: tiểu thuyết, hội họa, điêu khắc, trữtình
– Các từ trong lĩnh vực luật pháp: hiến pháp, luật sư, tòa án, quy định, hình sự.– Các từ trong lĩnh vực chính trị: chính phủ, độc lập, phụ thuộc, dân chủ, liênminh
– Các từ trong lĩnh vực kinh tế: công nghiệp, tư bản, tỷ giá, chứng khoán
Có thể thấy rằng, đây chủ yếu là những thuật ngữ khoa học-chuyên môn
Thứ hai: Tạo ra một lớp từ có sắc thái nghĩa khác với từ đã có trong tiếng Việt
Do được sử dụng nhiều nên từ ngữ tiếng Việt thường có đặc điểm của từ ngữgiao tiếp hàng ngày Điều đó làm cho chúng không thể dùng để biểu thị các sắcthái nghĩa trang trọng hay khái quát Để khắc phục tình trạng này, tiếng Việt vaymượn một số từ ngữ tiếng Hán có nghĩa cơ bản giống với từ tiếng Việt nhưngđược bổ sung thêm một sắc thái nghĩa khác Điều này làm xuất hiện những cặp
từ đồng nghĩa, trong đó từ thuần Việt và từ Hán-Việt chỉ có sắc thái nghĩa khácnhau Ví dụ:
Trang 13- Từ thuần Việt gây cảm giác thô tục, ghê sợ hoặc đau đớn còn từ Hán-Việt tạocảm giác lịch sự, trung hòa Ví dụ:
Từ thuần Việt: chảy máu, chết, nôn
Từ Hán-Việt: xuất huyết, từ trần, thổ
- Từ Hán-Việt tạo ra cảm giác trang trọng hơn từ thuần Việt Ví du:
Từ thuần Việt: cưới nhau, đàn bà, người già
Từ Hán-Việt: hôn nhân, phụ nữ, phụ lão
2.3.2 Từ mượn tiếng Ấn-Âu
2.3.2.1 Lịch sử vay mượn từ ngữ Ấn-Âu
Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp vào nửa cuối thể kỉ XIX và thời kì caitrị của thực dân Pháp kéo dài trên 80 năm Trong thời kì đó, tiếng Pháp đã đượcđưa vào giảng dạy và sử dụng trong các trường học và là ngôn ngữ chính thứccủa nhà nước thuộc địa Do vậy, các từ ngữ tiếng Pháp đã xâm nhập vào tiếngViệt khá nhiều, và thông qua tiếng Pháp, một số từ ngữ của những ngôn ngữ Ấn-
Âu khác như tiếng Anh hay tiếng Nga cũng đi vào tiếng Việt
Tuy nhiên, sự tiếp xúc của tiếng Việt với các ngôn ngữ Ấn-Âu diễn ra muộnhơn nhiều so với tiếng Hán và một số ngôn ngữ châu Á khác Lúc này, tiếng Việt
đã tiếp nhận một cách có hệ thống những từ ngữ tiếng Hán cần thiết để bổ sungcho vốn từ vựng của mình, do đó các từ ngữ Ấn-Âu chỉ được tiếp nhận một cách
lẻ tẻ và thường tập trung vào các lĩnh vực khoa học-kĩ thuật
Thời kì đầu, tiếng Việt thường không tiếp nhận các từ ngữ Ấn-Âu một cáchtrực tiếp mà tiếp nhận gián tiếp qua tiếng Hán, do đó các âm Ấn-Âu đều có dángdấp của âm Hán-Việt, ví dụ: câu lạc bộ; Nã Phá Luân; Ba Lê; Anh Cát Lợi, BaLan…
Trang 14Về sau, cách tiếp nhận này đã được thay thế bằng cách tiếp nhận trực tiếphoặc thông qua tiếng Pháp Thời gian gần đây, xu hướng tiếp nhận trực tiếpkhông qua tiếng Pháp ngày càng trở nên phổ biến Ví dụ: makéttinh (t Anh:marketing); cátxê (t Anh: cash); sô (t Anh: show), Vácsava …
Ngoài việc tiếp nhận hình thức và ý nghĩa của các từ ngữ Ấn-Âu, tiếng Việtcòn mô phỏng cấu trúc của một số từ ngữ Ấn-Âu, khiến cho trong tiếng Việt cónhững từ ngữ và cách nói có cấu trúc nghĩa giống như trong các tiếng Ấn-Âu Vídụ: chiến tranh lạnh; giết thời gian (t.Pháp); vũ trang tận răng, đĩa cứng, đĩamềm (t Anh); vườn trẻ, nhà văn hóa (t.Nga)
2.3.2.2 Mục đích và các lớp từ ngữ Ấn-Âu trong tiếng Việt
Mục đích
Tiếng Việt vay mượn từ ngữ Ấn-Âu trước hết là để bổ sung những từ ngữ còn thiếu mà chủ yếu là những từ ngữ thuộc các lĩnh vực khoa học-kĩ thuật Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các từ ngữ Ấn-Âu được mượn vào tiếng Việt còn nhằm mục đích bổ sung một lớp từ có nghĩa chính xác hơn từ thuần Việt hoặc Hán-Việt (ví dụ: xúp lơ, mù tạt), nhất là trong lĩnh vực thuật ngữ Trong một số trường hợp đặc biệt, nguyên nhân vay mượn từ ngữ Ấn-Âu vào tiếng Việtchỉ là ý thích mang tính thời thượng (ví dụ: nhạc dance, cátxê)
Các lớp từ ngữ Ấn-Âu trong tiếng Việt
Tuy đều là từ ngữ gốc Ấn-Âu nhưng giữa các từ ngữ này có sự khác biệt vềmức độ Việt hóa Nhìn chung, có thể phân biệt những lớp từ ngữ Ấn-Âu sau đây:
- Từ được Việt hóa cao độ Đó là những từ ngữ Ấn-Âu mà xét về hình thức vàcách thức hoạt động không khác gì với một từ thuần Việt Nói chung, đây thường
là những từ ngữ thông dụng, mức độ Việt hóa phải đủ cao để người Việt có thể