Phân tích các biến cố bất lợi của thuốc trên bệnh nhân ung thư vú điều trị hóa chất tại Trung tâm Ung bướu Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ.. Hướng dẫn của NCCN Mạng lưới ung thư Quốc gia
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐA KHOA TỈNH PHÚ THỌ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐA KHOA TỈNH PHÚ THỌ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới TS Nguyễn
Thành Hải – giảng viên bộ môn dược lâm sàng, người thầy đã tận tình hướng dẫn và
động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới GS.TS Hoàng Thị Kim Huyền, cô là
người đã chỉ bảo và cho tôi nhiều ý kiến quý giá để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự hỗ trợ nhiệt tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi từ Ban giám đốc bệnh viện cùng Bs Trần Xuân Vĩnh và các y bác
sĩ, điều dưỡng tại Trung tâm ung bướu, bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của mọi người nơi đây
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới TS Vũ Đình Hòa – giảng viên bộ môn dược lâm sàng, người đã nhiệt tình hỗ trợ và giải đáp các vướng mắc của tôi để tôi có thể hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng yêu thương và cảm ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè, những người đã luôn động viên và hết lòng giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, tháng 4 năm 2017
Học viên
Hoàng Thị Minh Thu
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 TỔNG QUAN BỆNH UNG THƯ VÚ 3
1.1.1 Dịch tễ và các yếu tố nguy cơ ung thư vú 3
1.1.2 Phân loại giai đoạn bệnh 5
1.1.3 Điều trị ung thư vú 6
1.2 PHẢN ỨNG CÓ HẠI VÀ BIẾN CỐ BẤT LỢI CỦA THUỐC 11
1.2.1 Khái niệm phản ứng có hại của thuốc (ADR) 11
1.2.2 Khái niệm biến cố bất lợi của thuốc (ADE) 11
1.2.3 Các ADE thường gặp của hóa chất điều trị ung thư vú 13
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ADR VÀ ADE CỦA PHÁC ĐỒ TRỊ LIỆU ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÚ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 21
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 21
1.3.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 23
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 25
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 25
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 25
2.1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25
Trang 52.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 25
2.2.2 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 26
2.3 CÁC NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 27
2.3.1 Khảo sát thực trạng sử dụng phác đồ trị liệu trong điều trị ung thư vú 27
2.3.2 Phân tích các biến cố bất lợi của thuốc trên bệnh nhân ung thư vú điều trị hóa chất 28
2.4 TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ CÁC TIÊU CHÍ 28
2.4.1 Tiêu chuẩn đánh giá độc tính của hóa chất điều trị ung thư 28
2.4.2 Một số quy định trong nghiên cứu 28
2.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 29
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHÁC ĐỒ TRỊ LIỆU TRONG ĐIỀU TRỊ UTV 30 3.1.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu 30
3.1.2 Hóa chất điều trị ung thư vú 31
3.1.3 Phác đồ điều trị ung thư vú 32
3.2 PHÂN TÍCH CÁC BIẾN CỐ BẤT LỢI CỦA THUỐC TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ VÚ ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT 34
3.2.1 Đặc điểm chung về các biến cố bất lợi do thuốc được ghi nhận 34
3.2.2 Phân tích ADE theo thời điểm ghi nhận, theo đợt điều trị và theo phác đồ 38 3.2.3 Xử trí các biến cố bất lợi trong dùng thuốc 44
Chương 4 BÀN LUẬN 47
4.1 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHÁC ĐỒ TRỊ LIỆU TRONG ĐIỀU TRỊ UTV 47 4.1.1 Về đặc điểm của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu 47
4.1.2 Về hóa chất điều trị ung thư vú 49
4.1.3 Về phác đồ điều trị ung thư vú 50
Trang 64.2 PHÂN TÍCH CÁC BIẾN CỐ BẤT LỢI CỦA THUỐC TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƢ VÚ ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT 514.2.1 Về đặc điểm chung về các biến cố bất lợi do thuốc đƣợc ghi nhận 514.2.2 Về phân tích các ADE theo thời điểm ghi nhận, theo đợt điều trị và theo phác đồ 534.2.3 Về xử trí các biến cố bất lợi trong dùng thuốc 62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ADE Adverse Drug Event : Biến cố bất lợi của thuốc ADN Acid deoxyribonucleic
ADR Adverse Drug Reaction : Phản ứng có hại của thuốc AJCC American joint committee on cancer : Hiệp hội ung thƣ Hoa kỳ
ALAT Alanin amino transferase
ARN Acid ribonucleic
ASAT Aspartat amino transferase
ASR Age-standardized incidence rate : Tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi
NCCN National Comprehensive Cancer
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1: Phân chia giai đoạn ung thư vú của AJCC – 2010 [17] 6
Bảng 3.1: Đặc điểm chung của bệnh nhân tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu 30
Bảng 3.2: Danh mục các hóa chất điều trị ung thư vú 31
Bảng 3.3: Đặc điểm thời gian truyền của các hóa chất 32
Bảng 3.4: Danh mục các phác đồ điều trị ung thư vú 33
Bảng 3.5: Mối liên quan giữa lựa chọn phác đồ và chỉ định điều trị bệnh 34
Bảng 3.6: Tổng kết số bệnh nhân và số đợt điều trị gặp ADE 35
Bảng 3.7: Mức độ độc tính của ADE ghi nhận được 37
Bảng 3.8: Các ADE theo thời điểm ghi nhận 38
Bảng 3.9: Các ADE theo đợt điều trị 39
Bảng 3.10: Tỷ lệ gặp ADE nói chung của các phác đồ điều trị 40
Bảng 3.11: Tỷ lệ ghi nhận các ADE cụ thể của một số phác đồ 42
Bảng 3.12: Các thuốc dùng phối hợp trước và sau khi truyền hóa chất 44
Bảng 3.13: Xử trí các ADE thường gặp trên lâm sàng 45
Bảng 3.14: Xử trí các ADE cận lâm sàng 46
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa ME, ADE và ADR trên thực hành lâm sàng [69] 12Hình 3.1: ADE có tỷ lệ gặp nhiều nhất trên các đợt điều trị 35Hình 3.2: ADE có tỷ lệ gặp nhiều nhất trên các bệnh nhân 36Hình 3.3: Số ADE trung bình/đợt truyền của các phác đồ 41
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư vú (UTV) là loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ nhiều nước trên thế giới và cũng là nguyên nhân tử vong hàng đầu trong các bệnh ung thư ở phụ nữ [93] Theo thống kê của Tổ chức nghiên cứu Ung thư quốc tế IARC (Globocan), năm 2012
có 1,67 triệu phụ nữ được chẩn đoán mắc UTV trên thế giới, chiếm 25% tổng số ca mới mắc của tất cả các loại ung thư; số ca tử vong lên tới 522.000 người [93] Riêng tại Việt Nam, năm 2012 ước tính có 11.000 trường hợp UTV mới mắc, tăng gấp đôi so với con số 5.500 trường hợp trong năm 2000 [93]
Trong điều trị UTV nói riêng và ung thư nói chung, bên cạnh đích đến kéo dài tuổi thọ, nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân đã và đang trở thành một mục tiêu quan trọng của các bác sĩ Hóa trị liệu là phương pháp điều trị hiệu quả, được nhiều nghiên cứu chứng minh về khả năng cải thiện tỷ lệ sống [46] tuy nhiên, hóa trị liệu cũng được biết đến bởi rất nhiều biến cố bất lợi của thuốc (ADE) [34] Vì vậy, việc giám sát chặt chẽ các biến cố này sẽ giúp cho các bác sĩ có phương án xử trí kịp thời, qua đó góp phần nâng cao an toàn điều trị cũng như chất lượng cuộc sống cho các bệnh nhân ung thư
Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ là bệnh viện hạng I trực thuộc Bộ Y tế Với định hướng phát triển mô hình đa trung tâm, bệnh viện đang tập trung phát triển chuyên sâu về một số lĩnh vực hiện đang là vệ tinh của các bệnh viện tuyến Trung ương, trong đó có lĩnh vực ung bướu, hàng năm thu hút một số lượng lớn bệnh nhân đến khám và điều trị tại Trung tâm Ung bướu của bệnh viện Đặc biệt UTV luôn là một trong những loại ung thư chiếm tỷ lệ cao Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay của bệnh viện, việc theo dõi và giám sát các ADE trên bệnh nhân UTV chưa được thực hiện đầy đủ, dược sĩ lâm sàng của bệnh viện hầu như chưa có vai trò tham gia vào công tác này
Vì vậy, với mong muốn góp phần nhỏ cho công tác dược lâm sàng nói chung và cảnh giác dược nói riêng tại khoa Dược Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ, đặc biệt nâng cao công tác hoạt động dược lâm sàng theo Thông tư 31/2012/TT-BYT (20/12/2012) của Bộ Y tế cho các dược sĩ tại Bệnh viện, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
Trang 11“Phân tích thực trạng phác đồ trị liệu và các biến cố bất lợi trên bệnh nhân ung thư vú điều trị tại Trung tâm Ung bướu – Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ”
Với 2 mục tiêu sau:
1 Khảo sát thực trạng sử dụng phác đồ trị liệu trong điều trị ung thư vú tại Trung tâm Ung bướu Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ
2 Phân tích các biến cố bất lợi của thuốc trên bệnh nhân ung thư vú điều trị hóa chất tại Trung tâm Ung bướu Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ
Từ đó tạo cơ sở cho các dược sĩ lâm sàng tại Bệnh viện phối hợp với các bác sĩ
có phương án dự phòng thích hợp và xử trí kịp thời các biến cố bất lợi, đồng thời lựa chọn biện pháp điều trị thay thế phù hợp cho từng bệnh nhân
Trang 12tỷ lệ mắc theo tuổi là 29,7/100.000 dân, cao hơn nhiều so với thành phố Hồ Chí Minh
là 19,4/100.000 dân [74] Theo thống kê của Tổ chức nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC), ước tính năm 2012 Việt Nam có 11.000 trường hợp mới mắc UTV và 4.700 trường hợp tử vong vì UTV [93]
UTV hiếm khi gặp ở lứa tuổi dưới 30 Tỷ lệ mắc bắt đầu tăng nhanh sau tuổi
35, đạt tới đỉnh cao ở tuổi 62 và giảm dần ở sau tuổi 65 Nguy cơ mắc cao nhất rơi vào nhóm phụ nữ ở độ tuổi 55 – 64 (25,7%) [94] Ở Việt Nam, bệnh có xu hướng trẻ hóa với độ tuổi mắc nhiều nhất là từ 45 đến 55 tuổi [74]
UTV được xem là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong đối với phụ nữ ở các nước đang phát triển (chiếm 14,3% tổng số các loại ung thư) và là nguyên nhân thứ hai gây tử vong đối với phụ nữ ở các nước phát triển (15,4%) chỉ sau ung thư phổi [93] Mặc dù có tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi cao tuy nhiên ở các nước phát triển tỷ lệ chết vẫn được giữ ở mức ổn định nhờ các tiến bộ trong sàng lọc phát hiện bệnh sớm và những thành tựu đạt được trong điều trị, đặc biệt là điều trị hệ thống
Trang 131.1.1.2 Các yếu tố nguy cơ
Hiện nay căn nguyên bệnh sinh chưa được rõ, tuy nhiên các nhà nghiên cứu cũng đã tìm ra các yếu tố nguy cơ gây UTV
và 85% UTV ở tuổi 70 Nguy cơ gây ung thư của BRCA2 thấp hơn, chiếm khoảng 60
– 65% ở tuổi 70 [7]
Tiền sử kinh nguyệt và sinh sản
Phụ nữ mãn kinh sau tuổi 55 có nguy cơ cao gấp 2 lần so với những phụ nữ mãn kinh trước tuổi 45 Phụ nữ không có con nguy cơ UTV tăng gấp đôi so với những
phụ nữ có từ 1 đến 2 con [2], [7]
Hormon tránh thai và hormon thay thế sau mãn kinh
Những phụ nữ sử dụng estrogen và progesteron kéo dài để điều trị sau mãn kinh cũng là những đối tượng có nguy cơ cao [6], [7]
Tuổi
Nguy cơ mắc UTV tăng dần theo tuổi Thống kê cho thấy tỷ lệ mắc bắt đầu tăng nhanh sau tuổi 35, tuy nhiên dao động ít ở độ tuổi ngay trước và sau mãn kinh Nguy cơ mắc cao nhất rơi vào nhóm phụ nữ ở độ tuổi 55 – 64 [7], [94]
Chế độ dinh dưỡng
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan giữa chế độ ăn nhiều mỡ động vật với việc tăng nguy cơ mắc UTV Đi kèm với đó là béo phì, đặc biệt là béo nửa người trên cũng được xem là yếu tố nguy cơ cao đối với UTV [7]
Trang 141.1.2 Phân loại giai đoạn bệnh
Để đánh giá giai đoạn bệnh của UTV, hiện nay thường dựa trên hệ thống phân giai đoạn TNM của Hội ung thư Hoa kỳ và Hiệp hội phòng chống Ung thư quốc tế (AJCC) Hệ thống này phân chia giai đoạn ung thư dựa trên 3 yếu tố: khối u (Tumor), hạch (Node) và di căn (Metastasis) [17]
Phân loại TNM [17]:
T: khối u nguyên phát
Tx: không xác định được u nguyên phát
To: không có dấu hiệu u nguyên phát
Tis: ung thư tại chỗ
N2: di căn hạch nách cùng bên dính nhau hoặc dính vào tổ chức xung quanh
N3: di căn hạch vú trong cùng bên
M: di căn xa
Mx: không xác định được di căn xa
Mo: không có di căn xa
M1: di căn xa
Trang 15Bảng 1.1: Phân chia giai đoạn ung thư vú của AJCC – 2010 [17]
Phẫu thuật UTV được chia thành 2 loại chính: cắt bỏ vú và phẫu thuật bảo tồn
vú Bệnh nhân sau phẫu thuật bảo tồn vú thường được điều trị tia xạ nhằm tiêu diệt hết các tế bào ung thư còn sót lại Hầu hết các thử nghiệm lâm sàng được tiến hành đều cho thấy đối với UTV giai đoạn sớm, phẫu thuật bảo tồn kết hợp với xạ trị cho tỷ lệ sống thêm tương đương với phẫu thuật cắt bỏ vú và hiệu quả hơn so với phẫu thuật bảo tồn vú đơn độc [39] Tuy nhiên với một số bệnh nhân, phẫu thuật cắt bỏ vú lại là lựa chọn tốt hơn do bản chất khối u, tiền sử điều trị hoặc kích thước khối u lớn [7]
Trang 161.1.3.2 Xạ trị
Đối với UTV, xạ trị được áp dụng như một điều trị bổ trợ sau phẫu thuật cắt tuyến vú hay phẫu thuật bảo tồn [7] Nghiên cứu thực hiện trên 2 nhóm bệnh nhân UTV điều trị hóa chất đơn độc và kết hợp với xạ trị cho thấy nhóm điều trị kết hợp có
tỷ lệ tái phát thấp hơn và tỷ lệ sống thêm cao hơn rõ rệt so với nhóm chỉ hóa trị đơn độc [70] Bên cạnh đó, một thử nghiệm lâm sàng khác của Recht A còn chỉ ra việc hóa trị trước khi xạ trị sẽ cho kết quả tỷ lệ sống cao hơn khi sử dụng cả 2 phương pháp này sau phẫu thuật [78]
1.1.3.3 Điều trị nội tiết
Điều trị nội tiết (liệu pháp hormon) được biết đến như một phương pháp điều trị đích trong UTV Liệu pháp này được chỉ định khi bệnh nhân UTV có thụ thể nội tiết tố dương tính với mục đích làm chậm hoặc ngừng sự phát triển của các tế bào ung thư nhạy cảm hormon nhờ ức chế khả năng sản xuất hormon của cơ thể hoặc tác động vào các hoạt động của hormon [14] Hầu hết bệnh nhân UTV giai đoạn đầu đều có thụ thể
ER dương tính Các thử nghiệm cho thấy, điều trị nội tiết có thể làm giảm được 50% tỷ
lệ tái phát trên các bệnh nhân này [14] Thời gian điều trị tối ưu cho đến nay vẫn chưa được khẳng định tuy nhiên tất cả bệnh nhân nên sử dụng tối thiểu 5 năm [38] Ngoài điều trị bổ trợ, tamoxifen, toremifen và một số thuốc ức chế aromatase cũng đã được chứng minh có hiệu quả rõ rệt trong điều trị UTV di căn tuy nhiên chưa một liệu pháp hormon nào được FDA chấp thuận trong điều trị tân bổ trợ [31]
1.1.3.4 Điều trị nhắm đích
Liệu pháp nhắm trúng đích ra đời khoảng một thập niên gần đây dựa trên sự phát triển của công nghệ sinh học phân tử và đang được áp dụng rộng rãi trên lâm sàng Các thuốc thuộc nhóm này có tác dụng chọn lọc và gần như trực tiếp lên các tế bào ung thư, ít gây độc cho các tế bào bình thường, vì vậy thường ít tác dụng phụ xảy
ra Chúng đều là các thuốc kháng thụ thể Her-2/Neu, một thụ thể tyrosin kinase, xuất hiện trong khoảng 20 – 25% bệnh nhân UTV Các thuốc điển hình cho liệu pháp nhắm trúng đích bao gồm trastuzumab, pertuzumab, lapatinid, bevacizumab…[14], [81]
Trang 17 Nhóm kháng chuyển hoá
Cơ chế tác dụng: do có cấu trúc tương tự các chất nội sinh nên khi vào cơ thể, các chất này ức chế những enzym quan trọng trong quá trình tổng hợp acid nucleic, do
đó cản trở sinh tổng hợp ADN và ARN, làm cho sự phát triển của khối u bị ngừng lại
Một số thuốc trong nhóm: methotrexat, 6–mercaptopurin, gemcitabin, 5-FU
Nhóm alkyl hoá
Cơ chế tác dụng: khi vào cơ thể, bản thân các chất này hoặc sản phẩm chuyển hóa của chúng tạo liên kết chéo bên trong và giữa các sợi ADN, làm thay đổi cấu trúc ADN và ức chế sự tổng hợp ADN, làm cho tế bào ung thư không nhân lên được
Một số thuốc trong nhóm: cisplatin, cyclophosphamid, melphalan, carmustin
Nhóm kháng sinh trị ung thư
Cơ chế tác dụng: các chất này gắn vào ADN, làm ức chế các enzym cần thiết cho quá trình sao chép và phiên mã hoặc làm đứt các đoạn ADN, do đó gây rối loạn quá trình tổng hợp ADN, ức chế sự phân chia và phát triển của khối u
Một số thuốc trong nhóm: doxorubicin, epirubicin, bleomycin,
Alkaloid và các chất có nguồn gốc tự nhiên
Các taxan:
Cơ chế tác dụng: chúng làm tăng quá trình trùng hợp các dime tubulin tạo thành các vi quản và làm ổn định các vi quản, ức chế quá trình phân bào đồng thời gây ra các bất thường về cấu trúc vi quản trong quá trình phân bào
Một số thuốc trong nhóm: paclitaxel, docetaxel
Trang 18 Các alkaloid dừa cạn:
Cơ chế tác dụng: chúng liên kết đặc hiệu với tubulin là protein ống vi thể, phong bế sự tạo thành các thoi phân bào cần thiết cho sự phân chia tế bào, ức chế quá trình tách đôi nhiễm sắc thể
Một số thuốc trong nhóm: vinblastin, vincristin, vinorebin [3]
1.1.3.6 Phác đồ hóa chất điều trị UTV
Cho đến thời điểm hiện tại, người ta khó có thể kết luận phác đồ trị liệu nào được gọi là “chuẩn” cho bệnh nhân UTV Xu hướng hiện nay, phác đồ có doxorubicin hay được dùng trên thực tế lâm sàng do tính hiệu quả và thuận lợi của nó Phác đồ AC (doxorubicin, cyclophosphamid) là một ví dụ điển hình Bệnh nhân dùng phác đồ này chỉ phải truyền hóa chất trong một ngày với chu kỳ 3 tuần Thực tế cho thấy, 4 đợt AC
có hiệu quả tương đương với 6 đợt CMF – vốn được coi là phác đồ kinh điển trong điều trị UTV [14]
Hướng dẫn của NCCN (Mạng lưới ung thư Quốc gia Hoa Kỳ) cũng đưa ra rất nhiều phác đồ khuyến cáo để điều trị UTV [67] trong đó, AC-T là phác đồ được lựa chọn nhiều nhất trong điều trị UTV giai đoạn sớm do nhiều nghiên cứu đã chứng minh được tính vượt trội của nó so với các phác đồ còn lại [35], [82] Còn với các bệnh nhân UTV giai đoạn muộn, xu hướng phổ biến là lựa chọn taxan phối hợp với anthracyclin Hội nghị chuyên đề về UTV San Antonio 2007 đã gợi ý thời gian sống không bệnh và thời gian sống toàn bộ tăng có ý nghĩa thống kê ở nhóm điều trị với taxan so với nhóm không có điều trị với taxan, kết quả này độc lập với tình trạng thụ thể và tuổi [14]
Dưới đây là một số phác đồ thường dùng trong điều trị UTV [4], [67]
Trang 19Phác đồ AC (chu kỳ 21 ngày x 4 đợt)
Phác đồ FAC (chu kỳ 21 ngày x 6 đợt)
Phác đồ Carboplatin Paclitaxel (chu kỳ 3 tuần)
Trang 201.2 PHẢN ỨNG CÓ HẠI VÀ BIẾN CỐ BẤT LỢI CỦA THUỐC
1.2.1 Khái niệm phản ứng có hại của thuốc (ADR)
Năm 1972, WHO đưa ra định nghĩa chính thức về ADR: “Phản ứng có hại của thuốc là một phản ứng độc hại, không được định trước và xuất hiện ở liều thường dùng cho người để phòng bệnh, chẩn đoán hoặc điều trị bệnh hoặc làm thay đổi một chức năng sinh lý” [91] Định nghĩa này không bao gồm những thất bại điều trị, những phản ứng độc tính có chủ định hoặc vô tình (ví dụ quá liều) hoặc lạm dụng thuốc cũng như những sai sót về đường dùng và việc không tuân thủ trong sử dụng thuốc [91]
Tuy nhiên, năm 2000, Edwards và Aronson đã chỉ ra những hạn chế của định nghĩa này như là nó bao gồm cả những phản ứng có hại rất nhỏ hoặc những phản ứng
có hại gây ra bởi các tạp chất (ví dụ trong thuốc dược liệu) và các thành phần khác không phải thành phần hoạt tính có trong công thức Do đó, các tác giả này đã đề xuất một khái niệm mới: “Phản ứng có hại của thuốc là một phản ứng gây hại đáng kể hoặc bất lợi xảy ra sau một can thiệp có liên quan đến việc sử dụng thuốc Một phản ứng có hại có thể là cơ sở để dự đoán được mức độ nguy hại của việc sử dụng thuốc này để phòng, điều trị hoặc hiệu chỉnh liều, hoặc ngừng thuốc” [40] Đồng thời họ cũng nhấn mạnh, ADR là những tai biến trực tiếp do thuốc xuất hiện ở liều thông thường [40]
1.2.2 Khái niệm biến cố bất lợi của thuốc (ADE)
Theo các định nghĩa của mình, ADR chỉ liên quan đến những tai biến do thuốc gây ra trong khi trên thực tế, phần lớn các tai biến liên quan đến thuốc do bệnh nhân là hậu quả của việc sai sót trong cách sử dụng thuốc của họ Vì thế gần đây, nhiều tác giả
có xu hướng chuộng sử dụng thuật ngữ biến cố bất lợi của thuốc (Adverse Drug Event/Adverse Drug Experience – ADE), được định nghĩa theo WHO: “những tai biến
có thể xảy ra trong quá trình điều trị bằng thuốc nhưng không nhất thiết phải do quá trình điều trị gây ra” [90] Như vậy, ADR là một phần của ADE, thuật ngữ ADE có thể bao hàm cả những tác hại do thuốc gây ra (ADR và quá liều) và những tác hại do việc
sử dụng thuốc (bao gồm cả giảm liều và ngừng trị liệu) [34]
Sai sót trong sử dụng thuốc (Medication error – ME) là một lỗi không cố ý xảy
ra trong quá trình điều trị bằng thuốc mà từ đó dẫn tới hoặc có nguy cơ dẫn tới tác hại
Trang 21cho bệnh nhân [41] Những sự cố này có thể liên quan đến các thao tác chuyên môn, các sản phẩm y tế, hệ thống hoặc quá trình như: kê đơn, thông tin đơn thuốc, ghi nhãn, đóng gói, cách gọi tên, pha chế, cấp phát, cách quản lý, hướng dẫn, theo dõi và sử dụng thuốc [69] ME gặp nhiều hơn ADE tuy nhiên không phải tất cả ME đều gây ra tác hại Trên thực tế chỉ dưới 1% các sai sót trong sử dụng thuốc gây hậu quả không mong muốn [69] Những ME có thể ngăn chặn kịp thời trước khi gây tác hại thường được gọi là các ADE tiềm tàng [87] Người ta ước tính hoảng 25% các ADE trong bệnh viện là do sai sót trong sử dụng thuốc [69]
Mối quan hệ giữa ADR, ADE và ME có thể được minh họa như hình 1.1
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa ME, ADE và ADR trên thực hành lâm sàng [69]
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra ADE là một trong những yếu tố lớn nhất gây ra các biến chứng trên bệnh nhân nội trú [37] Nó ảnh hưởng tới 2 triệu bệnh nhân mỗi năm
và kéo dài thời gian nằm viện trung bình 1,7 – 4,6 ngày [37] Tổn phí do ADE gây ra hàng năm ở Mỹ lên tới 3,5 tỷ USD [49] Mặc dù xảy ra rất phổ biến tuy nhiên 1/3 các ADE đó hoàn toàn có thể ngăn chặn được, đặc biệt là các ADE nghiêm trọng [34] Vì vậy, ADE đã và đang trở thành ưu tiên số 1 trong lĩnh vực giám sát độ an toàn và chất lượng điều trị Trong khi ADR là quan tâm hàng đầu của các cơ quan quản lý dược phẩm và giám sát hậu mãi, ADE – thuật ngữ toàn diện hơn và có ý nghĩa lâm sàng cao hơn, bao gồm tất cả những gì có thể gây bất lợi khi điều trị bằng thuốc – là mục tiêu của những nỗ lực lớn hơn hướng tới sự nâng cao độ an toàn cho người bệnh
Trang 221.2.3 Các ADE thường gặp của hóa chất điều trị ung thư vú
Hầu hết hóa chất điều trị ung thư hiện nay đều là những chất gây độc với tế bào Chúng can thiệp trực tiếp vào quá trình phân bào, tuy nhiên lại không có khả năng phân biệt tế bào thường với tế bào ung thư, vì thế chúng ức chế và tiêu diệt cả các tế bào thường, đặc biệt là những tế bào phân chia nhanh Đây chính là nguyên nhân gây
ra rất nhiều TDKMM của các hóa chất điều trị ung thư Do đó, việc nhận thức và phát hiện sớm các độc tính này đang là một trong những nhiệm vụ hàng đầu cho các bác sĩ
và dược sĩ lâm sàng
Có rất nhiều loại hóa chất cũng như nhiều cách phối hợp chúng khác nhau được
sử dụng trong điều trị ung thư nói chung và UTV nói riêng Điều này có nghĩa các ADE xảy ra trong điều trị UTV sẽ khác nhau phụ thuộc vào loại hóa chất và liều sử dụng của chúng Trong đó, một số ADE xuất hiện phổ biến hơn các ADE khác Chúng bao gồm: nôn, buồn nôn, mệt mỏi, rụng tóc, suy tủy, viêm miệng, tiêu chảy và táo bón [6], [83]
1.2.3.1 ADE trên hệ tạo máu
Ức chế tủy xương là một TDKMM hay gặp trong hóa trị liệu UTV Thông thường, tác dụng ức chế tủy xương của một đợt hóa trị chỉ kéo dài tạm thời Các thay đổi xảy ra sau một vài ngày điều trị và đạt đỉnh trong vòng 10 đến 14 ngày rồi hồi phục dần trong tuần sau đó hoặc lâu hơn
Quá trình sản sinh bạch cầu rất nhạy cảm với sự ức chế tủy xương trong khi sự thay đổi ở hồng cầu và tiểu cầu diễn ra chậm hơn và thường chỉ xuất hiện sau một vài đợt điều trị [83]
Hạ bạch cầu
Bạch cầu bắt đầu hạ sau 5 – 7 ngày kể từ lúc truyền hóa chất và đạt giới hạn dưới trong vòng 2 tuần sau trị liệu Vào tuần thứ 3, số lượng bạch cầu hồi phục trở lại tuy nhiên sẽ nhiều hoặc ít hơn so với bình thường Điều này đồng nghĩa với nguy cơ nhiễm trùng tăng lên Biểu hiện của nhiễm trùng ở bệnh nhân giảm bạch cầu hạt bao gồm nhiệt độ cơ thể >38°C và số lượng bạch cầu giảm dưới 109 tế bào/L [15]
Trang 23Mức độ nhiễm trùng nghiêm trọng nhất ở những bệnh nhân có bạch cầu giảm sâu (<0,1x109/L) hoặc giảm bạch cầu kéo dài quá 14 ngày Trong khi đó, những bệnh nhân điều trị hóa trị liều cao là đối tượng thường xuyên có cả hai điều kiện này Những bệnh nhân điều trị hóa trị thông thường có nguy cơ thấp hơn, thời gian hạ bạch cầu của
họ chỉ kéo dài từ 7 đến 10 ngày Ngoài ra, một số nghiên cứu trên bệnh nhân UTV cho thấy phác đồ điều trị như AT, TAC, docetaxel đơn thuần có tỷ lệ sốt giảm bạch cầu cao hơn 20% so với các phác đồ khác [83]
Tình trạng nhiễm trùng trên những bệnh nhân giảm bạch cầu hạt được coi là một trường hợp cấp cứu cần sự can thiệp của y tế, do đó mỗi bệnh nhân cần được đánh giá và cảnh báo nguy cơ mắc phải Nếu sốt cao kéo dài trên 38°C hoặc có bất kì triệu chứng nhiễm trùng nào như rét run, đau họng, ho kèm khó thở, bệnh nhân cần nhập viện ngay để đánh giá và điều trị Thông thường ở các bệnh viện hiện nay, sốt kèm giảm bạch cầu hạt được điều trị bằng cách truyền kháng sinh hoặc sử dụng yếu tố kích thích bạch cầu hạt (GSCF) NCCN khuyến cáo lựa chọn GSCF như dự phòng đầu tiên cho các bệnh nhân có nguy cơ 20% hoặc cao hơn và cân nhắc dự phòng chúng cho những bệnh nhân có nguy cơ thấp hơn Mặc dù các thử nghiệm lâm sàng đều cho thấy tính an toàn và hiệu quả rõ rệt tuy nhiên chi phí của các thuốc này không hề rẻ [65]
Thiếu máu
Thiếu máu do hạ hồng cầu, được định nghĩa là khi nồng độ Hb <10g/dl, ước tính xảy ra ở khoảng 20% đến 60% bệnh nhân điều trị hóa chất Thiếu máu có thể dẫn đến nhiều triệu chứng như mệt mỏi, da xanh, chóng mặt, nhức đầu, khó thở đặc biệt những lúc gắng sức, hạ huyết áp, tăng nhịp tim và có thể làm nặng thêm bệnh tim, phổi mắc kèm [43] Thiếu máu cũng có thể gây ảnh hưởng xấu đến kết quả xạ trị và hóa trị
do sự oxy hóa thấp ở tế bào làm giảm sự nhạy cảm của các khối u với xạ trị và một số phác đồ hóa trị [16]
Tỷ lệ và mức độ thiếu máu phụ thuộc vào nhiều yếu tố: loại phác đồ, liều dùng của hóa chất và việc bệnh nhân đã điều trị hóa chất gây suy tủy trước đây hay chưa Các phác đồ có cisplatin, carboplatin cùng với các hóa trị liệu thế hệ mới như các taxan, vinorelbin có mức độ gây suy tủy đáng chú ý Ngoài ra, tuổi tác và các bệnh
Trang 24mắc kèm cũng có thể làm tăng nguy cơ thiếu máu và giảm khả năng chịu đựng các triệu chứng thiếu máu ở bệnh nhân [45]
Các biện pháp điều trị thiếu máu hiện nay bao gồm truyền máu, bổ sung sắt trong trường hợp thiếu hụt sắt hoặc dùng các ESA như EPO và darbepoetin-α để kích thích sản sinh hồng cầu [47]
Hạ tiểu cầu
Hạ tiểu cầu cũng là một tác dụng phụ thường gặp của hóa trị liệu UTV Nghiên cứu cho thấy cylophosphamid, 5-FU, vincristin gây giảm tiểu cầu mức độ nhẹ, cisplatin gây giảm mức độ trung bình, paclitaxel gây giảm mức độ cao [36]
Các biểu hiện của giảm tiểu cầu bao gồm dễ bị thâm tím, chảy máu kéo dài hơn bình thường sau khi bị một vết cắt nhỏ, xuất hiện các chấm xuất huyết đốm đỏ hoặc tím trên da, chảy máu chân răng, chảy máu cam và có thể xuất huyết nội tạng nếu số lượng tiểu cầu xuống quá thấp (dưới 1010/L), khi đó, cần truyền tiểu cầu cho bệnh nhân [36] Các bệnh nhân bị giảm tiểu cầu nặng có thể được chỉ định tiêm yếu tố tăng trưởng tiểu cầu mỗi ngày giúp giảm nhu cầu truyền tiểu cầu và giảm nguy cơ chảy máu Một vài yếu tố tăng trưởng tiểu cầu đã được nghiên cứu tuy nhiên đến giờ chỉ có oprelvekin (rIL-11) là được FDA chấp nhận [61]
1.2.3.2 ADE trên hệ tiêu hóa
Viêm miệng
Viêm miệng là một biến cố quan trọng và thường xuyên trên lâm sàng khi điều trị hóa chất UTV Tỷ lệ và mức độ ảnh hưởng của viêm miệng rất khác nhau giữa các hóa chất cũng như giữa các bệnh nhân Một số thuốc như 5-FU, các anthracyclin và các taxan được xếp vào các chất có nguy cơ cao gây viêm miệng [55] Trên phương diện bệnh nhân, tuổi và các bệnh mắc kèm như suy dinh dưỡng, sức khỏe răng miệng kém là các yếu tố liên quan đến nguy cơ viêm miệng [73] Triệu chứng khởi phát của viêm là niêm mạc miệng tấy đỏ trong tuần điều trị đầu tiên, sau đó xuất hiện các vết loét với kích thước có thể tăng dần đi kèm với cơn đau dữ dội gây ảnh hưởng đến việc
ăn uống và vệ sinh răng miệng của bệnh nhân Nó cũng tác động đến cả vị giác, làm thay đổi vị giác của bệnh nhân hoặc khiến cho họ mất vị giác trong suốt quá trình trị
Trang 25liệu Quá trình khỏi bệnh diễn ra trong vòng 2 – 4 tuần sau trị liệu và không để lại di chứng [57] Với một thuốc có nguy cơ gây viêm miệng, thông thường tiến hành chườm đá 15 – 30 phút trước khi truyền thuốc và tiếp tục chườm 30 phút sau khi truyền thuốc Riêng methotrexat liều cao, có thể tiêm tĩnh mạch acid folinic đồng thời với methotrexat kết hợp với uống acid folinic thêm 1 – 2 ngày sau trị liệu [83]
Nôn và buồn nôn
Phần lớn bệnh nhân UTV điều trị hóa bổ trợ đều gặp phải TDKMM này nhưng
ở mức độ nhẹ hoặc trung bình và chỉ dưới 5% bệnh nhân có những triệu chứng nặng [32] Buồn nôn có thể xảy ra vài giờ sau khi dùng thuốc, nặng nhất trong vòng 2 ngày đầu và thường hết nhanh chóng sau 1 hoặc 2 ngày Mức độ nghiêm trọng rất khác nhau
do độc tính của các thuốc Trong khi methotrexat, docetaxel, paclitaxel, 5-FU là những thuốc ít gây buồn nôn thì cisplatin, cyclophosphamid với liều cao hơn 1500mg/m2được xếp vào thuốc có nguy cơ buồn nôn cao Ngoài ra, nhiều bằng chứng cũng cho thấy một số người có nguy cơ nôn và buồn nôn do hóa trị cao hơn những người khác, đặc biệt là những phụ nữ từng bị nghén nặng khi mang thai Những người trẻ cũng dễ gặp phải biến cố này cao hơn người già Để hạn chế độc tính nôn và buồn nôn của các hóa chất, biện pháp dự phòng bằng các thuốc chống nôn thường được ưu tiên sử dụng hơn là đợi đến khi các triệu chứng phát triển [77], [83]
Trước đây, metoclopramid và domperidon là 2 thuốc hay được sử dụng Từ những năm 1990, sự xuất hiện của các thuốc ức chế receptor 5HT3 như ondansetron hay granisetron đã làm giảm đáng kể độc tính này [77] Tác dụng của chúng còn được tăng cường bởi dexamethason, cũng là một thuốc chống nôn hiệu quả, thường được dự phòng cho những trường hợp có nguy cơ thấp [48] Ngoài ra gần đây, một số thuốc chống nôn mới dựa trên cơ chế ức chế receptor NK1 đã được FDA phê duyệt, bao gồm aprepitant (2006) và fosaprepitant (2008) [88]
Tiêu chảy và táo bón
Tiêu chảy và táo bón đều là những biểu hiện của viêm đường tiêu hóa Trong khi cơ chế của táo bón chưa rõ ràng thì tiêu chảy có liên quan đến sự thay đổi diện tích
bề mặt biểu mô hấp thu và tiêu hóa Ngoài ra sự phát triển quá mức của các vi khuẩn
Trang 26cũng được báo cáo như một nguyên nhân quan trọng gây ra tiêu chảy bởi ảnh hưởng của các độc tố mà chúng tiết ra lên niêm mạc ruột [29] Các thuốc có thể gây tiêu chảy hay gặp bao gồm 5-FU, methotrexat, các taxan, trong khí đó các alkaloid lại thường có nguy cơ táo bón [76]
Mức độ tiêu chảy có thể xảy ra từ nhẹ đến nặng, thậm chí đe dọa tính mạng bệnh nhân, vì vậy bệnh nhân luôn cần nhận thức được nguy cơ này Với tiêu chảy nhẹ đến trung bình (4 – 6 lần/ngày), sử dụng loperamid liều thông thường kết hợp với chế
độ ăn uống đủ nước để tránh bị mất nước Với tình trạng bệnh phức tạp hơn hoặc tiêu chảy nặng hơn (>6 lần/ngày), cần cho bệnh nhân truyền dịch và tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da octreotid liều thích hợp để đưa bệnh nhân về tình trạng ổn định [83]
Táo bón là biến cố thường gặp khi điều trị với vincristin và xuất hiện sau 3 – 4 ngày điều trị Tuổi già và liều cao là hai yếu tố có thể gây ra nguy cơ táo bón cao hơn Thông thường các trường hợp táo bón xảy ra ở mức độ nhẹ đến trung bình, chỉ cần điều trị bằng thuốc nhuận tràng hoặc làm mềm phân, tuy nhiên một số trường hợp nặng có thể dẫn đến liệt ruột [83]
1.2.3.3 ADE trên da, móng, tóc
Các hóa chất điều trị UTV có thể gây ra rất nhiều độc tính khác nhau trên da như ban đỏ, mẩn ngứa, sạm da trong đó nghiêm trọng nhất là hội chứng tay – chân Biểu hiện ban đầu của bệnh là ngứa ran và/hoặc tê ở lòng bàn tay, bàn chân, sau đó chuyển sang sưng, đau và xuất hiện các ban đỏ Đôi khi cơn đau rất nặng và bệnh nhân phải cần đến các thuốc giảm đau 5-FU và các taxan là những thuốc có tỷ lệ cao gặp biến cố này [83] Hội chứng tay – chân thường xảy ra khi điều trị liều cao Do đó, giảm liều hoặc sử dụng corticoid hay vitamin B6 liều 200 mg/ngày sẽ giúp cải thiện được tình trạng bệnh [83] Nhìn chung các triệu chứng sẽ biến mất sau khi ngừng thuốc một vài tuần [79]
Độc tính trên móng cũng là một tác dụng phụ hay gặp trong điều trị hóa chất trên bệnh nhân UTV Những bất thường trên móng gây ra do hóa trị liệu rất đa dạng bao gồm loạn dưỡng móng, đen móng, bong móng, nhiễm trùng móng và xuất hiện đốm trắng trên móng [33] Trong đó hay gặp nhất là đen móng và xuất hiện đốm trắng
Trang 27trên móng, đặc biệt là khi điều trị với daunorubicin và methotrexat Cơ chế gây ra đen móng chưa rõ ràng và được nghi ngờ do sự lắng đọng melanin trong khi việc xuất hiện đốm trắng trên móng là do độc tính của các hóa chất ảnh hưởng tới quá trình keratin hóa Tuy nhiên những thay đổi này không ảnh hưởng nhiều và sẽ tự hết sau khi ngưng
sử dụng thuốc, vì vậy các can thiệp là không cần thiết [33]
Trong khi đó, rụng tóc là một độc tính gặp ở hầu hết các bệnh nhân UTV Tuy
nó chỉ là TDKMM thoáng qua và có hồi phục, nhưng lại thường gây ảnh hưởng nhiều đến ngoại hình và tâm lý của bệnh nhân 47% các bệnh nhân ung thư nữ xem rụng tóc
là tổn thương tâm lý nặng nề nhất của hóa trị và 8% thậm chí sẽ ngừng hoặc từ chối điều trị vì e ngại tác dụng phụ này [64] Tỷ lệ rụng tóc dao động khác nhau giữa các loại hóa chất khác nhau: >80% với các thuốc ức chế vi ống (ví dụ paclitaxel), 60 – 100% với các thuốc ức chế topoisomerase (ví dụ, doxorubicin), >60% với các thuốc alky hóa (ví dụ, cyclophosphamide) và 10 – 50% với các thuốc kháng chuyển hóa (ví
dụ, 5-FU phối hợp leucovorin) Đa trị liệu thường gây ra tỷ lệ rụng tóc cao hơn so với đơn trị liệu [86]
Rụng tóc là hậu quả do tác động trực tiếp của các hóa chất lên các tế bào phân chia nhanh của nang lông Tình trạng này bắt đầu sau 1 – 3 tuần điều trị và có thể diễn
ra từ từ hoặc rất nhanh Thông thường sau đó, tóc sẽ mọc trở lại trong vòng 3 – 6 tháng tuy nhiên kết cấu hoặc màu sắc tóc có thể bị thay đổi [86] Một biện pháp được nghiên cứu và sử dụng khá phổ biến trong ngăn chặn độc tính rụng tóc là làm mát da đầu Các kết quả thu được rất khả quan khi áp dụng trên các bệnh nhân điều trị anthracyclin hoặc taxan [63] Tuy nhiên nó cũng khiến một số bệnh nhân cảm thấy lạnh và đau đầu
Do đó, giải pháp vẫn được lựa chọn nhiều nhất cho các bệnh nhân ung thư là sử dụng tóc giả
1.2.3.4 Rối loạn toàn thân
Bệnh nhân UTV điều trị hóa chất có thể gặp nhiều rối loạn toàn thân như mệt mỏi, sốt, rét run, ra mồ hôi, choáng váng Những TDKMM này có thể do tác dụng của hóa trị liệu và do cả bản thân bệnh ung thư
Mệt mỏi là một trong những triệu chứng thường gặp nhất Nghiên cứu cho thấy
Trang 28có tới 80% bệnh nhân hóa trị liệu đều cảm thấy mệt mỏi [62], con số này ở bệnh nhân UTV dao động từ 28% đến 91% [51] Mệt mỏi do tác dụng của hóa chất điều trị khác với những mệt mỏi thông thường mà có thể hết nếu được nghỉ ngơi Đó là cảm giác chán nản, kiệt sức, mất tinh thần, ảnh hưởng đến thể chất người bệnh, tăng nguy cơ mắc bệnh và tác động xấu đến cường độ liều điều trị [83] Trong báo cáo của mình, Jacobsen và Stein nhận thấy các bệnh nhân UTV điều trị hóa chất bổ trợ thường than phiền và mệt mỏi suốt nhiều tháng thậm chí nhiều năm sau khi kết thúc điều trị [52]
Các phương pháp điều trị hữu ích được đề nghị bao gồm thay đổi chế độ điều trị cho bệnh nhân, điều chỉnh các rối loạn chuyển hóa, điều trị trầm cảm và mất ngủ Bên cạnh đó, nhiều bác sĩ còn tư vấn bệnh nhân nên tập thể dục nhẹ nhàng Nghiên cứu trên các phụ nữ UTV cho thấy tập luyện giúp giảm mệt mỏi rõ rệt, thời gian tập luyện càng kéo dài, mức độ mệt mỏi càng thuyên giảm [83] Ngoài ra, có thể sử dụng các thuốc kích thích thần kinh trung ương và corticoid để điều trị mệt mỏi Tuy nhiên chưa có nghiên cứu đầy đủ về tác dụng của những thuốc này [71]
1.2.3.5 ADE trên gan
Gan là nơi chuyển hóa của hầu hết các thuốc trong cơ thể Chính các gốc tự do – sản phẩm của quá trình chuyển hóa qua gan của các hóa chất điều trị ung thư là một trong những nguyên nhân làm suy giảm chức năng các tế bào gan [21] Tổn thương gan do tác dụng của hóa trị liệu có thể được chia thành 3 loại: tắc tĩnh mạch gan, rối loạn chức năng gan và xơ gan mạn tính [83]
Rối loạn chức năng gan được đặc trưng bởi sự tăng nồng độ các enzym gan và billirubin Dấu hiệu này thường được báo cáo liên quan tới điều trị bằng mecarptopurin và cytarabin liều cao, đôi khi là một số thuốc khác như cyclophosphamid, doxorubicin hay vincristin [83]
Tắc tĩnh mạch gan gây ứ máu trong gan, là nguyên nhân khiến cho gan to, cổ trướng, phù nề gan và có thể dẫn tới tử vong Nguy cơ cao của biến cố này được báo cáo trên những bệnh nhân điều trị liều cao với các thuốc thuộc nhóm alkyl hóa [83]
Xơ gan là biến chứng liên quan đến sử dụng methotrexat liều thấp kéo dài Trong khi đó, sử dụng methotrexat liều cao lại gây tăng enzym aminotransferase cấp
Trang 29nhưng không dẫn đến các bệnh gan mạn tính [89]
1.2.3.6 ADE trên thận
Các hóa chất điều trị ung thư có khả năng gây tổn thương thận một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Hậu quả có thể là tắc nghẽn đường tiết niệu hoặc giảm thể tích tuần hoàn do nôn, tiêu chảy, nhiễm trùng và các bệnh lý về tim mạch, những yếu tố được coi là nguyên nhân trước thận [72] Mức độ tổn thương thận tùy thuộc vào thuốc sử dụng, khởi đầu thường là cấp tính nhưng có thể mãn tính do điều trị kéo dài Một số hóa chất điều trị UTV có khả năng gây độc cho thận là cyclophosphamid, ifosfamid và methotrexat liều cao với những thay đổi được biểu hiện bằng viêm bàng quang xuất huyết, thiểu niệu, tiểu khó, tăng creatinin và đau lưng [27]
Để hạn chế độc tính trên thận, cần đánh giá đầy đủ chức năng thận của bệnh nhân qua nồng độ creatinin máu, các chất điện giải và giá trị thanh thải creatinin trước khi điều trị [27]
1.2.3.7 ADE trên tim mạch
Độc tính trên tim mạch của các hóa chất điều trị UTV thường liên quan tới
5-FU, các anthracyclin và các alcaloid
Với 5-FU, độc tính này thường xuất hiện sau 72 giờ kể từ liều điều trị đầu tiên
và xảy ra nhiều hơn với liều cao truyền tĩnh mạch liên tục Thống kê trên các bệnh nhân sử dụng 5-FU cho thấy 50% bệnh nhân gặp đau thắt ngực, 25% gặp nhồi máu cơ tim, 15% bị rối loạn nhịp, phần còn lại có thể bị phù phổi cấp tính, viêm màng ngoài tim hoặc ngừng tim [83]
Tuy nhiên trong các hóa chất điều trị UTV, doxorubicin mới là nguyên nhân gây ra các bệnh tim nhiều nhất [63] Loạn nhịp thoáng qua có thể xảy ra trong vài giờ đầu tiên sau khi uống thuốc và thường không cần điều trị Nguy cơ nghiêm trọng hơn liên quan tới thuốc là bệnh cơ tim mạn tính Đây là một bệnh phụ thuộc liều và có thể xảy ra ngay tại liều thấp Nó có thể dẫn tới suy tim sung huyết, tuy nhiên thường sau một vài tháng thậm chí nhiều năm kể từ liều điều trị cuối cùng của thuốc độc tính này mới xuất hiện Với những người có nguy cơ cao gặp biến cố tim mạch ở ngay liều thấp (ví dụ người cao tuổi hoặc có tiền sử bệnh tim), cần đánh giá phân suất tống máu tâm
Trang 30thất trái trước khi điều trị Nếu chỉ số này chỉ đạt 45% hoặc rơi xuống mức này trong quá trình điều trị cần ngừng thuốc và chống chỉ định sử dụng doxorubicin cho những bệnh nhân này [83] Một nghiên cứu tiến hành trên các bệnh nhân UTV cho thấy 8% bệnh nhân đã từng điều trị doxorubicin có bằng chứng rối loạn chức năng tâm thu hoặc giảm phân suất tống máu thất trái trong khi tỷ lệ này chỉ dưới 1% với các bệnh nhân điều trị cyclophosphamid, methotrexat và 5-FU [92]
Các bệnh cơ tim mạn tính cũng có thể gặp phải khi sử dụng các anthracyclin khác và đều phụ thuộc liều điều trị Phối hợp paclitaxel với doxorubicin làm tăng nguy
cơ gặp các biến cố trên tim mạch do paclitaxel làm giảm độ thanh thải của doxorubicin Ngược lại, phối hợp docetaxel với doxorubicin hoặc phối hợp bất kì taxan nào với epirubicin đều không làm tăng nguy cơ này [83]
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ADR VÀ ADE CỦA PHÁC ĐỒ TRỊ LIỆU ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÚ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, các nghiên cứu về độc tính của hóa trị liệu trên bệnh nhân UTV rất phong phú và đa dạng, bao gồm cả độc tính cấp và độc tính muộn [23], [32], độc tính của hóa chất trị liệu và phác đồ trị liệu [26], [31], độc tính trên bệnh nhân UTV nói chung và trên những đối tượng đặc biệt như bệnh nhân cao tuổi [20], bệnh nhân UTV giai đoạn sớm và bệnh nhân UTV di căn [22], [56] Tuy nhiên trong các nghiên cứu này cũng tồn tại nhiều vấn đề cần quan tâm Một số tác dụng phụ liên quan đến điều trị xuất hiện muộn, rất khó phát hiện và dễ bị nhầm với các bệnh hay gặp ở người cao tuổi như độc tính trên tim mạch của các anthracyclin [54] Nhiều kết quả nghiên cứu có giá trị cao lại được thu thập từ các thử nghiệm lâm sàng được tiến hành từ những thập kỷ trước và hiện nay các phương pháp điều trị trong nghiên cứu đó không còn được áp dụng Ví dụ một thử nghiệm lâm sàng được thực hiện trong giai đoạn 1972–1981 cho thấy melphalan, một thuốc thuộc nhóm alkyl hóa sử dụng trong điều trị bổ trợ UTV làm tăng nguy cơ mắc bệnh bạch cầu myeloid cấp tính lên 24 lần Tuy nhiên hiện nay, melphalan đã được thay thế bằng cyclophosphamid, một thuốc có nguy cơ thấp hơn [42]
Trang 31Ann H.P và cộng sự (2001) đã tiến hành tổng hợp các báo cáo về độc tính cấp
và mạn tính hay gặp của hóa trị liệu và hóa trị liệu kết hợp liệu pháp nội tiết trên bệnh nhân UTV của 12 thử nghiệm điều trị bổ trợ, được thực hiện trong giai đoạn cuối những năm 1980 – 1990 [22] Kết quả chỉ ra các độc tính cấp thường gặp bao gồm nôn, buồn nôn, viêm miệng, rụng tóc, suy tủy, huyết khối, các bệnh thần kinh, đau cơ, mệt mỏi; các độc tính muộn thường gặp bao gồm mãn kinh sớm/vô sinh, tăng cân, rối loạn chức năng tim mạch, rối loạn nhận thức Nghiên cứu cũng phân loại tần suất và mức độ độc tính (theo tiêu chuẩn của Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ) của các tác dụng phụ trên các phác đồ CMF, MF, CAF, FAC, AC, AC – tamoxifen Kết quả cho thấy các phác đồ chứa anthracyclin có nguy cơ mắc các độc tính cấp nói chung và các độc tính độ 3, độ 4 cao hơn
Cùng năm đó, một nghiên cứu khác của Charles L.S và Abram R cũng tổng hợp và phân tích về các độc tính của điều trị bổ trợ trên UTV [32] Ngoài các độc tính
kể trên, nghiên cứu này đề cập thêm đến nguy cơ ung thư thứ hai Trong đó, mối liên quan giữa điều trị cyclophosphamid, methotrexat và 5-FU trong 6 tháng với nguy cơ mắc bệnh bạch cầu myeloid cấp tính hoặc rối loạn sản tủy cao gấp 2 lần đã được báo cáo lại trên nghiên cứu của Curtis R.E và cộng sự (1992) [30]
Năm 2010, H.A Azim Jr và cộng sự tiến hành một nghiên cứu tổng quan toàn diện về độc tính kéo dài của hóa trị bổ trợ trên bệnh nhân UTV bao gồm độc tính trên tim mạch, nguy cơ ung thư thứ hai, rối loạn nhận thức và độc tính trên hệ thần kinh Trong đó, các tác giả cũng bàn luận về ảnh hưởng của hóa trị bổ trợ đến khả năng sinh sản của các bệnh nhân trẻ [53]
Bên cạnh các nghiên cứu tổng hợp, các nghiên cứu chuyên sâu về độc tính của từng hóa chất, từng phác đồ điều trị cụ thể ngày càng được quan tâm Sitzia J và Huggins L (1998) đã ghi nhận được 94 tác dụng phụ trên 52 bệnh nhân điều trị phác
đồ CMF Trong đó tác dụng phụ thường gặp nhất là rụng tóc (91%), mệt mỏi (89%) và giảm cân (68%) [80] Cũng nghiên cứu về phác đồ CMF, Lubna Mehreen và Aziza Khanam (2005) lại nhận thấy sự tăng men gan cùng với sự suy giảm số lượng hồng cầu, bạch cầu trên những bệnh nhân điều trị so với những bệnh nhân mới mắc ung thư [60]
Trang 32Một hướng nghiên cứu khác cũng khá phổ biến trong đánh giá độc tính của hóa trị liệu đó là nghiên cứu chuyên biệt về từng ADR, ADE như nôn, buồn nôn, tiêu chảy, mệt mỏi, rối loạn nhận thức, độc tính trên gan, độc tính trên tim mạch Các nghiên cứu này tìm hiểu về cơ chế bệnh sinh, các yếu tố nguy cơ, tỷ lệ gặp, mức độ độc tính cũng như cách phòng tránh và xử trí ADR, ADE đó Chẳng hạn như với biến cố trên tim mạch có nghiên cứu của Tiersten A và Wo J (2004) về liệu pháp sử dụng cyclophosphamid liều cao trên bệnh nhân di căn [84], nghiên cứu của Appel J.M và cộng sự (2012) về điều trị bổ trợ epirubicin trên bệnh nhân UTV nói chung [23], nghiên cứu của De Azambuja E và cộng sự (2015) về liệu pháp sử dụng cyclophosphamid, methotrexat, 5-FU, epirubicin trên bệnh nhân giai đoạn sớm [25]
1.3.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu về phác đồ trị liệu điều trị UTV đã được tiến hành [1], [5], [11], [12] Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này chủ yếu đánh giá hiệu quả điều trị của các phác đồ Việc đánh giá độc tính của các hóa chất trị liệu khá sơ sài, chỉ đánh giá độc tính trên huyết học (hạ Hb, hạ bạch cầu, hạ BCTT, hạ tiểu cầu), độc tính trên gan (tăng ASAT, ALAT), độc tính trên thận (tăng creatinin huyết), các ADR, ADE khác hầu như không được đề cập đến Các nghiên cứu cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ đánh giá theo tỷ lệ bệnh nhân gặp độc tính đó mà chưa theo dõi cụ thể trên từng đợt truyền
Cho đến nay, chỉ có một nghiên cứu duy nhất phân tích khá chuyên sâu về các ADE của hóa chất điều trị UTV là nghiên cứu của Nguyễn Tuyết Mai (2013) về các biến cố bất lợi của hóa trị liệu trên bệnh nhân UTV điều trị tại viện K [10] Nghiên cứu được tiến hành trên 236 bệnh nhân, theo dõi 1.510 đợt truyền hóa chất và ghi nhận được 33 loại ADE Bên cạnh đánh giá theo tỷ lệ bệnh nhân gặp, tác giả còn đánh giá các ADE theo số đợt truyền và phân tích mối liên quan giữa các ADE với một số yếu
tố nguy cơ Tuy nhiên, để xây dựng một hệ thống toàn diện, vừa bao quát, vừa cụ thể cho quản lý vào theo dõi các biến cố bất lợi trên lâm sàng của hóa chất điều trị UTV nói riêng và các ung thư nói chung tại Việt Nam, cần phải tiến hành nhiều hơn những nghiên cứu chuyên sâu tương tự về ADE, tại các bệnh viện khác nhau và cả trên các đối tượng đặc biệt khác nhau, để từ đó cung cấp những thông tin cần thiết cho các bác
Trang 33sĩ cũng như các dược sĩ lâm sàng về việc lựa chọn được phương pháp điều trị, xử trí khi gặp các ADE và chăm sóc thích hợp cho mỗi bệnh nhân tại mỗi bệnh viện Trên cơ
sở đó, chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm theo dõi, giám sát các ADE thông qua hoạt động dược lâm sàng tại khoa Dược bệnh viện, góp phần nâng cao chất lượng điều trị
và phục vụ bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Phú Thọ
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
Bệnh nhân được chẩn đoán xác định là UTV và có các đợt điều trị hóa chất tại Trung tâm Ung bướu – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ từ 01/08/2016 đến 31/12/2016 Theo dõi tất cả các đợt điều trị của bệnh nhân, không phân biệt điều trị hóa chất đợt đầu hay các đợt tiếp theo
Bệnh nhân có sức khỏe tâm thần bình thường, có khả năng giao tiếp, đối thoại trực tiếp
Bệnh nhân đồng ý tham gia phỏng vấn trực tiếp và ghi nhận thông tin qua điện thoại
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân có điều trị tia xạ đồng thời
Bệnh nhân mắc thêm ung thư thứ hai
Bệnh nhân không điều trị đủ liệu trình do chuyển phác đồ khác, bỏ điều trị, tử vong (trừ trường hợp chuyển phác đồ khác, ngừng điều trị hoặc tử vong do ADR của hóa chất điều trị)
2.1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: thời gian thu thập số liệu trong nghiên cứu kéo dài 5
tháng, từ 01/08/2016 đến 31/12/2016
Địa điểm nghiên cứu: trung tâm Ung bướu – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: thuần tập tiến cứu
Cỡ mẫu nghiên cứu: lựa chọn cỡ mẫu thuận tiện phù hợp với điều kiện đề tài
Chúng tôi không áp dụng công thức tính mẫu Tất cả các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn lựa
Trang 35chọn sẽ được chọn vào nghiên cứu
Phương pháp chọn mẫu: lựa chọn mẫu thuận tiện không xác suất có mục đích
theo tiêu chí chọn mẫu của đề tài Tất cả các đối tượng thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn
và tiêu chuẩn loại trừ đều được đưa vào nghiên cứu
2.2.2 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
2.2.2.1 Công cụ nghiên cứu
Phiếu thu thập thông tin bệnh nhân bao gồm các thông tin chung, thông tin liên quan đến bệnh lý, phác đồ điều trị và các ADE gặp phải trong đợt điều trị (phụ lục 2)
2.2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Một đợt điều trị của bệnh nhân ung thư vú thông thường sẽ kéo dài 14 – 28 ngày tùy thuộc vào phác đồ trị liệu 3 – 4 ngày đầu tiên, bệnh nhân được khám lâm sàng, làm các xét nghiệm cận lâm sàng và truyền hóa chất ở trong viện Kết thúc truyền hóa chất, bệnh nhân trở về nhà và sẽ quay lại viện vào đợt điều trị tiếp theo Trong thời gian nghiên cứu, thông tin của bệnh nhân được Dược sĩ thu thập từ bệnh
án, đồng thời bệnh nhân được phỏng vấn trực tiếp và phỏng vấn qua điện thoại theo trình tự dưới đây
Giai đoạn nội trú
Thông tin thu thập từ bệnh án của bệnh nhân bao gồm:
Thông tin về bệnh nhân: tuổi, giai đoạn bệnh, tình trạng di căn, bệnh mắc kèm, chỉ định điều trị
Phác đồ điều trị: tên phác đồ, đợt điều trị, thời gian điều trị
Đặc điểm sử dụng thuốc:
Hóa chất: tên, hàm lượng, liều lượng, cách dùng
Thuốc dùng kèm: tên, hoạt chất, mục đích điều trị
Các ADE cận lâm sàng và xử trí: bạch cầu, BCTT, Hb, ASAT, ALAT, billirubin, creatinin, *
Trang 36Hàng ngày dược sĩ phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân, ghi lại các thông tin sau:
Các ADE lâm sàng và xử trí: viêm miệng, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, táo bón, rụng tóc,
* ADE cận lâm sàng của lần xét nghiệm trước mỗi đợt truyền hóa chất được tính là ADE của đợt điều trị trước đó (trừ bệnh nhân điều trị hóa chất ở chu kỳ 1)
Giai đoạn ngoại trú
Trước khi xuất viện, bệnh nhân sẽ được cung cấp số điện thoại của Dược sĩ để chủ động thông báo cho Dược sĩ nếu có vấn đề bất thường về sức khỏe
Đồng thời, vào ngày thứ 3, thứ 7 sau khi bệnh nhân về và ngày cuối cùng trước đợt điều trị tiếp theo, Dược sĩ sẽ phỏng vấn bệnh nhân qua điện thoại
Tất cả ADE bệnh nhân gặp phải, thu thập được từ Dược sĩ phỏng vấn hoặc do bệnh nhân chủ động thông báo cho Dược sĩ như: viêm miệng, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, táo bón, rụng tóc, và cách xử trí các ADE này ** đều được ghi nhận
** Trường hợp bệnh nhân chủ động gọi điện cho Dược sĩ thông báo các biến cố cần
sự tư vấn cách xử trí, Dược sĩ phản hồi xin ý kiến của Bác sĩ tại bệnh viện, sau đó tư vấn cho bệnh nhân
Trường hợp gọi điện hỏi bệnh nhân: nếu có biến cố cần xử trí, Dược sĩ phản hồi xin ý kiến của Bác sĩ tại bệnh viện, sau đó tư vấn cho bệnh nhân
2.3 CÁC NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.3.1 Khảo sát thực trạng sử dụng phác đồ trị liệu trong điều trị ung thư vú
Đặc điểm của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu
Đặc điểm tuổi và giới tính
Tình trạng di căn, giai đoạn bệnh, bệnh mắc kèm
Phân loại bệnh nhân theo chỉ định điều trị hóa chất: tân bổ trợ, bổ trợ, di căn hoặc tái phát
Các hóa chất điều trị UTV:
Tần suất sử dụng các hóa chất
Trang 37 Đặc điểm về cách dùng: dung môi, thể tích truyền và thời gian truyền
Các phác đồ điều trị UTV:
Tần suất sử dụng các phác đồ
Mối liên quan giữa lựa chọn phác đồ điều trị và chỉ định điều trị
2.3.2 Phân tích các biến cố bất lợi của thuốc trên bệnh nhân ung thư vú điều trị hóa chất
Đặc điểm chung về các biến cố bất lợi do thuốc được ghi nhận
Danh sách các ADE ghi nhận được, tỷ lệ gặp từng ADE theo số bệnh nhân
và số đợt truyền
Mức độ độc tính của các ADE
Phân tích các ADE theo thời điểm ghi nhận, theo đợt điều trị và theo phác đồ
Xử trí các biến cố bất lợi: thuốc dùng phối hợp, xử trí các ADE thường gặp trên lâm sàng, cận lâm sàng
2.4 TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ CÁC TIÊU CHÍ
2.4.1 Tiêu chuẩn đánh giá độc tính của hóa chất điều trị ung thư
Độc tính của hóa chất điều trị ung thư được chúng tôi đánh giá theo bảng phân
loại độc tính chống ung thư (Common Terminology Criteria for AdverseEvents –
CTCAE phiên bản 4.03) của Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ (National Cancer Institute) [66] (phụ lục 1)
2.4.2 Một số quy định trong nghiên cứu
2.4.2.1 Phân loại chỉ định điều trị
Trong UTV, chỉ định điều trị hóa chất được xác định dựa trên tình trạng, giai đoạn bệnh của bệnh nhân, bao gồm hóa trị UTV giai đoạn sớm và hóa trị UTV giai đoạn di căn hoặc tái phát Đối với hóa trị giai đoạn sớm, hướng điều trị có thể là bổ trợ hoặc tân bổ trợ [7]
Theo định nghĩa của Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ [97], điều trị tân bổ trợ là bước điều trị đầu tiên để thu nhỏ kích thước khối u trước khi biện pháp điều trị chính
Trang 38được thực hiện (thường là phẫu thuật) Điều trị bổ trợ là liệu pháp bổ sung, được thực
hiện sau điều trị triệt căn đầu tiên (thường là phẫu thuật) nhằm mục đích giảm nguy cơ
tái phát UTV
Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ định điều trị hóa chất cho bệnh nhân được
phân thành 3 nhóm: tân bổ trợ, bổ trợ, di căn hoặc tái phát
2.4.2.2 Xác định ADE và mức độ độc tính của ADE
Mỗi một biến cố xảy ra như buồn nôn, nôn, sốt, tiêu chảy, táo bón, rụng tóc
được tính là 1 ADE
Một bệnh nhân được đánh giá là gặp ADE đó nếu có ít nhất một đợt truyền gặp
ADE độ 1 trở lên theo Tiêu chuẩn độc tính CTCAE (phụ lục 3)
Một đợt truyền của bệnh nhân được đánh giá là gặp ADE đó nếu ADE này gặp
ít nhất 1 lần trong thời gian bệnh nhân điều trị nội trú hoặc trong thời gian bệnh nhân
ngoại trú
Một thời điểm của bệnh nhân được đánh giá là gặp ADE đó nếu ADE này gặp ít
nhất 1 lần tại các lần phỏng vấn
Mức độ độc tính của 1 loại ADE được quy ước là mức độ độc tính cao nhất của
ADE đó trong đợt truyền Trong bảng Tiêu chuẩn độc tính CTCAE, mức độ độc tính
tăng dần theo thứ tự: độ 1, độ 2, độ 3, độ 4, độ 5
2.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU
Các thông tin thu thập được mã hóa và xử lý số liệu bằng Excel và phần mềm
SPSS 23.0 với các thuật toán thống kê:
Mô tả trung bình, độ lệch chuẩn, min, max
Kiểm định so sánh:
So sánh tỷ lệ: dùng test χ2 và McNemar
Sự khác biệt được coi là có ý nghĩa thống kê khi p<0,05
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHÁC ĐỒ TRỊ LIỆU TRONG ĐIỀU TRỊ UTV
3.1.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu
Trong thời gian 5 tháng kéo dài từ 8/2016 đến 12/2016, nghiên cứu thu được 59 bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn Đặc điểm của các bệnh nhân được thể hiện trong bảng 3.1
Bảng 3.1: Đặc điểm chung của bệnh nhân tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu
Trang 40Nhận xét:
Có 59 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, 100% bệnh nhân là nữ giới, có độ tuổi trung bình 50,8±10,1 tuổi Phân chia bệnh nhân theo nhóm tuổi, nhóm bệnh nhân từ 45 – 55 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với trên 50%, nhóm bệnh nhân dưới 45 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất với khoảng 20%
Các bệnh nhân ở giai đoạn III, IV chiếm tỷ lệ rất cao (61,0%), trong đó 8 bệnh nhân (13,6%) đã có di căn Các vị trí di căn bao gồm: xương, gan, phổi và não
9 bệnh nhân (15,3%) ngoài UTV còn có tiền sử mắc các bệnh khác, bao gồm: loét dạ dày tá tràng, tăng huyết áp, huyết áp thấp, thoái hóa cột sống và thấp khớp
Các bệnh nhân chủ yếu được điều trị bổ trợ (hơn 50%) 27% bệnh nhân được chỉ định điều trị tân bổ trợ và 22% bệnh nhân thuộc nhóm điều trị di căn hoặc tái phát
3.1.2 Hóa chất điều trị ung thư vú
3.1.2.1 Danh mục các hóa chất điều trị ung thư vú
Danh mục các hóa chất điều trị ung thư vú sử dụng trong mẫu nghiên cứu được trình bày trong bảng 3.2
Bảng 3.2: Các hóa chất sử dụng trong điều trị ung thư vú