1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài thu hoạch module quản lý bệnh viện và module kinh tế y tế BSGD

40 335 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc đưa 2 module Quản lý bệnh viện và Kinh tế Y tế vào chương trình giảng dạy cho thấy cái nhìn của Khoa Y - Đại học Quốc gia TP HCM mà đặc biệt là thầy Nguyễn Thế Dũng : bác sĩ không c

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

KHOA Y

BÀI THU HOẠCH MODULE QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

VÀ MODULE KINH TẾ Y TẾ

BÁC SĨ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM

NGUYỄN XUÂN TOÀN MSSV: 125272105

Tp HCM, 08/2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Quản lý bệnh viện và Kinh tế Y tế là 2 Module chỉ riêng Khoa Y – Đại học quốcgia TPHCM triển khai cho sinh viên của trường Đây là nét riêng, nét đặc biệt chỉ cóKhoa Y - Đại học Quốc gia TP HCM Việc đưa 2 module Quản lý bệnh viện và Kinh

tế Y tế vào chương trình giảng dạy cho thấy cái nhìn của Khoa Y - Đại học Quốc gia

TP HCM mà đặc biệt là thầy Nguyễn Thế Dũng : bác sĩ không chỉ giỏi chuyên môn màcòn biết cách quản lý, phương thế hoạt động của hẹ thống y tế cũng như cần nắm bắtđược xu thế phát triển của ngành

Với lòng biết ơn sâu sắc, em cũng xin gửi lời cảm ơn đến thầy Nguyễn ThếDũng, người chủ nhiệm bộ môn tận tình cũng như là người thầy đã không tiếc thờigian, công sức để đứng lớp giảng dạy, hướng dẫn chúng em từng chút từng chút một,

từ những vấn đề to lớn nhất đến những vấn đề chi tiết nhất của môn học, của cuộc đờihành nghề y

Xin cảm ơn thầy Nguyễn Tuấn Kiệt, thầy có những buổi nói chuyện rất sâu sắc,những buổi nói chuyện của thầy nó giống như ngọn lửa thôi thúc, ngọn lửa bùng sángđam mê, hy vọng trong em càng thêm mãnh liệt

Xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô đã tham gia giảng dạy trong 2 module,

em các thầy cô tuy rất bận nhưng với cái lòng yêu nghề, với hy vọng xây dựng một nền

y tế Việt Nam tốt hơn đã bỏ thời gian, công sức của mình đến dạy, đến chia sẻ vớichúng em

Sau 3 tuần học em thật sự được khai sáng rất nhiều, không phải về chuyên môn,

nó giúp em hiểu biết thêm rất nhiều về quản lý y tế, hệ thống y tế, tương lai của ngành

y tế Việt Nam, từ đó sẽ giúp cho em thêm rất nhiều khi ra trường

Em hy vọng thầy Dũng, thầy Kiệt và tất cả thầy cô vẫn sẽ tiếp tục giảng dạy 2module Quản lý bệnh viện và Kinh tế Y tế cho các đàn em kế cận của trường, để chocác em có thể nhận được những điều mà các thầy đã truyền đạt cho chúng em trong 3tuần học vừa qua

Trân trọng

Tp.HCM, ngày 01 tháng 08 năm 2017

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Xuân Toàn

Trang 4

TÓM TẮT

Qua tìm hiểu về mạng lưới YHGĐ và BSGĐ Trong bài viết này đề cập chủ yếuđến: xây dựng mạng lưới BSGĐ là biện pháp đặc hiệu nhằm sử dụng kinh phí y tế hiệuquả, tiếp cận dịch vụ y tế thuận lợi và giải quyết quá tải bệnh viện tại Việt Nam; hiệntrạng BSGĐ tại Việt Nam sau 20 năm triển khai và một số đề xuất phát triển mạng lướiBSGĐ tại Việt Nam

Trang 5

2.6/ Mối quan hệ của BSGĐ với BSCK khác trong hệ thống y tế: 6

3.1/ Lịch sử phát triển BSGĐ tại Việt Nam: 93.2/ Xây dựng mạng lưới bác sĩ gia đình: 10

Trang 6

Tài liệu tham khảo 15Phụ lục: QUYẾT ĐỊNH Số: 935/QĐ-BYT 16

Trang 7

DANH SÁCH HÌNH VẼ

Danh sách hình

Hình 1 Cây WONCA- Giá trị cốt lõi và đặc điểm của Bác sĩ

Gia đình (ảnh http://www.woncaeurope.org/ truy cập ngày 03-08-2017)

3

Hình 2 Nghiên cứu của White và cộng sự năm 1961 về hệ sinh

Hình 3 Tương quan giữa thời điểm được chăm sóc sức khỏe và

gánh nặng bệnh tật, chi phí y tế (Nguồn: Robert E.

Rakel, Textbook of Family Medicine, 9th, p18) 5

Kiến thức y học và phạm vi hoạt động của BSGĐ [6]

Sự phối hợp chăm sóc người bệnh của bác sĩ gia đình tron hệ thống y tế [6]

Các thành tố để phát triển mạng lưới bác sĩ gia đình [6]

Mạng lưới đối tác tham gia trong chương trình hợp tác với Khoa YHGĐ- ĐH LIEGE (Bỉ) [6]

Mô hình Bác sĩ Gia đình (ảnh khoe/20160305/bao-hiem-y-te-se-tra-khi-kham-bac-si-gia-dinh/1062076.html truy cập 01-08-2017)

http://tuoitre.vn/tin/song-66

101112

Trang 9

DANH SÁCH CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

BSGĐ: Bác Sĩ Gia Đình.

BYT: Bộ Y tế.

BHYT: Bảo Hiểm Y Tế.

BSCK: Bác Sĩ Chuyên Khoa.

Trang 10

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU

Theo Tổ chức Y tế thế giới WHO, sức khỏe được định nghĩa nguyên văn như sau:

Health is a state of complete physical, mental and social well-being and not merely the absence of disease or infirmity [1] Có thể tạm dịch như sau: “Sức khỏe là trạng thái

thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tìnhtrạng không có bệnh hay thương tật”

Người người đều mong muốn bản thân, gia đình, những người mà mình quan tâm,

… đề có sức khỏe Mong muốn có sức khỏe là một mong muốn chính đáng của mỗi cá

nhân Chính vì vậy người dân đến với hệ thống y tế nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sócsức khỏe của bản thân cũng là một việc chính đáng

Nhưng có cần thiết phải vượt tuyến không? Trong khi tuyến cơ sở vẫn đủ đảm bảokhả năng khám chữa bệnh Bà Tống Thị Song Hương, nguyên Vụ trưởng Bảo hiểm y

tế, Bộ Y tế từng phát biểu: "Có đến 70% số bệnh không cần thiết phải vượt tuyến Nếu

cứ vượt thì bệnh nhân sẽ tốn kém chi phí ăn ở, đi lại không cần thiết, tuyến trên cũngkhông còn thời gian đầu tư phát triển chuyên môn sâu"[2]

Vượt tuyến là vấn đề nan giải của ngành Y tế hiện nay đều xuất phát từ y tế tuyến

cơ sở, hệ thống trạm y tế từ huyện tới xã Nguyên nhân là do bệnh viện tuyến cơ

sở không thể thuyết phục bệnh nhân ở lại, y tế dự phòng dưới cơ sở không làm tốt côngtác phòng bệnh cho người dân dẫn tới tình trạng quá tải bệnh viện tuyến trên, các bệnhviện luôn chật cứng bệnh nhân

Có nhiều hướng giải quyết cho trình trạng này, trong đó xây dựng mạng lưới Bác

sĩ Gia đình là giải pháp phát triển bền vững, không chỉ giúp giải quyết tận gốc tìnhtrạng quá tải bệnh nhân mà còn hướng đến mục tiêu cung cấp dịch vụ chăm sóc sứckhỏe (CSSK) toàn diện và liên tục, xây dựng một nền y tế phòng bệnh hơn chữa bệnh.Đây là mô hình hiện rất phát triển và mang lại nhiều thành công cho các quốc gia pháttriển trên thế giới

Hội nghị quốc tế "Bác sĩ gia đình" ngày 18/11, tại TP.HCM, do Hội Khoa họcKinh tế Y tế Việt Nam, Sở Y tế TP.HCM và Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạchphối hợp tổ chức BS Nguyễn Thế Dũng phân tích:"Việc quá tải bệnh viện, việc chưa

có mạng lưới bác sĩ gia đình ảnh hưởng không tốt đến chất lượng hoạt động của bệnhviện và người dân khó tiếp cận với dịch vụ y tế có chất lượng với chi phí hiệu quả”.Còn PGS Ngô Minh Xuân nhận định: "Nếu mô hình Bác sĩ gia đình được đầu tư, pháttriển đúng mức sẽ giúp người dân được chăm sóc sức khỏa toàn diện và sẽ chủ độnghơn trong phòng bệnh Y học gia đình chính là chìa khóa để giải quyết cùng lúc 2 vấnđề: giảm chi phí y tế và giảm quá tải bệnh viện" [3]

Chính vì vậy xây dựng mạng lưới BSGĐ tại Việt Nam là cần thiết Xây dựngmạng lưới BSGĐ là biện pháp đặc hiệu nhằm sử dụng kinh phí y tế hiệu quả, tiếp cậndịch vụ y tế thuận lợi và giải quyết quá tải bệnh viện

Trang 11

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

2.2/ Định nghĩa:

Theo Hiệp hội BSGĐ Hoa Kỳ (AAFP): Y học gia đình là một chuyên ngành ykhoa cung cấp sự CSSK liên tục, toàn diện cho cá nhân và gia đình Đó là một chuyênngành lớn được tích hợp từ sinh học, khoa học hành vi và lâm sàng Phạm vi của Y họcgia đình bao gồm tất cả các lứa tuổi, giới tính, mỗi hệ cơ quan và mọi bệnh thực thể[4]

Theo BYT Việt Nam: BSGĐ là bác sĩ đa khoa thực hành chăm sóc từ đầu, toàndiện, liên tục cho người bệnh, có mối quan hệ lâu dài và bền vững với người bệnh, lànhững thầy thuốc gắn với người dân nhất

2.3/ Lịch sử hình thành:

Ở thập niên 60 của thế kỷ trước tại các quốc gia đã phát triển, vì lý do kinh tế, hầu hếtviệc chăm sóc sức khoẻ các bệnh mạn tính như: tiểu đường, cao huyết áp, hen suyễn, đãchuyển từ phòng bệnh nội trú ra phòng khám ngoại trú với các phác đồ điều trị được xâydựng nhằm phân cấp các bước điều trị rõ ràng với sự phối hợp của các chuyên khoa liênquan

Hậu quả trực tiếp của việc chuyển dịch này có liên quan trực tiếp đến việc đào tạo,

có nghĩa là các SV, BS theo học các chương trình đào tạo ĐH và sau ĐH đã không có dịpquan sát và thực tập nhiều bệnh lý mạn tính, thông thường như trong phòng bệnh nội trúnhư trước đây nữa trong các đợt luân khoa do các đợt cấp của các bệnh mạn tính này đãđược quản lý hiệu quả tại các phòng khám ngoại trú với các phác đồ phân cấp rõ ràng màkhông cần phải nhập viện Ngoài ra các học viên nêu trên lại có ít cơ hội để quan sát vàthực hành quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân, đặc biệt là việc chăm sóc liên tục vốnđược chuyển sang phòng khám ngoại trú từ lâu

Trang 12

Bên cạnh đó, nhiều vấn đề quan trọng và mới như dự phòng, thăm khám bệnhngoại trú, quản lý phòng khám, vai trò của môi trường và gia đình trong bệnh tật, vai tròcủa huy động nguồn tài nguyên cộng đồng trong chăm sóc sức khỏe và áp dụng cácnguyên lý thực hành cải thiện chất lượng liên tục chưa được chú trọng giảng dạy trongcác chương trình đào tạo Y khoa truyền thống.

Để khắc phục khoảng trống nêu trên: việc ra đời của chuyên khoa Y học gia đình

và người BS gia đình là cần thiết [5]

Năm 1972, WONCA - Tổ chức BSGĐ Thế giới được thành lập với 18 thành viênban đầu Hiện nay, WONCA bao gồm 131 nước, là mạng lưới BSGĐ toàn cầu với mụctiêu cải thiện chất lượng cuộc sống các dân tộc trên thế giới thông qua việc xác định vàphát huy giá trị của nó

2.4/ Nguyên lý hoạt động BSGĐ

Hình 1: Cây WONCA- Giá trị cốt lõi và đặc điểm của Bác sĩ Gia đình

Tổ chức WONCA đã đưa ra định nghĩa về Y học gia đình, tóm tắt trong các ý trình bàytrong hình cây trên Chúng ta có thể thấy rằng bác sĩ gia đình có nhiệm vụ tổ chứcchăm sóc sức khoẻ ban đầu

Trang 13

6 nguyên lý hoạt động của BSGĐ[6].

- Chăm sóc ban đầu: Dễ tiếp cận, gần gũi và luôn sẵn sàng, xử trí cấp cứu ban đầu, đachuyên khoa, đáp ứng đa số các tình huống, tự đào tạo liên tục theo đòi hỏi, thực hànhtrong những môi trường khác nhau, bị bó buộc trong điều kiện trang thiết bị nhấtđịnh

- Chăm sóc liên tục: từ khi sinh ra ñến khi qua đời, chăm sóc thường xuyên, bệnh sử : lịch

sử liên tục về bệnh lý của bệnh nhân, theo dõi lâu dài: các bệnh lý mạn tính, hồ sơ bệnh

án YHGĐ, đồng hành cùng bệnh nhân

- Phối hợp chăm sóc y tế: tư vấn cho bệnh nhân, tổng hợp thông tin ở mức độ cá nhân vàcộng đồng, làm việc theo nhóm, điều phối những thành phần khác trong chămsóc y tế cho bệnh nhân, thông tin liên lạc, mạng lưới chăm sóc

- Y tế cộng đồng: quản lý chăm sóc người lành, dự phòng, giáo dục sức khỏe, tầm soát,nghiên cứu lâm sàng, dịch tể học, lượng giá, quản lý chất lượng, tầm quan trọng của kinh

2.5/ Vai trò của BSGĐ trong hệ thống y tế:

Năm 1961, một báo cáo của White và cộng sự [7] được công bố trên The NewEngland Journal of Medicine Các tác giả trình bày một nghiên cứu về hệ sinh thái y học:mối quan hệ giữa con người và môi trường mà họ được CSSK Vào năm 1961, cứ 1000người lớn có nguy cơ thì 750 người trong số họ được báo cáo cảm thấy mắc bệnh hoặc cóchấn thương mỗi tháng Trong số 750 người này, chỉ có 250 người đến hỏi ý kiến bác sĩ(ít nhất 1 lần) Trong số 250 người trên, chỉ có 3 người mắc bệnh nặng đến mức cần nhậpviện, 5 người được chuyển đến bác sĩ khác và chỉ có 1 người cần chuyển đến Bệnh việncủa trường đại học

Trang 14

Hình 2 : Nghiên cứu của White và cộng sự năm 1961 về hệ sinh thái y học.

Nghiên cứu cho thấy nhu cầu CSSK ngoại trú là rất cao, chiếm hơn 90% nhu cầuCSSK., chỉ một số nhỏ cần nhập viện hoặc có những can thiệp chuyên sâu hơn Như vậy,bác sĩ gia đình là nguời tiếp cận số lượng bệnh nhân nhiều nhất, sẽ là ngườitrực tiếp giáo dục sức khoẻ; phụ trách và giải quyết vấn đề quản lý theo dõi bệnhmãn tính tại phòng khám ngoại trú một cách hiệu quả nhất Nói cách khác, hoạtđộng BS gia đình sẽ trực tiếp giảm bớt gánh nặng thời gian và công việc cho các BSchuyên khoa liên quan đồng thời tiết kiệm được kinh phí nằm viện vô ích cho bệnhnhân và bảo hiễm y tế (khoa bệnh nội trú chỉ dành cho các bệnh lý thật sự nặng cầnchăm sóc tích cực với sự hỗ trợ các BS chuyên khoa sâu)

Hình 3: Tương quan giữa thời điểm được chăm sóc sức khỏe và gánh nặng bệnh tật, chi

phí y tế

Trang 15

2.6/ Mối quan hệ của BSGĐ với bác sĩ chuyên khoa khác trong hệ thống y tế:

Trang 16

Hình 4: Kiến thức y học và phạm vi hoạt động của BSGĐ

Hình 5: Sự phối hợp chăm sóc người bệnh của bác sĩ gia đình trong hệ thống y tế

Trang 17

Bảng 1: Sự khác biệt giữa Bác sĩ Gia đình và Bác sĩ Chuyên khoa khác.

Trọng tâm của YHGĐ là mối quan hệ tốt đẹp, bền vững giữa bệnh nhân và thấy thuốctrong khi ở các chuyên khoa khác thì việc chăm sóc sức khỏe tập trung chủ yếu vào việcgiải quyết các vấn đề ở một cơ quan hay bộ phận cụ thể của người bệnh hay sử dụng mộtloại kỹ thuật y khoa nào đó ở từng nhóm tuổi hay giới tính cụ thể Trong khi đó BSGĐđiều trị toàn diện cho 1 bệnh nhân hơn là một bệnh cụ thể Mối quan hệ này được đánhgiá cao, ngày càng duy trì và phát triển, chính điều đó đã làm cho YHGĐ có sự khác biệtvới các chuyên ngành khác

Trang 18

2.7/ Mô hình BSGĐ tại một số nước [8].

Chương trình đào tạo là 3 năm sau đại học, chủ yếu thực hành tại các bệnh việncủa vùng Hơn 90% các trường y có khoa Y học gia đình, trong đó ¼ số khoa được đánhgiá rất mạnh trong lĩnh vực nghiên cứu Người thực hành lâm sàng y học gia đình đềuphải tham giá các khóa đào tạo liên tục suốt đời, đều phải qua kỳ kiểm tra mỗi 7 năm

2.7.2/ Mô hình của Anh

Mô hình thực hành y học gia đình đa dạng, thường là nhóm nhỏ Mỗi bác sĩ phụtrách một danh sách từ 1500 đến 2000 bệnh nhân, đây là những bệnh nhân có đăng kýđược chăm sóc bởi bác sĩ gia đình cụ thể (mang tính chất ràng buột) Mỗi ngày, bác sĩ giađình khám trung bình 30 bệnh nhân, thực hiện nhiều việc khám bệnh tại nhà, không thamgia điều trị tại bệnh viện Bảo hiểm y tế thanh toán các dịch vụ khám ngoại trú theo hìnhthức trọn gói khoán theo năm Mức khoán cho mỗi bệnh nhân được điều chỉnh theo mỗinăm bởi chính phủ Để có thể đến khám tại tuyến trên, bệnh nhân phải được sự giới thiệucủa bác sĩ gia đình (mô hình phân tuyến bắt buộc)

Về đào tạo, bác sĩ gia đình được đào tạo sau đại học với chương trình học 4 năm,trong đó năm cuối thực hành tại phòng khám đa khoa Sau khi đã ra nghề, bác sĩ thựchành lâm sàng vẫn phải tham gia đào tạo liên tục Tất cả các trường y đều có khoa y họcgia đình và có nhiều hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực này

bộ môn Y học tổng quát-y học gia đình

Trang 19

CHƯƠNG III: BÁC SĨ GIA ĐÌNH TẠI VIỆT NAM

3.1/ Lịch sử phát triển BSGĐ tại Việt Nam:

Có thể nói lịch sử phát triển chuyên ngành Y học gia đình tại Việt Nam được bắtđầu rất sớm từ năm 1995 bằng việc Bộ y tế tiến hành khảo sát đánh giá nhu cầu chăm sócsức khỏe ban đầu tại Việt Nam Tiếp theo đó, Bộ y tế đã phát triển dự thảo nhằm kiệntoàn mạng lưới chăm sóc tuyến ban đầu trên cơ sở phát triển chuyên ngành y học gia đìnhcủng cố cho trạm y tế

Năm 1996, với sự ủng hộ của bộ y tế, một đoàn chuyên gia Mỹ của trung tâm bác

sĩ gia đình Maine đã đến làm việc với các trường đại học y dược Trong đó, GS TS PhạmHuy Dũng của trường đại học Y Hà Nội là người tiếp xúc đầu tiên

Năm 1999, 2 hội thảo khác nhau được tổ chức dưới sự hỗ trợ của Bộ y tế, trungtâm Y khoa Maine-Mỹ tại trường ĐH Y Hà Nội với chủ đề “Triết lý và khái niệm Y họcgia đình” và tại trường ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh với chủ đề “Giới thiệu Y học giađình”.9

Năm 2000, thông qua chương trình học bổng cung cấp bởi các đối tác Mỹ, đã có 4giảng viên từ 3 trường y được tham gia đào tạo tại Mỹ trong đó 1 người từ đại học Y HàNội (BS Phạm Nhật A), 1 người từ đại học Y Thái Nguyên (BS Hạc Văn Vinh) và 2người từ đại học Y Dược TP HCM (BS Lê Hoàng Ninh và BS Phạm Lê An)9

Tháng 3 năm 2001, Bộ y tế công nhận chương trình đào tạo Y học gia đình hệchuyên khoa 1 Ngay trong năm đó, cả 3 trường Y thành viên đều đồng loạt tuyển sinhkhóa chuyên khoa 1 đầu tiên Học viên theo học các khóa đầu tiên này đều được hưởngcác ưu đãi do trợ cấp của các đối tác của Mỹ

Đến năm 2002, dưới sự hỗ trợ của trường ĐH Y dược TP HCM, đại học Y CầnThơ bắt đầu thành lập bộ môn hệ sau đại học

Năm 2004, trong chuyến công tác của đoàn chuyên gia thuộc ĐH Liège – Bỉ tiếpxúc với lãnh đạo Sở y tế TP HCM, GS Didiet GIET nhận ra nhu cầu về đào tạo và pháttriển mô hình bác sĩ gia đình tại Việt Nam Kết quả của chuyến công tác là dự án WBI –

Bỉ nhằm tiến hành các khóa đào tạo ngắn hạn cho các thành viên chủ chốt – còn gọi lànhóm tiên phong G9 – đến từ Sở y tế, các bệnh viện và giảng viên trường ĐH Y PhạmNgọc Thạch Nhóm G9 được kỳ vọng sẽ là nồng cốt phát triển chương trình về sau

Tháng 7 năm 2007, Đại học Y Huế kết hợp với các chuyên gia đối tác của Mỹ(Trung tâm Y học Maine) để triển khai dự án hợp tác đào tạo bác sĩ chuyên khoa I YHGĐcho tỉnh Khánh Hòa

Năm 2007: Đại học Y Hải Phòng mở trung tâm Y học gia đình

Trang 20

Tháng 11 năm 2008, đại học Y Dược TP HCM đăng cai tổ chức hội thảoWONCA-ASIA PACIFIC.

Năm 2009, Bệnh viện Bộ nông nghiệp (Hà Nội) tham gia vào mạng lưới hợp tác Yhọc gia đình thông qua dự án WBI tài trợ bởi chính phủ Bỉ

Năm 2010: Đại học Y Hà Nội mở mã ngành đào tạo thạc sĩ Y học gia đình

Tháng 3 năm 2011: thành lập bộ môn YHGĐ tại trường ĐH Y khoa Phạm NgọcThạch

Tháng 9 năm 2011: hội thảo tại Huế đánh dấu kỷ niệm 10 năm dự án phát triển Yhọc gia đình tại Việt Nam

Tính đến thời điểm năm 2013, cả nước đã có 6 trường tham gia đào tạo hệ sau đạihọc về Y học gia đình (chủ yếu là chuyên khoa cấp I) bao gồm ĐH Y Hà Nội, ĐH Y TháiNguyên, ĐH Y Hải Phòng, ĐH Y Dược TP HCM, ĐH Y Phạm Ngọc Thạch, ĐH Y CầnThơ Đa phần các trường đã mở bộ môn riêng (4 trường)

Đa phần giảng viên được đào tạo tại Mỹ và Philipine theo dự án tài trợ bởi các đốitác của Mỹ Trong khuôn khổ chương trình hợp tác với Bỉ, đã có 3 bác sĩ theo học dài hạntại Bỉ

3.2/ Xây dựng mạng lưới bác sĩ gia đình:

Hình 6 : Các thành tố để phát triển mạng lưới bác sĩ gia đình

Ngày đăng: 19/10/2017, 16:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w