Giáo dục sức khỏe được dùng những phương pháp và kỹ thuậthọc thích hợp để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho mọi người thông qua một loạt quá trìnhđược sử dụng để thay đổi những yếu tố ảnh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
Tp HCM, 08/2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên em xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy, các cô trong bộmôn Quản lý bệnh viện và bộ mô Kinh tế y tế Khoa Y - Đại học quốc gia TP.Hồ ChíMinh đã trực tiếp hướng dẫn tận tình chúng em Các thầy, các cô không chỉ cung cấpnhững kiến thức chuyên môn, các vấn đề nổi cộm trong ngành y tế nước nhà mà còn lànhững kinh nghiệm giải quyết những khó khăn thường gặp khi hành nghề sau này Từ đóchúng em có được được cái nhìn tổng quan về ngành y tế hiện tại
Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Thế Dũng, người thầy đãdành thời gian, công sức để giảng dạy, hướng dẫn chúng em, từ những vấn đề to lớn đếnnhững chi tiết nhất, cũng như cuộc đời hành nghề y,qua đó truyền lửa để chúng em tiếptục học tập, phấn đấu với con đường mình đã chọn
Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới đã tạo điềukiện, hỗ trợ cho chúng em học tập, hoàn thành tốt các mục tiêu của bộ môn
Cuối cùng em xin gửi lời cám ơn đến Ban Chủ nhiệm Khoa Y - Đại học quốc giaTP.Hồ Chí Minh và Ban điều phối module đã thiết kế chương trình, môn học này Bởi lẽnhững kiến thức chúng em học được từ đây là hành trang quý báu trong suốt cuộc đờihành nghề y của mình
Với điều kiện thời gian và kinh nghiệm bản thân còn hạn chế nên khó tránh khỏinhững thiếu sót Kính mong nhận được sự cảm thông cùng những ý kiến đóng góp quýbáu từ các thầy, các cô
Trân trọng
TP.Hồ Chí Minh, ngày 04 tháng 08 năm 2017
Sinh viên
Trang 3TÓM TẮT
Qua module Quản lý bệnh viện và module Kinh tế y tế có rất nhiều vấn đề được đặt ra.Tuy nhiên với nội dung cho phép của bài thu hoạch em xin được trình bày về vấn đề Hoạtđộng giáo dục sức khỏe Bởi lẽ nó có một vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng caokiến thức, thay đổi hành vi lành mạnh, qua đó nâng cao hiệu quả điều trị, hạn chế biếnchứng, tránh tái phát, và phòng bệnh,
Trong bài viết em sẽ nêu ra những khái niệm, định nghĩa,các nguyên tắc cơ bản, một sốvăn bản qui định liên quan, đồng thời làm nổi bật vai trò to lớn của giáo dục sức khỏe
bằng dẫn chứng cụ thể các hoạt động giáo dục sức khỏe trên thế giới và tại Việt Nam
Trang 4MỤC LỤC Contents
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH HÌNH VẼ iv
DANH SÁCH BẢNG BIỂU v
DANH SÁCH CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT vi
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 1
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2
2.1/Sơ lược về giáo dục sức khỏe: 2
2.2/ Một số văn bản pháp quy liên quan: 5
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG 8
3.1/ Một vài hoạt động giáo dục sức khỏe trong và ngoài nước: 8
3.2/ Những khó khăn hiện nay của GDSK: 12
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 15
4.1/ Kết luận: 15
4.2/ Kiến nghị: 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 5DANH SÁCH HÌNH VẼ
Danh sách hình
Hình ảnh 01 Hoạt động giáo dục sức khỏe về hành vi có lợi cho sức
khỏe dành cho thanh thiếu niên của WHO
8
Hình ảnh 02 Hoạt động giáo dục sức khỏe về tác hại của việc ngồi
lâu
9Hình ảnh 03 Hoạt động giáo dục sức khỏe về tác hại của béo phì 9
Trang 7GDSK: Giáo dục sức khỏe.
BYT: Bộ Y tế.
Trang 8CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU
Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII) nêu rõ: Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi conngười, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Mục tiêu của
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng như tất cả các thành viên khác là:“Sức khỏe cho mọingười” (Health for People) [9], mục tiêu này chỉ có thể đạt được khi tất cả mọi thành viêntrong cộng đồng cùng tham gia tích cực vào việc thực hành các hành vi sức khỏe lànhmạnh và cải thiện môi trường sức khỏe tốt cho cộng đồng
Với định nghĩa sức khỏe của Tổ chức Y tế thế giới: “Sức khỏe là trạng thái thoảimái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không phải chỉ bao gồm tình trạngkhông có bệnh hay thương tật” [10] Từ định nghĩa trên, chúng ta nhận thấy rằng có rấtnhiều yếu tố tác động đến sức khỏe con người bao gồm: xã hội, văn hóa, kinh tế, chính trị,môi trường và sinh học Giáo dục sức khỏe được dùng những phương pháp và kỹ thuậthọc thích hợp để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho mọi người thông qua một loạt quá trìnhđược sử dụng để thay đổi những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe
Nhu cầu được chăm sóc sức khỏe của người dân là nhu cầu thiết yếu hàng đầu hiệnnay nhưng để đạt được hiểu quả cao nhất cần có sự đồng lòng, phối hợp tốt giữa đội ngũ y
tế và người dân trong điều trị, theo dõi, dự phòng
Về phía bản thân đã trải qua một thời gian thực tập lâm sàng tại một số bệnh viện,
có thể thấy được rất nhiều bệnh nhân, thân nhân không biết phải phòng bệnh, khi nàocần nhập viện, tái khám, chế độ ăn uống, nghỉ ngơi,… hay thậm chí đọc nhiều thôngtin sai lệch dẫn đến hậu quả đáng tiếc Mà với thực trạng quá tải hiện nay, khó có nhânviên y tế nào đủ thời gian giải thích cặn kẽ, cụ thể đến từng người Vì vậy các hoạtđộng giáo dục sức khỏe là một giải pháp hiệu quả Qua đó phổ biến những kiến thứcđúng đắn, quan trọng đến với người dân
Trang 9CHƯƠNG II: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
2.1/Sơ lược về giáo dục sức khỏe [1], [2]:
2.1.1/ Giáo dục sức khỏe là gì?
- Giáo dục sức khỏe giống như giáo dục chung, là quá trình tác động có mục đích,
có kế hoạch đến suy nghĩ và tình cảm con người, nhằm nâng cao kiến thức, thayđổi thái độ và hành vi lành mạnh để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho cá nhân,gia đình và cộng đồng
- Giáo dục sức khỏe nói chung tác động vào 3 lĩnh vực: kiến thức của con người vềsức khỏe, thái độ của con người đối với sức khỏe, thực hành hay các ứng xử củacon người đối với bảo vệ và nâng cao sức khỏe
- Ở Việt Nam từ trước đến nay hoạt động giáo dục sức khỏe đã được thực hiệndưới nhiều tên gọi khác nhau như: tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh, tuyên truyềngiáo dục sức khỏe, giáo dục vệ sinh phòng bệnh,… Hiện nay thống nhất tên gọichung là giáo dục sức khỏe
2.1.2/ Bản chất của giáo dục sức khỏe:
- Giáo dục sức khỏe làm thay đổi hành vi sức khỏe: thay đổi hành vi sức khỏe, tạo
lập hành vi có lợi cho sức khỏe là bản chất quyết định trong GDSK
- Giáo dục sức khỏe là một quá trình truyền thông: giáo dục sức khỏe là một quá
trình truyền thông, bao gồm những tác động tương hỗ thông tin hai chiều giữangười GDSK và đối tượng được GDSK Quá trình truyền thông khác với quátrình thông tin sức khỏe Thông tin sứckhỏe chỉ đơn thuần là quá trình thông tinmột chiều.Điểm khác nhau cơ bản giữa quá trình truyền thông và quá trìnhthông tin sức khỏe là việc thu thập các thông tin phản hồi Công việc này chobiết các đáp ứng thực tế của đối tượng GDSK (tức là hiệu quả của giáo dục) Nócũng giúp cho người làm GDSK kịp thời điều chỉnh mục tiêu, nội dung vàphương pháp GDSK cho thích hợp hơn với từng đối tượng nhằm làm thay đổihành vi sức khỏe cũ có hại để hình thành hành vi sức khỏe mới có lợi cho sứckhỏe Đây là điều mong muốn của người làm GDSK
- Giáo dục sức khỏe là một quá trinh tác động tâm lý.
2.1.3/ Mục tiêu của giáo dục sức khỏe:
Giáo dục sức khỏe góp phần thực hiện quyền được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe củacon người Mục tiêu cơ bản của giáo dục sức khỏe là giúp cho mọi người:
- Xác định những vấn đề và nhu cầu sức khỏe của họ
- Hiểu rõ những điều gì họ có thể làm được để giải quyết những vấn đề sức khỏe,bảo vệ và tăng cường sức khỏe bằng những khả năng của chính họ cũng như sựgiúp đỡ bên ngoài
Trang 10- Quyết định những hành động thích hợp nhất để tăng cường cuốc sống khỏemạnh.
2.1.4/ Vị trí của giáo dục sức khỏe:
- Trong những năm gần đây, giáo dục sức khỏe ngày càng có vai trò quan trọngtrong chăm sóc sức khỏe ban đầu.Chăm sóc sức khỏe ban đầu đáp ứng nhữngnhu cầu sức khỏe thiết yếu của đại đa số nhân dân với giá thành thấp nhất cóthể chấp nhận được Thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu là trách nhiệm củacác cán bộ y tế, của các cơ sở y tế và cũng là trách nhiệm của mỗi cá nhân, mỗigia đình và cộng đồng
- Trong chăm sóc sức khỏe ban đầu , Giáo dục sức khỏe giữ vị trí quan trọng bậcnhất, bởi vì nó tạo điều kiện để chuẩn bị, thực hiện và củng cố kết quả các nộidung chăm sóc sức khỏe ban đầu khác
2.1.5/ Tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe:
- Là một bộ phận công tác y tế quan trọng làm thay đổi hành vi sức khỏe.
- Góp phần tạo ra, bảo vệ và nâng cao sức khỏe con người.
- Nếu giáo dục sức khỏe đạt kết quả tốt sẽ giúp làm giảm tỉ lệ mắc bệnh, tỉ lệ tử
vong, tàn phế nhất là ở các nước đang phát triển
- Tăng cường hiệu quả các dịch vụ Y tế.
2.1.6/ Những nguyên tắc trong giáo dục sức khỏe:
Nguyên tắc tính khoa học: Là xác định các nội dung giáo dục sức khỏe, lựa chọnphương tiện, phương pháp một cách khoa học, làm cho các nội dung này phù hợpvới từng đối tượng giáo dục, từng cộng đồng
- Giáo dục sức khỏe có tính khoa học vì nó dựa trên cơ sở khoa học sau:
1 Những cơ sở khoa học hành vi
2 Những cơ sở tâm lý học giáo dục
3 Những cơ sở tâm lý học xã hội
4 Những cơ sở tâm lý học nhận thức
5 Lý thuyết phổ biến sự đổi mới
- Nguyên tắc tính khoa học còn được thể hiện trong việc xác định nội dung Giáodục sức khỏe dựa trên cơ sở điều tra nghiên cứu toàn diện về xã hội, tâm lý,dịch tể, kinh tế chính trị của mỗi cộng đồng để xác định và lựa chọn vấn đề ưutiên cần giáo dục Những nội dung Giáo dục sức khỏe cũng phải thực sự khoahọc, đã được chứng minh bằng khoa học và thực tiễn Trong khi tiến hành Giáodục sức khỏe không nên đưa những nội dung mà các nhà khoa học còn đangbàn cãi, chưa rõ ràng, chưa được kiểm nghiệm trong thực tiễn
- Nguyên tắc tính khoa học được thể hiện trong việc lựa chọn những phươngpháp, hình thức, phương tiện giáo dục sức khỏe khoa học, hiện đại song phải
Trang 11phù hợp với từng đối tượng, từng cộng đồng, từng giai đoạn, và từng hoàn cảnhkinh tế - xã hội nhất định.
Nguyên tắc tính đại chúng:
- Giáo dục sức khỏe không những được tiến hành cho mọi người và vì lợi ích củamọi người trong cộng đồng xã hội, mà còn được mọi người tham gia thực hiện.Mọi người vừa là đối tượng của giáo dục sức khỏe vừa là người tiến hành giáodục sức khỏe
- Đối tượng của giáo dục sức khỏe rất đa dạng, không thể cùng một lúc chúng ta
có thể làm thay đổi hành vi sức khỏe của tất cả mọi người với mọi vấn đề về sứckhỏe
- Việc nghiên cứu đối tượng trong một đợt hoặc một nội dung là việc làm hết sứcquan trọng cho phép chúng ta đạt được mục tiêu và hiệu quả của giáo dục sứckhỏe Khi nghiên cứu đối tượng giáo dục sức khỏe chúng ta cần chú ý nhữngđặc điểm văn hóa, địa lý, xã hội, kinh tế, tôn giáo, trình độ học vấn và yếu tốdân tộc Nội dung, phương pháp, phương tiện giáo dục phải mang tính phổ cậpphù hợp với từng loại đối tượng
- Sử dụng phương tiện trực quan phải nhằm tạo thuận lợi cho đối tượng suy nghĩ
và hành động để đạt được những mục tiêu đã định Tuy nhiên, cần tránh lạmdụng bất cứ nội dung gì cũng phải có phương tiện trực quan
- Bản thân người cán bộ y tế và cơ sở y tế với toàn bộ những hoạt động của mìnhphải là những mẫu hình trực quan sinh động có tác dụng giáo dục mạnh mẽ nhấtđối với nhân dân Tấm gương người cán bộ y tế và cơ sở y tế thông qua các hoạtđộng có thể phản chiếu thành hai mặt tích cực và tiêu cực cho sự hình thành haythay đổi hành vi sức khỏe nhân dân
Nguyên tắc tính thực tiễn:
- Mỗi lý luận khoa học về giáo dục sức khỏe đều phải góp phần tích cực giảiquyết được các vấn đề sức khỏe một cách thiết thực, mang lại hiệu quả một cách
cụ thể thì mới có sức thuyết phục cao
- Chính nhân dân phải thực sự bắt tay vào làm những công việc nhằm biến đổihiện thực chất lượng cuộc sống, trong đó có sức khỏe của họ
- Lấy thực tiễn của các kết quả hành động đó để giáo dục, đánh giá và cải tiếntoàn bộ hệ thống giáo dục sức khỏe
Nguyên tắc lồng ghép:
Trang 12- Lồng ghép trong giáo dục sức khỏe là nhằm phát huy mọi nguồn lực sẵn có đểđạt hiệu quả cao hơn trong quá trình giáo dục sức khỏe, tránh được những trùnglắp không cần thiết hoặc bỏ sót công việc, tiết kiệm nguồn lực, tránh lãng phí vànâng cao chất lượng công tác giáo dục sức khỏe.
- Lồng ghép trong giáo dục sức khỏe là sự phối hợp các mặt hoạt động trong quátrình giáo dục sức khỏe
- Phối hợp một số hoạt động của các chương trình giáo dục sức khỏe có tính chấtgiống nhau hoặc có liên quan mật thiết với nhau nhằm tạo điều kiện hỗ trợ vàtăng cường lẫn nhau để đạt hiệu quả chung tốt hơn
- Phối hợp các hoạt động của giáo dục sức khỏe với các lĩnh vực hoạt động kháccủa ngành y tế và các ngành khác, các giới, các đoàn thể nhân dân thành mộtquá trình chung nhằm tạo được những hành vi sức khỏe lành mạnh, từ bỏ đượchành vi sức khỏe lạc hậu, có hại cho sức khỏe của mọi người
2.1.7/ Các bước lập kế hoạch Giáo dục sức khỏe:
- Bước 1: Thu thập thông tin, xác định vấn đề
- Bước 2: Chọn vấn đề sức khỏe ưu tiên
- Bước 3: Xác định mục tiêu và đối tượng giáo dục sức khỏe
- Bước 4: Soạn thảo nội dung
- Bước 5: Xác định nguồn lực, lựa chọn các phương pháp và phương tiện truyền thông
- Bước 6:Thử nghiệm các phương pháp và phương tiện
- Bước 7: Xây dựng chương trình hoạt động cụ thể
- Bước 8: Lập kế hoạch đánh giá chương trình giáo dục sức khỏe
2.2/ Một số văn bản pháp quy liên quan:
Ngày 06/10/2004, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ra Quyết định số 3526/2004/QĐ-BYT[3]phê duyệt Chương trình Hành động Truyền thông giáo dục sức khoẻ đến năm
2010 Chương trình Hành động này là định hướng quan trọng về tổ chức và hoạtđộng truyền thông giáo dục sức khỏe của cả nước với các mục tiêu chung là: Nângcao nhận thức và thực hành của tổ chức Đảng và chính quyền các cấp, các tổ chức
Trang 13Chính trị- xã hội, cộng đồng và mỗi người dân về công tác chăm sóc, bảo vệ vànâng cao sức khoẻ nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi Chiến lược Chăm sóc vàbảo vệ sức khoẻ nhân dân giai đoạn 2001- 2010 Trong đó các mục tiêu cụ thể:
1 Làm cho tổ chức Đảng và chính quyền các cấp và mọi người dân hiểu biếtcác chính sách của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ
2 Nâng cao nhận thức của người dân để họ tự thay đổi hành vi không có lợicho sức khoẻ bằng hành vi có lợi cho sức khoẻ, chủ động phòng chống dịchbệnh, tự bảo vệ sức khoẻ cho bản thân và tích cực tham gia công tác chămsóc sức khoẻ cho cộng đồng
3 Đẩy mạnh xã hội hoá và đa dạng hoá công tác truyền thông GDSK, tạo môitrường thuận lợi để người dân tự chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻthông qua các mô hình: Làng Văn hoá- Sức khoẻ tạo ra phong trào toàn dân
vì sức khoẻ, Phòng chống tai nạn thương tích xây dựng cộng đồng an toàn
4 Nâng cao năng lực của hệ thống truyền thông GDSK từ trung ương đến cơsở
5 Đảm bảo tài chính, cơ sở làm việc và trang thiết bị cho hoạt động truyềnthông GDSK từ trung ương đến cơ sở
Ngày 07/06/2011, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ký Quyết định số 1827/QĐ-BYT[4]phê duyệt “Chương trình hành động Truyền thông giáo dục sức khỏe giai đoạn2011-2015” với mục tiêu chung: Giúp người dân được tiếp cận đầy đủ và sửdụng hiệu quả các dịch vụ truyền thông giáo dục sức khỏe để nâng cao nhậnthức và thay đổi hành vi bảo vệ sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộngđồng.Trong đó các mục tiêu cụ thể:
1 Tăng cường vai trò chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác truyền thôngGDSK của tổ chức Đảng, chính quyền và đoàn thể các cấp thông qua chỉđạo và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách và chương trình vềbảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân
2 Nâng cao kiến thức, thực hành đúng của người dân trong phòng bệnh,chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng
3 Đẩy mạnh xã hội hóa và đa dạng hóa các hoạt động truyền thông GDSK
và huy động hiệu quả sự tham gia của cộng đồng
4 Nâng cao năng lực của hệ truyền thông GDSK
Ngày 5/11/2013, Quyết định 4445/QĐ-BYT[5] ban hành quy chế phát ngôn
và cung cấp thông tin cho báo chí của bộ y tế gồm 3 chương là: quy địnhchung, phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, và tổ chức thực hiện.Gồm 10 điều:
- Điều 1: Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
- Điều 2 Người phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của Bộ Y tế
- Điều 3 Phát ngôn và cung cấp thông tin định kỳ