1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Bài thu hoạch module quản lý bệnh viện và module kinh tế y tế xây dựng mạng lưới BSGD

35 306 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 372,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế thì Bác sĩ gia đình đã được triển khai ở Việt Nam từ vài năm qua nhưng hiện tại mô hình này vẫn chưa được phổ biến rộng rãi toàn quốc mà chỉ mới phát triển nhỏ lẻ ởmột số thành p

Trang 1

BÀI THU HOẠCH MODULE QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

VÀ MODULE KINH TẾ Y TẾ

XÂY DỰNG MẠNG LƯỚI BÁC SĨ GIA ĐÌNH

Ở VIỆT NAM

TRẦN HỮU CHÍ MSSV: 125272010

Tp HCM, 08/2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, em xin gửi lời cảm đến các thầy, các cô trong bộ môn Quản lý bệnh viện

và bộ mô Kinh tế y tế Khoa Y - Đại học quốc gia TP.Hồ Chí Minh trong thời gian qua đãkhông quản ngại khó khăn vất vả, cố gắng sắp xếp công việc để cho chúng em những buổigiảng đầy lý thú và bổ ích, bài học của thầy cô là những kinh nghiệm quý báu cho chúng

em sau này

Con cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy Nguyễn Thế Dũng, người thầyluôn hết mình vì công việc, tận tình chỉ bảo tụi con hết mực, cố gắng truyền cho con ngọnlửa nhiệt huyết với nghề, mà mỗi lần học với thầy, con cảm thấy ngọn lửa đó lại bùngcháy mãnh liệt trở lại

Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới, cùngcác thầy cô, anh chị trong bộ môn Nhiễm đã tạo điều kiện thuận lợi, cho chúng em nơihọc tập tốt với đầy đủ thiết bị, tiện nghi

Bài Viết là những gì em đã góp nhặt được trong thời gian học liên module Kinh tế

y tế - Quản lý bệnh viện Với vốn hiểu biết còn nông cạn kèm với những quan điểm cánhân có thể mang tính chủ quan, bài thu hoạch có thế còn nhiều thiếu sót, kính mong sựthông cảm và nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ các thầy cô

Trân trọng

TP Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 08 năm 2017

Trần Hữu Chí

ii

Trang 3

TÓM TẮT

Trải qua Module Quản lý bệnh viện và Kinh tế y tế, em đã được học rất nhiều bàihọc quý báu từ các thầy cô, những người đã làm việc, cống hiến nhiều năm cho nền y tếđất nước Những vẫn đề thầy cô trình bày đều là những vấn đề nổi trội, hết sức quan trọngđối với hệ thống y tế Trong số đó, có một vấn đề em rất quan tâm vì đó là định hướngphát triển y tế Việt Nam, tương lại của ngành y tế - Bác sĩ gia đình

Trong giới hạn bài viết này, em xin trình bày sơ lược về mô hình Bác sĩ gia đình,lịch sử phát triển của nó trên thế giới và hiệu quả mà mô hình này mang lại Tình hìnhphát triển của mô hình Bác sĩ gia đình ở Việt Nam hiện tại, những thuận lợi và khó khăng

mà chúng ta gặp phải Phân tích những yếu tố tác động đến quá trình xây dựng mô hìnhBác sĩ gia đình, các vấn đề còn vướng mắc mà đưa ra ý kiến của bản thân để giải quyếtnhững vấn đề đó, từ đó đưa ra phương hướng phát triển mạng lưới Y học gia đình trongtương lại

Trang 4

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2

2.3/ Quá trình hình thành và phát triển 32.4/ Kiến thức y học và phạm vi hoạt động của BSGĐ 42.5/ Lợi ích của mô hình BSGĐ 52.6/ Điều kiện phát triển BSGĐ 5

3.1/ Mô hình BSGĐ tại các nước trên thế giới 83.2/ Hoạt động BSGĐ tại Việt Nam 10

Tài liệu tham khảo 15Phụ lục: ĐỀ ÁN XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH 16 PHÒNG KHÁM BÁC SĨ GIA ĐÌNH GIAI ĐOẠN

2013-2020

iv

Trang 6

DANH SÁCH BẢNG BIỂU

Danh sách bảng biểu

Biểu đồ 01 Số lượng học viên bác sĩ chuyên khoa cấp I

y học gia đình qua các năm

17,18

Biểu đồ 02 Nhu cầu học thêm của cán bộ tại các phòng

khám

vi

Trang 7

DANH SÁCH CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

WHO: World Health Organization - Tổ chức Y tế thế giới.

WONCA: World Organization of Family Doctors – Tổ chức Bác sĩ gia đình thế giới BS: Bác sĩ

Trang 8

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

Như chúng ta đều biết, sức khỏe đóng vai trò không thể thiếu đối với cuộc sống mỗingười Có sức khỏe chúng ta mới có thể làm việc, vui chơi, giải trí, chăm sóc bản thân,gia đình và cống hiến cho xã hội Đất nước muốn phát triển tốt chỉ khi sức khỏe của mỗingười dân được quan tâm chăm sóc tốt

Từ lập luận trên, có thể thấy được tầm quan trọng của hệ thống chăm sóc sức khỏe(Health Care System) đối với sự phát triển của mỗi quốc gia như thế nào Thực tế cũngchứng minh những quốc gia phát triển trên thế giới có hệ thống chăm sóc sức khỏe pháttriển, chất lượng dịch vụ tốt hơn so với những nước đang phát triển

Quay trở lại với tình hình Việt Nam, trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước như hiện nay, Y tế là một trong những lĩnh vực cần được quan tâm đầu tư và pháttriển Cùng nhìn lại y tế Việt Nam ở thời điểm hiện tại, chúng ta đã được được nhiềuthành tựu đáng kể so với thời kỳ trước nhưng bên cạnh đó vẫn còn nhiều vấn đề bất cập

mà em sẽ trình bày ở phần sau Cùng với sự phát triển đi lên từng ngày của đất nước, chắcchắn y tế Việt Nam cũng sẽ có những bước tiến mới trong tương lai Điền hình trong số

đó là việc xây dượng lại mô hình chăm sóc sức khỏe toàn dân đã và đang được thực hiện– mô hình Bác sĩ gia đình

Bác sĩ gia đình là một mô hình khá phổ biến trong hệ thống chăm sóc sức khỏe của nhiềuquốc gia tiên tiến trên thế giới, không chỉ vì tính thiết thực, khả thi của mô hình mà còn vìnhững lơi ích to lớn mà mô hình mang lại Đối với những khó khăng mà y tế Việt Namđang gặp phải trong thời điểm hiện tại, mô hình Bác sĩ gia đình có vẻ như là một trongnhững giải pháp tốt giúp giải quyết các vấn đề bất cập còn tồn tại Vì vậy mà các lãnh đạongành cũng đã xác định Bác sĩ gia đình là xu hướng phát triển tương lại của y tế ViệtNam

Thực tế thì Bác sĩ gia đình đã được triển khai ở Việt Nam từ vài năm qua nhưng hiện tại

mô hình này vẫn chưa được phổ biến rộng rãi toàn quốc mà chỉ mới phát triển nhỏ lẻ ởmột số thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh… Vậy nguyên nhân nào mà một môhình thành công, hiệu quả ở nhiều nước trên thế giới lại hạn chế, chậm phát triển ở ViệtNam như vậy Phạm vi bài viết này sẽ phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc xâydựng mô hình Bác sĩ gia đình ở Việt Nam, nguyên nhân của vấn đề trên

Xây dựng mô hình Bác sĩ gia đình ở Việt Nam giống hay khác mô hình Bác sĩ gia đình ởcác nước tiên tiến khác trên thế giới Liệu rằng Việt Nam với những nét riêng về kinh tế,văn hóa, tình hình hiện tại, có cần những cái cách, bước đi riêng trong việc xây dựng hệthống chăm sóc sức khỏe Y tế Đó là vấn đề mà theo em, chúng ta cần phải nhìn nhận rõràng, cân nhắc kỹ càng trước khi đặt bước chân tiếp theo trên con đường hướng tới mộtnền Y tế tiên tiến, phát triển trong tương lai

viii

Trang 9

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

2.1/ Y học gia đình:

Y học gia đình (Family medicine) [1] là một ngành y học cung cấp dịch vụ y tế cho mọi

người và mọi lứa tuổi Đây là một ngành của nền y tế căn bản cung cấp dịch vụ y tế liêntục và tổng quát cho các cá nhân, gia đình đủ mọi lứa tuổi, giới tính, bệnh tật của cơ thể.Dịch vụ này tập trung vào thông tin về bệnh nhân dựa vào bối cảnh trong gia đình và xãhội, với mục đích ngăn ngừa bệnh tật và nâng cao sức khỏe

Hình ảnh 01 Cây WONCA_Định nghĩa về y học gia đình.

(Nguồn: WONCA European 2011 Edition [2])

Y học gia đình ra đời trong thập niên 60 của thế kỷ trước Chuyên khoa đó tạo ra BS giađình chủ yếu thực hành ở phòng khám ngoại trú ở các tuyến Y tế cơ sở trong mạng lưới Y

tế Thế giới

Hoàn cảnh ra đời Y học gia đình: Tại các quốc gia đã phát triển, vì lý do kinh tế, hầu hếtviệc chăm sóc sức khoẻ các bệnh mạn tính như: tiểu đường, cao huyết áp, hen suyễn, đã

Trang 10

chuyển từ phòng bệnh nội trú ra phòng khám ngoại trú với các phác đồ điều trị được xâydựng nhằm phân cấp các bước điều trị rõ ràng với sự phối hợp của các chuyên khoa liênquan.

2.2/ Bác sĩ gia đình:

BSGĐ là BS chuyên khoa có kiến thức tổng quát, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe toàn diện,liên tục, cho cá nhân, gia đình và cộng đồng xung quanh phòng khám của mình [3]

BSGĐ chăm sóc ban đầu, chuyển bệnh nhân đến BS chuyên khoa khác khi cần thiết, và

có đầy đủ hồ sơ sức khỏe của từng BN

Có thể thấy, BSGĐ là những thầy thuốc gắn với dân và gần dân nhất Bác sĩ gia đình làbác sĩ hướng về gia đình, biết rõ từng người bệnh trong hoàn cảnh và gia đình của họ,xem xét vấn đề sức khỏe của người bệnh trong hoàn cảnh của cộng đồng và lối sống củangười đó trong cộng đồng

2.3/ Quá trình hình thành và phát triển :

Mô hình bác sĩ gia đình đã phát triển và nhân rộng ở nhiều nước trên thế giới từ Thế kỷ

XX Năm 1960, Y học gia đình ra đời ở Mỹ, Anh và một số nước, đã đáp ứng kịp thờinhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng với sự chuyển đổi mô hình bệnh tật trên toàncầu Năm 1995, có 56 nước đã phát triển và áp dụng chương trình đào tạo Y học gia đình.Hiệp hội Bác sĩ gia đình toàn cầu (WONCA) đã được thành lập năm 1972 và đến nay đã

có gần 100 quốc gia thành viên Hiện nay, mô hình bác sĩ gia đình đã được phát triển rộngrãi không chỉ ở các nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Australia, Canada mà cả ở cácnước đang phát triển như Philippines, Malaysia, đặc biệt Cu Ba là quốc gia được coi làmột hình mẫu về phát triển mô hình bác sĩ gia đình ở các nước đang phát triển

Năm 1998, Dự án phát triển đào tạo bác sĩ gia đình tại Việt Nam với sự tài trợ bởi quĩCMB (China Medical Board of New York) được Bộ Y tế phê duyệt Dự án triển khai đàotạo chuyên ngành Y học gia đình tại các trường: Đại học Y Hà Nội, Đại học Y - DượcThành phố Hồ Chí Minh, Đại học Y Thái Nguyên

Tháng 3 năm 2000, Bộ Y tế chính thức công nhận chuyên ngành Y học gia đình và chophép đào tạo bác sĩ chuyên khoa cấp I Y học gia đình Năm 2002, Trung tâm đào tạo bác

sĩ gia đình được thành lập tại Trường Đại học Y Hà Nội, Đại học Y- Dược thành phố HồChí Minh, Trường Đại học Y Thái Nguyên và bắt đầu triển khai đào tạo chuyên khoa cấp

I Y học gia đình Đến nay đã có thêm nhiều trường đại học khác đào tạo chuyên khoa Yhọc gia đình

Tháng 6 năm 2002 bệnh án Y học gia đình đã được xây dựng; năm 2005 hình thành bệnh

án điện tử y học gia đình đầu tiên và áp dụng tại phòng khám y học gia đình Bệnh việnĐại học Y - Dược thành phố Hồ Chí Minh [4]

x

Trang 11

2.4/ Kiến thức y học và phạm vi hoạt động của BSGĐ:

BSGĐ là người tiếp xúc đầu tiên với bệnh nhân, cung cấp dịch vụ y tế căn bản cho mọibệnh nhân có vấn đề sức khỏe ở cơ thể và tinh thần, cũng như để ngăn ngừa bệnh tật vàphục hồi sức khỏe Như vậy BSGĐ có nhiệm vụ là cố vấn đầu tiên về mọi vấn đề y tế,nên kiến thức mà BSGĐ có được phải bao hàm hết tất cả các lĩnh vực y tế như: nội khoa,ngoại khoa, sản khoa, nhi khoa, bệnh nhiễm, y học cộng đồng và các chuyên khoa khác

Hình ảnh 02 Kiến thức y học và phạm vi hoạt động của BSGĐ.

( Nguồn: Nguyễn Thanh Hiệp (2017) Tong quan BSGD va dieu kien phat tien.pptx)

- Chăm sóc sức khỏe tâm thần

- Nghiên cứu khoa học

- Tự đào tạo thông qua CME đào tạo y khoa liên tục, Y học chứng cớ EBM

YHGĐ

Cộng đồng

Trang 12

- Kỹ năng ra quyết định thích hợp bao gồm lựa chọn các chuyên khoa sâu chobệnh nhân nếu cần.

6 Nguyên lý hoạt động BSGĐ:

- Gần người dân nhất

- Phân bổ hợp lý

- Tiếp cận thuận tiện với các dịch vụ cơ bản

- Mọi người đều có thể sử dụng dịch vụ

- Hoạt động liên tục và cân đối

- Có điều kiện về nhân sự, CSVC, cơ chế phù hợp

2.5/ Lợi ích của mô hình BSGĐ:

Kinh nghiệm của các nước, khi triển khai thành công hoạt động BSGĐ sẽ mang lại hiệu quả:

- Giảm chi phí y tế, tăng tuổi thọ người dân, giảm tỉ lệ bệnh nặng, tăng sự hài lòng của người dân về các dịch vụ y tế

- Công bằng trong chăm sóc y tế

- Giảm nghèo

2.6/ Điều kiện phát triển BSGĐ

Để xây dựng mạng lưới BSGĐ tốt, không thể một cá nhân hay tổ chức nào có thể làmđược mà cần sự kết hợp chặt chẽ giữa các tổ chức, đơn vị

Hình 03 Các điều kiện phát triển BSGĐ ( Nguồn: Nguyễn Thanh Hiệp (2017) Tong quan BSGD va dieu kien phat tien.pptx)

BHYT

BSGĐ

Trang 13

Cũng giống như bất kỳ một ngành nghề hay một lĩnh vực nào mới mở ra, để mọi ngườiquan tâm chú ý đến và tham gia thực hiện thì chúng ta phải có cơ chế, chính sách thu hút.Đối tượng hướng đến đó là người làm BSGĐ và người sử dụng dịch vụ BSGD Chúng tacũng cần phải có cơ chế phù hợp để phát triển mạng lưới BSGĐ tại y tế cơ sở, đặc biệt đốivới tình hình Việt Nam, y tế có sở tại các trạm y tế Một trong những chính sách tạo điềukiện thuận lợi để phát triển mạng lưới BSGĐ nữa là thúc đẩy BHYT toàn dân.

Yêu tố cực kỳ quan trọng khác trong việc xây dựng mạng lưới BSGĐ đó chính là vấn đềkinh phí Nguồn kinh phí phát triển mạng lưới BSGĐ trong giai đoạn đầu chủ yếu từ ngânsách nhà nước, vì vậy cần phân bố ngân sách hợp lý ưu tiên đầu tư phát triển y tế cơ sở.Trong giai đoạn sau, nguồn kinh phí chủ yếu từ dịch vụ khám chữa bệnh, vì vậy cần địnhgiá dịch vụ khám chữa bệnh và thanh toán hợp lý giữa khám chuyên khoa và BSGĐ, cũngnhư giữa các tuyến

BSGĐ là người gần gũi, gắn bó với sức khỏe của người dân, nên phát triển mô hìnhBSGĐ bắt đầu tại tuyến y tế cơ sở đặc biệt là trạm y tế Điều kiện phát triển mô hìnhBSGĐ tại trạm y tế:

- Nhân lực chuyên trách phòng khám BSGĐ được đào tạo và có lịch khám cố định

- Được tăng cường nhân sự để đảm bảo hoạt động khác của trạm y tế

- BHYT ký trực tiếp với trạm y tế, phòng khám BSGĐ

- Danh mục thuốc phù hợp với quy mô hoạt động phòng khám BSGĐ

- Hỗ trợ xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh

- Hỗ trợ chuyển tuyến

- Được hỗ trợ chuyên môn và đào tạo liên tục

- Được hỗ trợ công cụ quản lý hồ sơ sức khỏe

- Giá dịch vụ phù hợp

- Được sử dụng tối đa cơ sở trạm y tế Phát triển quy mô như phòng khám đa khoa

Về nguồn nhân lực y tế làm BSGĐ, hiện tại chúng ta có BS đa khoa đã tốt nghiệp và cóthâm niên thực hành lâm sàng trong hệ thống y tế công Bên cạnh đó còn có BS phòngmạch tư đã có kinh nghiệm trong việc khám chữa bệnh cho người dân địa phương NhưngBSGĐ với những đặc thù riêng về hoạt động và chức năng, nó được xếp vào một chuyênkhoa riêng như những chuyên khoa khác Vì vậy để sử dụng được những nguồn lực trên,cần đào tạo thêm với loại hình phù hợp để cấp chứng chỉ hành nghề BSGĐ, thứ hai, cần

có cơ chế phù hợp khuyến khích BS phòng mạch tư, PK đa khoa tư nhân tham gia mạng

lưới Trong tương lại, nguồn nhân lực BSGĐ là những tân BS đa khoa mới ra trường

được tiếp tục đào tạo chuyên khoa BSGĐ, vì vậy cần có chính sách phân bố chỉ tiêuBSGĐ/BS chuyên khoa khác phù hợp

Điều kiện khác để phát triển mạng lưới BSGĐ đó là xây dựng thương hiệu phòng khámBSGĐ, nâng cao chất lượng, tạo uy tín trong lòng người dân để thu hút người người dân

Trang 14

sử dụng dịch vụ BSGĐ Bên cạnh đó, cần xây dựng thêm hệ thống y tế hỗ trợ hoạt động

PK BSGĐ, gồm:

+ chuyên môn

+ chuyển tuyến

+ cấp cứu ngoại viện

+ thông tin phản hồi

+ ưu tiên cho các BN được giới thiệu bởi BSGĐ

+ thanh toán BHYT với mức cao

+ chi trả BHYT hướng dự phòng

+ chuẩn hóa hệ thống labo xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh

+ thuốc đầy đủ, hợp lý

Một việc hết sức quan trong khác đó là công tác truyền thông, để mọi người dân biết đếnmạng lưới BSGĐ, hiểu được lợi ích, hiệu quả mà BSGĐ mang lại, từ đó sử dụng dịch vụphòng khám BSGĐ nhiều hơn, tạo điều kiện để phát triển mạng lưới BSGĐ rộng rãi hơn

xiv

Trang 15

 Tham gia điều trị BV, ít khám tại nhà.

 Mô hình đa dạng: cá nhân, nhóm, hiệp hội…

 Không mô hình y tế phân tuyến

- Đào tạo:

 3 năm sau đại học

 Đào tạo liên tục suốt đời

 90% trường y có khoa YHGĐ

b Mô hình của Anh:

- Bảo hiểm y tế toàn dân (nhà nước cấp)

- BSGĐ:

 Theo dõi 1500-2000 BN (ràng buộc)

 Khám ~30 BN/ngày

 Trả theo đầu dân quản lý (BHYT)

 Khám tại nhà nhiều, không điều trị tại BV

 Mô hình nhóm nhỏ

 Mô hình y tế phân tuyến, bắt buộc

- Đào tạo:

 4 năm sau đại học (năm cuối tại phòng mạch)

 Đào tạo liên tục suốt đời

 Tất cả trường y có khoa YHGĐ

Trang 16

 Chi trả đa dạng: 3 hình thức.

 Khám tại nhà 1/3, không điều trị tại BV

 Mô hình y tế phân tuyến, không bắt buộc

- Đào tạo:

 3 năm sau đại học (2 năm cuối tại phòng mạch)

 Đào tạo liên tục suốt đời

 Tất cả trường y có khoa YHGĐ

 Khám chăm sóc tại nhà, đa dạng

 Mô hình đa dạng: cá nhân (già); PK đa khoa (trẻ)

 Mô hình y tế không phân tuyến, không bắt buộc

- Đào tạo:

 Chưa có chuyên khoa (định hướng 2 năm)

 Chưa công nhận, đang phát triển

 50% trường y có khoa YHGĐ

e Mô hình của Cuba:

- Chăm sóc y tế miễn phí (nhà nước)

- BSGĐ:

 Theo dõi 600-800 BN (ràng buộc)

 Khám ~30 BN/ngày

 Chi trả bởi nhà nước (lương)

 Khám tại nhà nhiều, không điều trị tại BV

 Mô hình cá nhân (phối hợp y tá)

- Đào tạo:

 2 năm sau đại học (thực tập tại phòng mạch)

 Tất cả trường y có khoa YHGĐ

 Người dân hài lòng cao

3.2 / Hoạt động BSGĐ tại Việt Nam :

xvi

Trang 17

Tại Việt Nam, hoạt động bác sĩ gia đình đã bước đầu được tổ chức tại một số thành phốlớn như Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Khánh Hòa, TP.

Hồ Chí Minh, Cần Thơ với các mô hình khác nhau: Trung tâm bác sĩ gia đình, phòngkhám bác sĩ gia đình là cơ sở thực hành của các trường đại học chuyên ngành y, phòngkhám bác sĩ gia đình tư nhân, trạm y tế có hoạt động bác sĩ gia đình…Các trung tâm,phòng khám bác sĩ gia đình đã tổ chức khám chữa bệnh và thực hiện các dịch vụ y tế tạiđơn vị hoặc tại nhà theo yêu cầu của người bệnh, thực hiện quản lý theo dõi sức khoẻ cho

cả hộ gia đình theo nguyên tắc bác sĩ gia đình

Tuy vậy, hoạt động bác sĩ gia đình ở nước ta là mô hình mới, chưa được quan tâm đầu tưtương xứng, chưa có chức danh bác sĩ gia đình ở các cơ sở y tế, hoạt động còn tản mạn,nhiều hạn chế, bất cập, chưa có đầy đủ cơ sở pháp lý và hiệu quả chưa cao

Theo một nghiên cứu về thực trạng, nhu cầu và các điều kiện cần thiết để phát triển đàotạo bác sĩ gia đình ở Việt Nam năm 2013 [7], kết quả cho thấy:

- Thực trang công tác đào tạo y học gia đình:

Nhiều trường trong đó điển hình là ĐH Y Hà Nội, Y Huế, Y Cần Thơ, Y Hải Phòng đãthành lập bộ môn Y học gia đình Việc đào tạo thạc sĩ YHGĐ đã được chấp thuận từ năm2010-2012 nhưng vì thiếu học viên nên vẫn chưa được thực hiện Chương trình đào tạochuyên khoa I BSGĐ còn nhiều bất cập, thiếu cơ sở PK BSGĐ đúng chuẩn để thực tập

Biểu đồ 1 Số lượng học viên bác sĩ chuyên khoa cấp I y học gia đình qua các năm.

- Nhu cầu đào tạo bác sĩ gia đình:

Khảo sát 53 bác sĩ đang công tác tại các phòng khám, trạm y tế cho thấy, có 49 người có nhu cầu học lên (92%), trong số đó chỉ có 14 người mong muốn học về y học gia đình (26%)

Ngày đăng: 19/10/2017, 16:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w