1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu sự thay đổi của một số chỉ số hóa sinh sau khi sử dụng gạo mầm vibigaba ở người 55 70 tuổi mắc hội chứng chuyển hóa

90 254 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 2,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên thế giới, có nhiều nghiên cứu cho thấy việc sử dụng GBR thay cho gạo thườngcó tác dụng cải thiện các chỉ số hóa sinh có vai trò quan trọng trong chẩn đoán cũng như đánh giá việc điề

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ CHÂM

NGHIÊN CỨU SỰ THAY ĐỔI CỦA MỘT SỐ CHỈ SỐ HÓA SINH SAU KHI SỬ DỤNG GẠO MẦM

VIBIGABA Ở NGƯỜI 55 - 70 TUỔI MẮC

HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ CHÂM

NGHIÊN CỨU SỰ THAY ĐỔI CỦA MỘT SỐ CHỈ SỐ HÓA SINH SAU KHI SỬ DỤNG GẠO MẦM

VIBIGABA Ở NGƯỜI 55 - 70 TUỔI MẮC

HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA

CHUYÊN NGÀNH: HÓA SINH DƯỢC

MÃ SỐ: 60720408

LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 TS ĐÀO THỊ MAI ANH

2 PGS TS TRƯƠNG TUYẾT MAI

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tôi đã nhận được sự giúp quý đỡ báu của các thầy cô giáo, các chuyên gia trong lĩnh vực cùng đồng nghiệp và gia đình

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tôi xin được bày tỏ lời cảm

ơn chân thành tới TS Đào Thị Mai Anh và PGS TS Trương Tuyết Mai,

những người thầy luôn sát cánh tận tình hướng dẫn, quan tâm giúp đỡ cũng như động viên tôi trong suốt thời gian qua

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Ttrường Đại học Dược Hà Nội, Bệnh viện Nội tiết Hòa Bình đã tạo điều kiện cho tôi được học tập và nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn Bộ môn Hóa sinh, phòng Sau Đại học - Trường Đại học Dược Hà Nội, BGĐ, HĐ Khoa học, HĐ Đạo đức, phòng chức năng, Khoa Hóa sinh CHDD, phòng CĐT - Viện dinh dưỡng Quốc Gia Công ty Cổ phần Lộc Trời (Cty CP TV An Giang),TTYTDP Tỉnh Bắc Ninh, Sở Y tế, TT

Y tế Thành phố Bắc Ninh, Trạm Y tế, UBND phường Vệ An và Ninh Xá, Tp Bắc Ninh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, anh, chị, em đồng nghiệp Bệnh viện Nội tiết Hòa Bình, các bạn trong lớp cao học 20 đã động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian qua

Cuối cùng là lời cảm ơn sâu sắc nhất, tôi muốn gửi tới những người thân, gia đình, đã luôn bên cạnh ủng hộ, giúp đỡ và giành mọi thời gian cho tôi học tập và hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

HV Nguyễn Thị Châm

Trang 4

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

chuyển

chảy

Trang 5

NCEP ATP III (National CH Educated Program Adult Treatment Panel III)

Chương trình giáo dục quốc gia về CH - Hướng dẫn điều trị cho người trưởng thành

plasminogen

Trang 6

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA 3

1.1.1 Sơ lược về lịch sử bệnh 3

1.1.2 Định nghĩa 3

1.1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH 4

1.1.4 Dịch tễ 7

1.1.5 Hóa sinh bệnh 8

1.1.6 Hậu quả của HCCH 13

1.1.7 Điều trị và dự phòng HCCH 14

1.2 TỔNG QUAN VỀ GẠO LỨC NẢY MẦM 18

1.2.1 Nguồn gốc 18

1.2.2 Thành phần hóa học 19

1.2.3 Các tác dụng sinh học của GBR 19

1.2.4 Chế phẩm gạo mầm Vibigaba 21

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 22

2.2 NGUYÊN LIỆU NGHIÊN CỨU 23

2.3 PHƯƠNG PHÁP VÀ TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU 24

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 24

2.3.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu 25

2.3.3 Phương pháp chọn mẫu 25

2.3.4 Phương pháp can thiệp 26

2.3.5 Mô tả công cụ can thiệp và chuẩn bị công cụ 26

2.4 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU VÀ CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ 27

2.4.1 Thu thập các số liệu nghiên cứu tại 2 lần điều tra 27

2.4.2 Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích 29

Trang 7

2.6 PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU 39

2.7 KHỐNG CHẾ SAI SỐ 39

2.8 ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU 40

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41

3.1 KẾT QUẢ VỀ CÁC THÔNG TIN CHUNG THU ĐƯỢC TỪ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 41

3.1.1 Số đối tượng tham gia qua các giai đoạn nghiên cứu 41

3.1.2 Các thông tin cơ bản về đối tượng tham gia nghiên cứu 42

3.2 CÁC KẾT QUẢ VỀ SỰ THAY ĐỔI CHỈ SỐ HÓA SINH MÁU 43

3.2.1 Các kết quả về sự thay đổi liên quan đến chuyển hóa glucose máu 43 3.2.2 Các kết quả về sự thay đổi liên quan đến chuyển hóa lipid máu 45

3.3 KẾT QUẢ VỀ SỰ THAY ĐỔI CÁC CHỈ SỐ KHÁC CỦA HCCH 49

3.3.1 Sự thay đổi của chỉ số nhân trắc, tỷ lệ thừa cân, béo phì 49

3.3.2 Sự thay đổi chỉ số tăng HA của các nhóm đối tượng sau can thiệp 51

3.4 HIỆU QUẢ TÁC ĐỘNG LÊN SỐ LƯỢNG CÁC TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN HCCH 53

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 55

4.1 Về ảnh hưởng của gạo mầm tới các chỉ số hóa sinh 55

4.2 Về ảnh hưởng của gạo mầm tới các chỉ số khác 58

4.3 Về hiệu quả can thiệp trên các bệnh nhân 55 – 70 tuổi mắc HCCH 59

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60

KẾT LUẬN 60

KIẾN NGHỊ 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH của WHO 4

Bảng 1.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH của NCEP/ATP III 5

Bảng 1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH của IDF 6

Bảng 1.4 Tóm tắt các thuốc điều trị HCCH 16

Bảng 2.1 Thành phần dinh dƣỡng có trong 100 g gạo mầm Vibigaba 23

Bảng 2.2 Phân loại BMI theo tiêu chuẩn của Tổ chức y tế thế giới áp dụng cho khu vực Đông Nam Á năm 2000 37

Bảng 2.3 Bảng phân loại HA theo JNC VII năm 2001 37

Bảng 3.1 Số đối tƣợng tham gia ở các giai đoạn nghiên cứu 41

Bảng 3.2 Đặc điểm của đối tƣợng tại thời điểm ban đầu khi tham gia NC 42

Bảng 3.3 Sự thay đổi về nồng độ các chỉ số sinh hóa liên quan chuyển hóa glucose máu 43

Bảng 3.4 Sự thay đổi về nồng độ một số chỉ số sinh hóa liên quan chuyển hóa lipid máu 46

Bảng 3.5 Thay đổi các chỉ số nhân trắc của hai nhóm sau 3 tháng can thiệp 49

Bảng 3.6 Thay đổi về chỉ số HA của hai nhóm sau can thiệp 52

Bảng 3.7 Thay đổi tỷ lệ đối tƣợng với số lƣợng các tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH 53

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Cơ chế bệnh sinh HCCH 9

Hình 2.1 Sơ đồ tuyển đối tƣợng và thực hiện nghiên cứu 24

Hình 3.1 Sự thay đổi tỷ lệ (%) đối tƣợng tăng glucose máu của hai nhóm 44

Hình 3.2 Sự thay đổi tỷ lệ (%) đối tƣợng có chỉ số HbA1c lớn hơn 5,6% của hai nhóm 45

Hình 3.3 Sự thay đổi tỷ lệ (%) đối tƣợng giảm HDL-C 47

Hình 3.4 Sự thay đổi tỷ lệ (%) đối tƣợng tăng CH 47

Hình 3.5 Sự thay đổi tỷ lệ(%)đối tƣợng tăng TG 48

Hình 3.6 Sự thay đổi tỷ lệ (%) đối tƣợng tăng LDL-C 48

Hình 3.7 Sự thay đổi về tỷ lệ (%) đối tƣợng thừa cân BP của cả hai nhóm 50

Hình 3.8 Sự thay đổi về tỷ lệ (%) đối tƣợng vòng eo cao của cả hai nhóm 51

Hình 3.9 Sự thay đổi về tỷ lệ (%) đối tƣợng tăng HA của cả hai nhóm 52

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hội chứng chuyển hóa (HCCH) với tỷ lệ mắc bệnh cao và gia tăng nhanh chóng đang trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó bao gồm cả Việt Nam Theo số liệu thống kê của Viện Dinh dưỡng quốc gia Hoa Kì, năm 2001, số người mắc HCCH chiếm 21%[8] Nhưng chỉ 2 năm sau tỷ lệ này tăng lên gấp 1,5 lần (chiếm 34% dân số)[28] Tại Việt Nam, theo kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng vào năm 2007, có đến 13% dân số trong độ tuổi từ 25-65 tuổi mắc HCCH, riêng tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh con số này là 18%[3] Đáng lo ngại là HCCH là một trong những nguy cơ hàng đầu gây tử vong và dẫn đến những bệnh lý nghiêm trọng khác.Nguy cơ tử vong tăng gấp 2 lần, nguy cơ bị nhồi máu cơ tim tăng gấp 2,5 lần, đột quỵ tăng 3 lần, nguy cơ mắc đái tháo đường (ĐTĐ) týp 2 tăng gấp 3 lần so với những người không mắc HCCH

Bệnh xuất hiện ở nhiều lứa tuổi khác nhau nhưng thường tập trung nhiều

ở người cao tuổi, tuổi càng cao thì nguy cơ mắc HCCH càng cao[76] Điều này khiến cho việc điều trị HCCH vốn đã khó khăn do nguyên nhân cơ chế bệnh sinh phức tạp lại càng trở nên khó khăn hơn bởi tính đặc thù trong trạng thái tâm lý, sự suy giảm chức năng của các cơ quan, sự suy giảm hiệu quả điều trị của thuốc và nguy cơ gặp phải các tác dụng không mong muốn ở người cao tuổi[39] Vì vậy, trên đối tượng người cao tuổi việc tiếp cận điều trị HCCH từ giai đoạn sớm là một biện pháp hiệu quả nhằm hạn chế các nguy cơ

và biến chứng của bệnh Trong các phương pháp điều trị sớm được sử dụng hiện nay thì việc thay đổi lối sống, đặc biệt là việc can thiệp vào chế độ dinh dưỡng được coi là nền tảng[72]

Gạo lức nảy mầm (Germinated brown rice - GBR) là một loại chế phẩm gạo được tạo ra bằng cách cho nảy mầm các loại gạo chỉ xay bỏ vỏ trấu,

Trang 11

chưa được xát lớp cám gạo nhằm giữ nguyên hàm lượng dinh dưỡng đồng thời làm tăng độ ngon miệng khi ăn Trên thế giới, có nhiều nghiên cứu cho thấy việc sử dụng GBR thay cho gạo thườngcó tác dụng cải thiện các chỉ số hóa sinh có vai trò quan trọng trong chẩn đoán cũng như đánh giá việc điều trị HCCH Cụ thể là:GBR có thể làm giảm triglycerid (TG), tăng HDL-C, hạ huyết áp (HA), giảm glucose máu và chỉ số HbA1c [15], [20], [48] Điều này chứng tỏ rằng việc sử dụng GBR như một liệu pháp can thiệp dinh dưỡng có thể

có hiệu quả đối với HCCH Mặc dù gạo là thực phẩm chính trong đại đa số gia đình Việt Nam nhưng việc sử dụng GBR vẫn còn khá mới mẻ và cho đến nay chưa có nghiên cứu đánh giá về tác dụng của loại thực phẩm này trên các chỉ số hóa sinh của người cao tuổi mắc HCCH Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài

“ Nghiên cứu sự thay đổi một số chỉ số hóa sinh sau khi sử dụng gạo mầm Vibigaba ở người 55 – 70 tuổi mắc HCCH” nhằm 2 mục tiêu sau:

gạo mầm Vibigaba ở bệnh nhân 55 – 70 tuổi mắc HCCH tại thành phố Bắc Ninh

vòng 3 tháng đối với tình trạng mắc HCCH ở bệnh nhân 55 – 70 tuổi

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA

1.1.1 Sơ lược về lịch sử bệnh

Khái niệm HCCH đã được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1920 bởi Kylin, một bác sĩ người Thụy Điển, với các biểu hiện tăng HA, tăng glucose máu và gout[65].Những năm sau đó các nghiên cứu của Vague (1947) và Avogaro (1965) đã chỉ ra rằng ngoài HA và glucose máu thì béo phì (BP) cũng là một triệu chứng quan trọng của hội chứng này[11], [100]

Năm 1988, Reaven đã đặt một dấu mốc lớn trong lịch sử nghiên cứu HCCH khi ông bổ sung thêm khái niệm “kháng insulin” như một tiêu chuẩn quan trọng của HCCH Cũng chính Reaven là người đầu tiên đặt tên cho tập hợp các triệu chứng bất thường về chuyển hóa này là "Hội chứng X", X như

là ông đã bỏ BP ra khỏi định nghĩa trong khi triệu chứng này sau đó đã được

bổ sung như là một bất thường nghiêm trọng

Năm 1998, định nghĩa đầu tiên về HCCH ra đời bởi WHO Sau nhiều lần được đề xuất chỉnh sửa, năm 2003, tại hội nghị quốc tế đầu tiên về hội chứng kháng insulin Hoa Kỳ, hội chứng này được công nhận và có mã số bệnh trong

phân loại bệnh quốc tế (ICD-9) là 277.7 với tên gọi đầy đủ là“Hội chứng chuyển hóa”[89]

Trang 13

1.1.3.Tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH

1.1.3.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH của Tổ chức y tế thế giới (WHO)

Năm 1998 Tổ chức y tế thế giới (WHO) là tổ chức đầu tiên đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH Tiêu chuẩn này nhấn mạnh vai trò của kháng insulin Chẩn đoán xác định khi có tiêu chí chính là một trong các dấu hiệu của kháng insulin, kèm theo 2 trong số các yếu tố nguy cơ (tiêu chí phụ)

Bảng 1.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH của WHO[10]

Tiêu chí chính: có kháng insulin

75g glucose là 7-11 mmol/L (140-199mg/dL)

bình thường khi làm nghiệm pháp kẹp bình đường tăng insulin máu (nếu nồng độ glucose máu lúc đói bình thường)

Các tiêu chí phụ

hoặc HA tâm trương

hoặc đang sử dụng thuốc hạ HA

mg/g

Chẩn đoán HCCH khi ít nhất có 1 tiêu chí chính + 2 tiêu chí phụ

Trang 14

1.1.3.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán của NCEP/ATP III

Tiêu chí được sử dụng rộng rãi tại Hoa Kỳ và các nghiên cứu dịch tễ học là tiêu chuẩn của Chương trình giáo dục quốc gia về cholesterol/Phiên bản 3 điều trị cho người trưởng thành (National Cholesterol Education Program/Adult Treatment Panel III = NCEP/ATP III) được đề xuất vào năm

2001 Bao gồm các tiêu chí sau:

Bảng 1.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH của NCEP/ATP III[29]

Chẩn đoán HCCH khi có 3/5 tiêu chí

Theo thống nhất chung của ATP III sửa đổi 2005, tất cả các tiêu chuẩn trên được giữ nguyên, riêng vòng eo chỉnh sửa cho phù hợp với từng quốc gia, đối

Trang 15

1.1.3.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán của Hiệp hội ĐTĐ thế giới (IDF)

Bảng 1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH của IDF[9]

Tiêu chuẩn bắt buộc: có béo bụng khi vòng bụng

Hoặc đã đƣợc chẩn đoán là ĐTĐ, rối

loạn dung nạp glucose

Chẩn đoán HCCH khi ít nhất có 1 tiêu chí chính + 2 tiêu chí phụ

Các Hiệp hội khác nhau đề xuất nhiều tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH khác nhau, tuy chƣa có sự thống nhất hoàn toàn vì mỗi tổ chức lại nhấn mạnh vai trò đặc biệt của một tiêu chí nào đó, nhƣng nhìn chung đều gồm 5 tiêu chí

cơ bản[6] Mục đích của các tiêu chuẩn chẩn đoán là giúp nhận diện các đối tƣợng có nguy cơ cao sẽ xuất hiện bệnh tim mạch và ĐTĐ týp 2 Tiêu chí bắt buộc trong chẩn đoán HCCH của WHO là có kháng insulin hoặc rối loạn glucose máu, do đó có khả năng tiên lƣợng sự xuất hiện bệnh ĐTĐ là cao nhất trong các tiêu chuẩn chẩn đoán Tuy nhiên, tiêu chuẩn chẩn đoán của NCEP ATP III đƣợc

Trang 16

sử dụng phổ biến nhất hiện nay do nó dễ áp dụng, coi 5 tiêu chí có vai trò ngang nhau và không đưa ra tiêu chí nào là bắt buộc[5], [7], [84]

1.1.4 Dịch tễ

Theo thống kê của Tạp chí Y khoa Mỹ, năm 2007, tỷ lệ mắc HCCH trên thế giới dao động từ <10% đến 84%, phụ thuộc vào: khu vực sinh sống (môi trường nông thôn hay thành phố), các đặc điểm của quần thể nghiên cứu(tuổi tác, giới tính, dân tộc), và cách định nghĩa về HCCH[26], [63] Về tổng thể, IDF ước tính 1/4 dân số thế giới mắc HCCH[108], tập trung chủ yếu ở các nước phát triển hoặc tại các thành phố lớn ở các nước đang phát triển, nơi có

tỉ lệ cao người bị BP[102]

Tại châu Mỹ, tỉ lệ mắc cao nhất là tại Hoa Kỳ Năm 2001, điều tra 1419 người dân từ 20 tuổi trở lên ởBắc Mỹ, vùng Omani, theo tiêu chuẩn ATP III cho thấy tỉ lệ mắc HCCH là 21% (19,5% ở nam, 23% ở nữ)[8], và tỉ lệ này tăng vọt lên khoảng 34% năm 2003[28]

Tại châu Âu, gần 30% (12,6% nam và 14% nữ) trong tổng số số 5.153 người ở độ tuổi từ 45-68 mắc HCCH Một nghiên cứu của Thụy Điển thực hiện trên cộng đồng gồm 4.232 người ở độ tuổi 60 cho thấy 26% nam giới và 19% phụ nữ mắc HCCH[47]

Ở các nước châu Á, tỉ lệ mắc thấp hơn Cụ thể, tại Trung Quốc, tỷ lệ này

là 26,9% (12,7% nam và 14,2% nữ) trong số 27.739 người trong độ tuổi

35-64 Tại Hàn Quốc, vào năm 2005, trong số 26.528 người trong độ tuổi 20-82

có 14,2% (5,2% nam và 9% nữ) mắc HCCH [102] Tại Việt Nam, theo kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng vào năm 2007 được thực hiện trên gần 20.000 người, cho thấy 13% số người từ 25-65 tuổi mắc HCCH, riêng tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh con số này là 18% Tỷ lệ này tăng theo độ tuổi: từ 24-34 là 5,9%; 35-44 là 12,1%; 45-54 là 19,4%; 55-64 là 26,7% và 65-74 là 27,4%[3] Các nghiên cứu về tỉ lệ mắc HCCH ở Việt Nam chủ yếu tập trung ở các đối tượng đến khám tại các bệnh viện, là các đối tượng có

Trang 17

nguy cơ cao như người tăng HA, ĐTĐ Các điều tra ở cộng đồng mới chỉ tiến hành trên các đối tượng người trưởng thành từ 18-60 tuổi[4]

Như vậy các số liệu về HCCH ở người cao tuổi còn rất hạn chế Mà đối tượng này chính là đối tượng có nguy cơ cao, đòi hỏi sự chăm sóc và tiếp cận điều trị đặc biệt hơn các nhóm đối tượng khác

1.1.5 Hóa sinh bệnh

Có rất nhiều nghiên cứu về cơ chế sinh bệnh, mối tương quan giữa các yếu tố nguy cơ nhưng cho đến nay cơ chế bệnh sinh chung cho các triệu chứng của HCCH vẫn còn được tranh cãi Cơ chế sinh bệnh của HCCH là sự tương tác phức tạp giữa yếu tố di truyền (gen) và các yếu tố môi trường Đã

có nhiều giả thuyết đề ra cơ chế cho các triệu chứng của HCCH nhưng trình

tự xuất hiện của các triệu chứng là chưa rõ ràng[58].Hình 1.1 cho ta cái nhìn tổng quan nhất về cơ chế bệnh sinh của HCCH

Trang 18

Hình 1.1 Cơ chế bệnh sinh HCCH[57]

1.1.5.1 Vai trò của gen trong bệnh sinh HCCH

Tỉ lệ mắc bệnh cao của các thành viên trong một gia đình hay của các cặp sinh đôi cùng trứng trong các nghiên cứu dịch tễ về HCCH đã khẳng định vai trò của gen trong cơ chế bệnh sinh của các bệnh này[13], [68] Theo giả

Trang 19

thuyết về “gen tiết kiệm” do Neel đưa ra năm 1962[81], các cá thể sống trong điều kiện khó khăn về vật chất sẽ trải qua quá trình chọn lọc gen để tăng tối

đa khả năng sống sót của chúng Trong đó các gen sẽ biến đổi theo dạng tiết kiệm tối đa năng lượng giúp cho nó có thể tồn tại trong môi trường khắc nghiệt, nguồn thức ăn không ổn định Tuy nhiên, các gen tiết kiệm này khi được chuyển sang môi trường quá thừa năng lượng không thể thích nghi được

và năng lượng sẽ gây ra các tổn thương cho chúng và dẫn đến BP, kháng insulin, rối loạn lipid…[81] Căn cứ vào giả thuyết này mà Neel và các nhà khoa học cho rằng các bất thường trong gen có vai trò kiểm soát năng lượng

cơ thể có thể là nguyên nhân dẫn tới HCCH Cho đến nay, nhiều nghiên cứu khác nhau đã cho thấy có nhiều đột biến trên một số gen có liên quan đến chuyển hóa lipid (APOA1/C3/A4A1, LPL, HSL, CEPT, APOB, APOC1,…)[60], [62], [93], gen liên quan đến BP (POMC, MCR4, b3-AR)[69], [101], [107], gen liên quan đến kháng insulin (IRS1, PPARg,…)[25], [43] Tuy nhiên, những kết quả này mới chỉ ra được sự liên quan của gen tới các triệu chứng đơn lẻ của HCCH Các nghiên cứu về gen vẫn cần phải tiếp tục để tìm ra các gen có liên quan chặt chẽ tới sự xuất hiện đồng thời của các triệu chứng này trong HCCH

1.1.5.2 Cơ chế hóa sinh bệnh của một số triệu chứng chính

 Béo phì

BP là tình trạng tích lũy mỡ quá mức và không bình thường tại một vùng

cơ thể hay toàn thân đến mức ảnh hưởng tới sức khỏe Trong HCCH BP là một triệu chứng chính, một tiêu chuẩn đóng vai trò quan trọng trong tất cả các tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH BP có nguyên nhân từ sự dung nạp các loại thực phẩm giàu chất béo bão hòa, giàu năng lượng và giảm hoạt động thể chất Hậu quả của nó là cùng với sự phát triển của tế bào mỡ, máu đến các tế bào

mỡ có thể giảm, dẫn đến thiếu oxy máu ở các tế bào này, làm ảnh hưởng đến đại thực bào và hoại tử, từ đó dẫn tới sự sản sinh quá mức các chất có hoạt

Trang 20

tính sinh học bao gồm: glycerol, acid béo tự do (FFA), các yếu tố tiền viêm (TNFα và interleukin-6 (IL-6), chất ức chế sự hoạt hóa plasminogen-1 (Pal-1)

và protein phản ứng C, adiponectin, leptin[21] Đặc điểm chung của các sản phẩm của mô mỡ là có khả năng làm giảm sự nhạy cảm của insulin, tăng stress oxy hóa và viêm.Các yếu tố này cũng được cho là có vai trò làm tăng

xơ vữa tự nhiên, vỡ các mảng bám và huyết khối tĩnh mạch[53], [96]

 Kháng insulin

Kháng insulin, ở cấp độ tế bào được định nghĩa như là một tình trạng bệnh lý làm giảm tác dụng của insulin tại tế bào đích (tế bào gan, cơ, mỡ) Còn ở cấp độ phân tử, kháng insulin là hiện tượng giảm dẫn truyền tín hiệu của insulin từ receptor tới phân tử đích cuối cùng

Kháng insulin cùng với hậu quả của nó gồm tăng glucose máu, rối loạn chuyển hóa lipid, tăng huyết áp, đều là những yếu tố nguy cơ tiềm tàng đối với các bệnh lý tim mạch, bệnh mạch máu ngoại vi và gây tỉ lệ tử vong cao Mối liên quan giữa kháng insulin và các biến chứng tim mạch trong HCCH có thể giải thích theo cơ chế sau Sự kết hợp của insulin và thụ thể có thể hoạt hóa 2 con đường: con đường phosphoinositide 3-kinase (PI3K) và con đường thông qua protein kinase (MAP) Kháng insulin gây ức chế con đường PI3K dẫn đến sự sản sinh NO nội sinh, gây ra rối loạn chức năng nội bào và giảm chuyển vị GLUT4, giảm sử dụng glucose và chất béo của cơ xương Tuy nhiên, kháng insulin lại không ảnh hưởng tới con đường MAP kinase, do đó dẫn đến sự sản sinh tiếp tục endothelin-1 (ET-1), một hormon

có khả năng gây co cơ trơn mạnh và làm tăng HA Như vậy,từ những con đường này, sự kháng insulin dẫn đến những bất thường về mạch máu và sau cùng dẫn đến chứng xơ vữa động mạch[91]

Mặc dù yếu tố đề kháng insulin độc lập với yếu tố BP trên biểu hiện lâm sàng, tuy nhiên ở các đối tượng này thường có sự rối loạn phân bố mỡ ở phần phía trên của cơ thể Các quan sát cũng cho thấy có một mối liên quan mạnh

Trang 21

mẽ giữa sự đề kháng insulin và HCCH với các đối tượng béo bụng (hoặc phần phía trên của cơ thể) hơn là đối với các bệnh nhân không BP[54], [91] Như vậy, kháng insulin vừa là một yếu tố độc lập, vừa liên kết với các yếu tố khác tạo ra HCCH[91]

 Rối loạn lipid máu

Tình trạng rối loạn lipid máu được đặc trưng bởi một loạt các bất thường trong cấu trúc, chuyển hóa và hoạt tính sinh học của các loại lipid dẫn tới kết quả là làm tăng TG, giảm HDL-C, và tăng nồng độ LDL-C Kháng insulin được cho là nguyên nhân chính gây rối loạn lipid máu bằng nhiều cơ chế Thứ nhất, kháng insulin dẫn đến tăng phân giải lipid làm tăng nồng độ FFA trong máu FFA theo máu đến gan, làm tăng tổng hợp TG ở gan rồi tăng tổng hợp VLDL ở gan

Thứ hai, kháng insulin làm giảm thoái hóa ApoB, thành phần protein quan trọng của VLDL, do đó làm tăng nồng độ ApoB dẫn đến tăng tổng hợp VLDL Thứ ba, kháng insulin làm giảm hoạt tính của lipoproten lipase, enzym đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát tốc độ và tỉ lệ thoái hóa của VLDL

do đó kháng insulin làm giảm hoạt tính của lipoprotein lipase làm tăng VLDL Thứ tư, kháng insulin làm tăng hoạt tính của CEPT (cholesteryl este tranfer protein), làm tăng quá trình trao đổi TG và Cholesterol este giữa VLDL và HDL, làm giảm kích thước của HDL, làm tăng thoái hóa HDL Thứ năm, kháng insulin làm tăng hoạt tính lipase ở gan (enzym thoái hóa HDL) do đó làm tăng thoái hóa HDL.[67]

Rối loạn lipid máu có mối liên hệ mật thiết với tăng stress oxi hóa và sự rối loạn nội mô Từ đó, làm tăng phản ứng tiền viêm tự nhiên của các bệnh lý

xơ vữa động mạch

 Tăng huyết áp

Tăng HA thường có liên quan đến một số bất thường về chuyển hóa, trong đó BP, rối loạn dung nạp glucose và rối loạn lipid máu là phổ biến

Trang 22

nhất[30] Các nghiên cứu cho thấy cả tăng insulin máu và tăng glucose máu

sẽ kích hoạt hệ thống Renin angiotensin (RAS) bằng cách tăng biểu hiện angiotensinogen, angiotensin II (AT II) và receptor của AT I Các yếu tố này phối hợp lại có thể góp phần làm tăng HA ở bệnh nhân kháng insulin[70] Cũng có bằng chứng cho thấy kháng insulin và tăng glucose máu dẫn đến hoạt hóa hệ thống thần kinh giao cảm, và kết quả là tăng hấp thu natri ở thận, tăng hoạt động của tim, và tăng co thắt ở động mạch, từ đó dẫn đến chứng tăng HA[77] Gần đây người ta đã khám phá ra rằng tế bào mỡ cũng sản xuất aldosterone để đáp ứng với ATII[14] Mô mỡ làm khử cực qua màng giúp lý giải tình trạng tăng HA ở người BP

1.1.6 Hậu quả của HCCH

HCCH có liên quan với tăng nguy cơ của nhiều loại bệnh, trong đó quan trọng nhất là tăng nguy cơ của bệnh ĐTĐ và bệnh tim mạch

1.1.6.1 Bệnh tim mạch

HCCH làm tăng gấp 3 lần nguy cơ mắc các biến cố tim mạch, 2,59 lần tai biến mạch não và 2,26 lần nguy cơ mắc các bệnh tim mạch Trong 1 nghiên cứu phân tích gộp 87 nghiên cứu của Salvatore và cộng sự, tiến hành trên 951.083 bệnh nhân cho thấy nguy cơ tương đối của HCCH với bệnh tim mạch là 2,35 (95%CI 2,02-2,73), với tỉ lệ tử vong do bệnh tim mạch là 2,4 (95% CI: 1,87 – 3,08), tử vong do mọi nguyên nhân RR: 1,58 (95% CI: 1,39 – 1,78), nhồi máu cơ tim RR: 1,99 (95% CI: 1,61 – 2,46), đột quỵ RR: 2,27 (95% CI: 1,80 – 2,85)[78] Trong 1 nghiên cứu gộp khác gồm 43 nghiên cứu dọc (thời gian bắt đầu các nghiên cứu từ 1971-1997) của Gami và cộng sự trên 172.573 đối tượng cho thấy HCCH làm tăng nguy cơ tương đối của tử vong và các biến cố tim mạch lên 1,78 lần (95%CI 1,58-2,0)[33] Đặc biệt là

ở những người mới có một hay hai chỉ tiêu đánh giá HCHC cũng đã cho thấy tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch lên 1,5 – 2,3 lần so với người bình thường Khi nghiên cứu hậu quả của bệnh trên 2 giới cho thấy, nguy cơ tương

Trang 23

đối của tử vong và các biến cố tim mạch ở nữ (RR 2,63) cao hơn so với nam (RR 1,98, p = 0,09)[33]

1.1.6.2 Bệnh ĐTĐ

Theo nghiên cứu của Sattar và cộng sự vào năm 2003 trên 5.974 nam giới với gần 5 năm theo dõi cho thấy, bệnh nhân có HCCH có tỉ số nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ là 3,51 (2.47–4.98) so với người không có HCCH[97] Tương

tự, trong nghiên cứu của Nakanishi trên 5.588 người Nhật làm việc văn phòng

mà chưa mắc ĐTĐ có độ tuổi trung bình 48 tuổi với 7 năm theo dõi, kết quả nghiên cứu đã được điều chỉnh theo tuổi, tiền sử bệnh và các yếu tố nguy cơ khác của bệnh ĐTĐ cho thấy tỉ số nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ khi có 1,2,3 hoặc

≥ 4 tiêu chí xác định HCCH lần lượt là 1,92; 4,36; 6,44; 15,08 (p<0,001)[79] Như vậy, mặc dù các nghiên cứu cho kết quả khác nhau với các tiêu chí đánh giá HCCH là khác nhau nhưng nguy cơ tương đối của bệnh ĐTĐ ở những người mắc HCCH cao gấp ba lần so với những người mà không có hội chứng này

Dựa trên dữ liệu nghiên cứu khác gồm 3.323 người có độ tuổi trung bình là

52 tuổi với 8 năm theo dõi, kết quả ước tính rằng HCCH chiếm gần một nửa dân

số có nguy cơ bệnh ĐTĐ và một phần tư của tất cả biến cố bệnh tim mạch [34]

1.1.7 Điều trị và dự phòng HCCH

Có hai phương pháp tiếp cận điều trị HCCH Cách tiếp cận thứ nhất là tác động vào nguyên nhân gây HCCH: thừa cân/BP, giảm hoạt động thể lực, và tình trạng kháng insulin Can thiệp sớm bằng chế độ dinh dưỡng khoa học giúp giảm cân, cùng với việc tăng cường hoạt động thể lực đều làm giảm đề kháng insulin

và trực tiếp giảm bớt các nguy cơ chuyển hóa[72] Cách tiếp cận thứ hai trực tiếp điều trị các yếu tố nguy cơ như rối loạn lipid máu, tăng HA, tình trạng tăng viêm

và kháng insulin Trên lâm sàng chúng ta thường chú trọng sử dụng các thuốc để điều trị những rối loạn này Tuy nhiên, muốn đạt được mục tiêu tối ưu, lâu dài trong cộng đồng cần phải điều chỉnh căn nguyên gây bệnh Ngay cả khi đã điều

Trang 24

trị bằng thuốc, những bệnh nhân này vẫn cần áp dụng việc thay đổi lối sống bao gồm chế độ ăn, tăng cường hoạt động thể lực, giảm uống rượu, hút thuốc[72] Các bác sĩ chính là những người giúp thu hẹp khoảng cách giữa cộng đồng và lâm sàng bằng cách nhận biết ra nhóm đối tượng có nguy cơ cao và thông báo cho họ biết cần áp dụng các biện pháp điều trị khắt khe hơn[24], [86]

1.1.7.1 Các biện pháp thay đổi lối sống

Theo các khuyến cáo hiện nay, thay đổi lối sống là lựa chọn số 1 trong điều trị HCCH Trong chương trình phòng bệnh ĐTĐ (3.234 bệnh nhân thừa cân có rối loạn glucose máu lúc đói hoặc rối loạn dung nạp glucose; 53% có HCCH), thay đổi lối sống giúp giảm tỉ lệ mắc HCCH [35] Những bệnh nhân thừa cân có rối loạn glucose máu lúc đói hoặc rối loạn dung nạp glucose, áp dụng các biện pháp thay đổi lối sống một cách chặt chẽ cũng giúp giảm nguy

cơ tiến triển thành HCCH hoặc ĐTĐ týp 2[73] Chế độ ăn nên áp dụng là chế

độ ăn giảm năng lượng mức độ trung bình, giảm lượng chất béo dạng trans, chất béo bão hòa và đường đơn, tăng cường rau quả và ngũ cốc nguyên hạt[22] Chế độ ăn giảm chất béo và bột đường cùng có tác dụng giảm cân như nhau nhưng chế độ ăn giảm chất béo tác động lên nồng độ HDL-C và TG không tốt bằng chế độ ăn giảm bột đường, nhưng lại tác động tốt hơn lên nồng độ LDL-C Các bệnh nhân BP áp dụng chế độ ăn giảm chất béo cải thiện FMD, trong khi chế độ ăn giảm bột đường làm giảm FMD, mặc dù cùng làm giảm cân như nhau[87]

Tăng lượng chất xơ trong chế độ ăn liên quan với việc giảm tỉ lệ mắc HCCH Chế độ ăn giàu chất xơ gần giống chế độ ăn cho người tăng HAgiúp giảm tỉ lệ mắc HCCH nhiều hơn chế độ ăn giảm cân với những lựa chọn thông thường[94], sự khác biệt này độc lập với việc giảm cân nặng[41] Các bệnh nhân có HCCH, chế độ ăn giàu chất xơ và carbonhydrat làm tăng FMD tại thời điểm 4 giờ sau ăn[12] Chế độ ăn nghèo năng lượng, ít chất béo, bổ sung ngũ cốc sơ chế hoặc nguyên hạt cũng làm giảm nồng độ PAI-1 huyết

Trang 25

tương[23] Ở các phụ nữ có HCCH sau mãn kinh, bổ sung sữa đậu nành làm tăng nồng độ NO trong máu và giảm nồng độ E-selectin nhiều hơn nhóm chứng[44] Các bệnh nhân HCCH nên duy trì một chế độ luyện tập thể lực cường độ trung bình ít nhất 30 phút mỗi ngày[35] Trong các nghiên cứu dọc người ta thấy rõ việc tăng cường hoạt động thể lực sẽ giảm bớt nguy cơ mắc HCCH Các bài tập tim mạch, hô hấp cường độ cao cũng giúp giảm tỉ lệ mắc HCCH Các bệnh nhân HCCH áp dụng bài tập này còn giảm được nguy cơ tử vong do tim mạch và do mọi nguyên nhân Một chương trình luyện tập thể lực trong 3 tháng cho thấy tác động cải thiện FMD ở bệnh nhân HCCH, trong khi chưa có

sự thay đổi về HA, chỉ số khối cơ thể, lipid máu hoặc kháng insulin Một nghiên cứu trên bệnh nhân HCCH gần đây cho thấy luyện tập với cường độ cao làm tăng FMD nhiều hơn cường độ trung bình[41]

Hút thuốc có liên quan với chức năng nội mạc Hút thuốc cũng làm tăng nguy cơ kháng insulin, HCCH và ĐTĐtýp 2 Hơn nữa, cai thuốc lá giúp cải thiện chức năng nội mạc Và một điều thú vị là việc cai thuốc lá có gây tăng cân tạm thời trong thời gian đầu nhưng vẫn giúp tăng độ nhạy insulin[18]

1.1.7.2 Các thuốc điều trị và dự phòng

Các thuốc hiện nay được sử dụng để điều trị và dự phòng HCCH, tác dụng và tác dụng không mong muốn (TDKMM) của chúng được tóm tắt trong bảng 1.4

sống[39]

Gây toan máu,buồn nôn, tiêu chảy…[2]

Trang 26

Tên thuốc Tác dụng Tác dụng

KMM

nhồi máu cơ tim[38]

Đầy bụng, đau bụng, tiêu chảy…[2]

Thiếu máu nhẹ, suy gan không hồi phục…[2]

Đau cơ, viêm cơ, teo cơ, gây sỏi mật…[2]

HCCH[39]

Suy tim sung huyết, ngừng tim…[2]

Trang 27

Cải thiện chức năng nội mạc ở phụ

nữ có HCCH sau mãn kinh, làm giảm nồng độ E-selectin[75]

Hội chứng thai nghén, ung thư nội mạc tử cung, ung thư vú…[2]

1.1.7.3 Phẫu thuật cắt dạ dày

Nhiều trường hợp mắc HCCH cần giải pháp điều trị này Phẫu thuật dạ dày có tác dụng giảm tỉ lệ mắc HCCH tốt hơn so với các phương pháp thay đổi lối sống hay thuốc Ở các bệnh nhân BP, phẫu thuật cắt dạ dày cải thiện EDV và giảm nồng độ E-selectin, vWF, PAI-1, trong khi tác động lên nồng

độ sICAM-1 and sVCAM-1 không hằng định Các bệnh nhân HCCH sau khi phẫu thuật dạ dày còn thấy giảm được albumin niệu Tuy nhiên phẫu thuật dạ dày làm kéo dài thời gian nằm viện

1.2 TỔNG QUAN VỀ GẠO LỨC NẢY MẦM

1.2.1 Nguồn gốc

Gạo lức: (brown rice–BR) là loại gạo chỉ xay bỏ vỏ trấu, chưa được xát

lớp cám gạo Mặc dù giàu dinh dưỡng hơn, BR lại được tiêu thụ ít hơn gạo trắng bởi vì khi nấu chín tạo cấu trúc thô, khó ăn[27]

Gạo lức nảy mầm (GBR): Để khắc phục những đặc điểm nội tại của BR,

người ta bắt đầu nghiên cứu cách thức nảy nầm của BR để nhằm tăng sự hấp

Trang 28

thụ nước và làm mềm hơn BR, tăng chất lượng khi ăn Hơn nữa nó còn giúp kích hoạt những enzym còn lại chưa hoạt động của BR, do vậy làm tăng sự hình thành các phức hợp chuyển hóa có hoạt tính sinh học[19] Quá trình nảy mầm thường được bắt đầu bằng cách ngâm BR trong nước ấm 35-40°C trong khoảng 10-12 giờ; trong thời gian ngâm, cứ 3 - 4 giờ thay nước một lần để ngăn chặn quá trình lên men (mà thường tạo ra mùi không mong muốn) và cũng để duy trì nhiệt độ nước phù hợp Sau đó bỏ nước và giữ trong điều kiện

ẩm khoảng 20-24 giờ Khi BR cho mầm dài 0,5-1 mm là được; tại giai đoạn này các chất dinh dưỡng trong hạt được tích lũy tối đa Trong công nghiệp, GBR được được bán chủ yếu ở dạng khô (sấy khô không ảnh hưởng đến giá trị dinh dưỡng cao tích lũy từ lúc nảy mầm), trông rất giống với BR bình thường Tác dụng của quá trình sấy là để kéo dài thời hạn sử dụng của GBR[88]

1.2.2 Thành phần hóa học

Theo Ho Jin-Nyoung và cộng sự (2012) BR có chứa: GABA, chất xơ, oryzanol, vitamin E, phytosterol và các chất chống oxy hóa khác[42] Sự nảy mầm gây ra sự gia tăng hàm lượng các thành phần hoạt tính sinh học ở trên Phần lớn những chất có hoạt tính sinh học trong GBR là các thành phần dầu[19] Chúng tập trung nhiều ở trong cám và phôi, không giống như những loại dầu khác, dầu chiết ra từ cám gạo và phôi chứa một lượng lớn lipid không

γ-xà phòng hóa (4,4%), các sterol thực vật (43%), 4-methyl sterols (10%), rượu triterpene (29%) và những hợp chất kém phân cực như squalene và

tocotrienols[16], [19], [105]

1.2.3 Các tác dụng sinh học của GBR

1.2.3.1 Trên béo phì và rối loạn lipid máu

GBR đã được chứng minh có tác dụng trên tăng cholesterol (CH)máu[20], [66], [74], [83], [95] Bùi Thị Nhung và cộng sự nghiên cứu trên nhóm đối tượng là phụ nữ Việt Nam giảm dung nạp glucose cho thấy: GBR có tác dụng giảm chỉ số BMI, hạ LDL-C, giảm TG, tăng HDL-C, hạ

Trang 29

glucose máu, giảm HbA1c[15] Một nghiên cứu khác của Nicolosi và cộng sự

về tác dụng của GBR trên các động vật linh trưởng chỉ ra rằng: GBR làm giảm 40% nồng độ LDL-C mà không tăng HDL-C[82] Ở chuột BP sử dụng GBR, nồng độ TG huyết tương và CH toàn phần cũng giảm đáng kể, trong khi nồng độ HDL-C tăng[42] Tác giả Oh và cộng sự đã chứng minh rằng việc sử dụng dịch chiết nước của GBR cải thiện được các chỉ lipid máu ở chuột mắc bệnh BP[83] GBR tuy không làm CH toàn phần và TG máu giảm đáng kể, nhưng nó làm tăng HDL-C, giảm chỉ số xơ vữa động mạch so với chuột không sử dụng GBR[36]

1.2.3.2 Trên glucose máu

Các tác dụng có lợi của GBR trên glucose máu lúc đói, glucose máu sau

ăn và đáp ứng insulin ở người đã được chứng minh bởi nhiều nghiên cứu Các tác dụng này thể hiện trên cả đối tượng không bị ĐTĐ và đối tượng bị ĐTĐ không kiểm soát được, đối tượng ăn chế độ ăn bổ sung GBR có nồng độ glucose máu sau ăn thấp hơn so với những đối tượng ăn chế độ bổ sung gạo trắng[50], [52] Một nghiên cứu đánh giá glucose máu và nồng độ lipid máu ở người bị rối loạn dung nạp glucose máu lúc đói và bệnh nhân ĐTĐ cho thấy: việc sử dụng GBR làm thực phẩm trong 6 tuần rất có ích trong việc cải thiện glucose máu và nồng độ lipid máu[45], [48] Hagiwara và cộng sự nghiên cứu trên chuột bị ĐTĐ do streptozotocin gây ra nhận thấy rằng: GBR cải thiện nồng độ glucose máu, chất hoạt hóa plasminogen-týp 1, và peroxide lipid ở chuột thí nghiệm tốt hơn so với gạo trắng[37] Chế độ ăn dùng GBR ngoài việc hạ glucose máu tốt, nó cũng giảm nhẹ bệnh thần kinh do ĐTĐ và đặc biệt là làm giảm rối loạn chức năng thần kinh ngoại vi[99] Dựa trên những kết quả này, có thể kết luận rằng GBR là một thực phẩm tốt trong việc hỗ trợ phòng chống bệnh ĐTĐ và các biến chứng liên quan

1.2.3.3 Trên tăng HA

Trang 30

GBR đã được chứng minh đóng vai trò trong việc giảm HA[19], [20], [27], [105] Mitsuo và cộng sự đã xem xét các tác động của chế độ ăn có GBR trong dự phòng tăng HA ở chuột tăng HA và các bệnh nhân Từ đó, nhóm nghiên cứu đã đề xuất, GBR có thể được sử dụng như là một phần của chế độ

ăn hỗ trợ điều trị tăng HA[103] Một nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của GBR lên

sự tăng HA và sinh hóa máu ở chuột tăng HA một cách tự nhiên, chuột được cho

ăn một chế độ bao gồm 40% GBR Các kết quả quan sát của họ cho thấy GBR có tác dụng hạ HA mạnh ở chuột tăng HA một cách tự nhiên[27]

1.2.4 Chế phẩm gạo mầm Vibigaba

Gạo mầm Vibigaba là tên thương mại của loại gạo lức nảy mầm do công

ty Cổ phần Lộc trời (tiền thân là Công ty Thực vật An Giang) sản xuất từ hạt

thóc tẻ phơi sấy khô của cây lúa (Oryza sativa, Poaceae) trồng tại Việt Nam,

theo qui trình công nghệ Nhật Bản Sản phẩm được đóng túi 1 kg hoặc 5 kg Các thành phần chính trong gạo mầm VIBIGABA gồm tinh bột, gama-aminobutyric acid (GABA), inositol, chất xơ, vitamin E, niacin, các vitamin

nhóm B, magie

Trang 31

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Tiêu chuẩn lựa chọn:

Bệnh nhân mắc HCCH tuổi 55-70, đồng ý tham gia nghiên cứu, sinh sống tại thành phố Bắc Ninh

Tiêu chuẩn lựa chọn: các đối tượng phải thỏa mãn tất cả các điều kiện

dưới đây:

- Tuổi từ 55-70, sinh sống tại thành phố Bắc Ninh

- Mắc HCCH tại thời điểm sàng lọc, có 3/5 tiêu chí[29]:

+ TG máu lúc đói 1,69 mmol/L- 5,6 mmol/L;

+ Nồng độ HDL-C: Nam < 1mmol/L

+ Glucose máu lúc đói: 5,6 mmol/L-7,0 mmol/L;

+ HA 130/85 cho đến 140/90 mmHg;

Tiêu chí bắt buộc là vòng eo > 90 cm đối với nam và > 80 cm đối với nữ

- Đồng ý tham gia nghiên cứu trong 3 tháng

Tiêu chuẩn loại trừ: Đối tượng sẽ bị loại khỏi nghiên cứu nếu có 1 trong các

điều kiện sau:

- Có tiền sử mắc các bệnh mãn tính (lao, bệnh gan, suy thận, ĐTĐ);

- Có tiền sử câm điếc, tâm thần kinh;

- Có tiền sử mắc bệnh lý mạch máu não và bệnh tim mạch (đột quỵ, tai biến);

- Có mắc các bệnh về phổi (hen suyễn, ung thư, suy giảm chức năng phổi);

- Có dùng các sản phẩm tăng hoặc giảm cân, thuốc giảm lipid máu, thuốc hạ HA, thuốc điều trị ĐTĐ hiện tại (trong vòng 1 tháng trước) và trong

3 tháng can thiệp;

- Không có khả năng tham gia đầy đủ trong 3 tháng nghiên cứu

Trang 32

2.2 NGUYÊN LIỆU NGHIÊN CỨU

Nguyên liệu nghiên cứu là sản phẩm gạo mầm Vibigaba và gạo trắng do Công ty cổ phần Lộc trời sản xuất

- Gạo mầm Vibigaba do công ty Cổ phần Lộc trời (tiền thân là Công ty Thực vật An Giang) sản xuất theo qui trình công nghệ Nhật Bản Sản phẩm gạo mầm Vibigaba được đóng túi theo 1 kg hoặc 5 kg Các thành phần chính trong gạo mầm Vibigaba gồm: tinh bột, gama-aminobutyric acid (GABA), inositol, chất xơ, vitamin E, niacin, các vitamin nhóm B, magie…

- Gạo trắng thường do công ty Lộc trời sản xuất theo qui trình gạo sạch,sản phẩm gạo trắng được đóng theo túi 5 kg

- Thành phần dinh dưỡng được tính theo 100 gram gạo trắng và gạomầm Vibigaba:

Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng có trong 100 g gạo mầm Vibigaba

tính

Gạo mầm VIBIGABA

Gạo trắng thường

Trang 33

2.3 PHƯƠNG PHÁP VÀ TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Thử nghiệm lâm sàng trên cộng đồng, đánh giá trước, sau, có đối chứng Quy trình nghiên cứu được trình bày trong sơ đồ ở hình 2.1

Hình 2.1 Sơ đồ tuyển đối tượng và thực hiện nghiên cứu

Trang 34

+ µ1-µ2 làtrung bình khác biệt mong muốn của một số chỉ tiêu giữa hai

trị µ1-µ2

- Ước tính trung bình khác biệt của HbA1c giữa hai nhóm vào cuối thời

người/nhóm[15];

- Ước tính trung bình khác biệt của TG giữa hai nhóm vào cuối thời gian

người/nhóm[15];

Sau khi đã tính toán cho tất cả các chỉ số nghiên cứu, cỡ mẫu lớn nhất là

cỡ mẫu tính toán theo chỉ số TG, ước tính 20% bỏ cuộc, cỡ mẫu chung là 40 đối tượng/nhóm x 2 nhóm =80 đối tượng

2.3.3 Phương pháp chọn mẫu

Bước 1 Mời đối tượng tham gia

Gửi giấy mời cho các đối tượng 55-70 tuổi, là người đang sinh sống tại 2 phường thuộc thành phố Bắc Ninh (dự kiến 500-600 người/phường x 2 phường=1.000-1.200 người)

Bước 2 Sàng lọc đối tượng lần 1

Các đối tượng được cân, đo chiều cao, đo vòng eo, vòng mông, đo HA 3 lần và hỏi ghi một số thông tin cơ bản Chọn tất cả đối tượng có vòng eo > 90

Trang 35

cm (nam); > 80 cm (nữ) và có HA 130/85 đến 140/90 mmHg, không mắc các bệnh mạn tính, không dùng thuốc ĐTĐ, tăng HA Dự kiến có 300 đối tượng

đủ tiêu chuẩn (150 đối tượng/phường) (Phụ lục 1)

Bước 3 Sàng lọc đối tượng lần 2

Mời các đối tượng có đủ tiêu chuẩn ở vòng sàng lọc 1, kiểm tra glucose máu và TG lúc đói và chỉ số HA Chọn đối tượng có đủ ít nhất 3 trong 5 tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH và đạt các tiêu chuẩn chọn đối tượng (theo tiêu chuẩn chọn đối tượng) Chọn đủ 80 đối tượng theo tiêu chuẩn và phân nhóm tuổi (tuổi được phân thành 3 nhóm gồm: 55-59 tuổi; 60 đến 65 tuổi; và 66 đến 70 tuổi) và giới đồng đều giữa 2 nhóm (Phụ lục 2)

Bước 4: Phân nhóm nghiên cứu:

Chia 2 nhóm nghiên cứu: phân nhóm theo phường, mỗi phường là một nhóm

-Nhóm chứng (NC): Là nhóm sử dụng gạo trắng trong 3 tháng

-Nhóm can thiệp (NCT): là nhóm sử dụng hàng ngày gạo mầm Vibigaba

2.3.4 Phương pháp can thiệp

2.3.4.1 Đối với nhóm chứng

- Đối tượng được nghe tập huấn 1 lần về phương pháp chung phòng chống HCCH thông qua chế độ ăn và tập luyện Sử dụng gạo trắng thường trong 3 tháng

2.3.4.2 Đối với nhóm can thiệp

- Đối tượng được nghe tập huấn 1 lần về phương pháp chung phòng chống HCCH thông qua chế độ ăn và tập luyện Sử dụng gạo mầm Vibigaba trong 3 tháng

- Hàng ngày, đối tượng tự ghi chép vào sổ ghi chép thông tin: về sử dụng

số lượng sản phẩm, việc có hay không có tập luyện và thực hiện chế độ ăn

2.3.5 Mô tả công cụ can thiệp và chuẩn bị công cụ

2.3.5.1 Sản phẩm gạo trắng thường và gạo mầm Vibigaba

Trang 36

Sản phẩm gạo trắng thường và gạo mầm Vibigaba sử dụng trong nghiên cứu đã được mô tả cụ thể ở mục 2.2 ở trên

2.3.5.2 Hướng dẫn cách sử dụng gạo mầm Vibigaba trong nghiên cứu

- Cách dùng: dùng thay thế gạo thường vào 02 bữa hàng ngày

- Liều lượng: 100 gram gạo mầm/bữa x 2 bữa/ngày Sử dụng cốc đong được chia vạch sẵn, tính đủ 100 gram

- Cách nấu: tỷ lệ gạo và nước là 1:1,5 (ngâm trong 15 phút); nấu bằng nồi cơm điện trong 45-60 phút, không vo gạo trước khi nấu, có thể để gạo mầm vào một góc nồi cơm gạo thường, cho đến khi cơm chín thì lấy riêng

một góc của cơm gạo mầm

2.4 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU VÀ CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ

2.4.1 Thu thập các số liệu nghiên cứu tại 2 lần điều tra (điều tra ban đầu, điều tra sau 3 tháng)

- Thu thập các thông tin chung qua phỏng vấn đối tượng: Các thông

tin chung được thu thập qua bộ câu hỏi về các thông tin cá nhân, nhân khẩu học, tiền sử bệnh tật, thói quen hoạt động hàng ngày của đối tượng (thói quen tập thể dục, thói quen ăn uống) Phỏng vấn đối tượng về thói quen ăn uống, hoạt động thể lực và một số yếu tố nguy cơ theo khuyến nghị của Tổ chức Y

tế Thế giới Thu thập thông tin về tiêu thụ các thực phẩm giàu lipid và chỉ số

GI cao (phiếu hỏi khẩu phần) và một số thói quen ăn uống của một số triệu chứng HCCH liên quan dinh dưỡng bằng bộ câu hỏi cấu trúc đã được thiết kế

Trang 37

và thử nghiệm trước khi điều tra Công cụ là bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn

và đã được thử nghiệm trước khi triển khai (Phụ lục 1)

- Nhân trắc (chiều cao, cân nặng, chu vi vòng eo, vòng mông) được các

nghiên cứu viên đo bằng các dụng cụ đo sau đó ghi chép lại vào các mục ghi trong bộ câu hỏi:

+ Cân: Sử dụng cân SECA (độ chính xác 0,1kg) Trọng lượng cơ thể

được ghi theo kg với 1 số lẻ Cân đối tượng vào buổi sáng khi chưa ăn uống

gì và đã đi đại tiểu tiện Khi cân chỉ mặc quần áo gọn nhất và trừ bớt cân nặng trung bình của quần áo khi tính kết quả Đối tượng đứng giữa bàn cân, không

cử động, mắt nhìn thẳng, trọng lượng phân bố đều cả hai chân Cân được đặt

ở vị trí ổn định và bằng phẳng

+Chiều cao: Đo chiều cao đứng bằng thước gỗ, có độ chia chính xác tới

milimét Chiều cao được ghi theo cm và 1 số lẻ Đối tượng bỏ guốc dép, đi chân không, đứng quay lưng vào thước đo Gót chân, mông, vai, đầu theo một đường thẳng áp sát vào thước đo đứng, mắt nhìn thẳng theo một đường thẳng nằm ngang Hai tay buông thõng theo hai bên mình Kéo cái chặn đầu của thước từ trên xuống, khi áp sát đến đỉnh đầu, nhìn vào thước, đọc kết quả

+ Vòng eo và vòng mông: Đo vòng eo và vòng mông bằng thước dây

không co giãn, kết quả được ghi theo cm với một số lẻ Vòng eo đo ở mức tương ứng với điểm giữa của bờ dưới xương sườn cuối với bờ trên mào chậu trên đường nách giữa Vòng mông đo tại vùng to nhất của mông Đối tượng chỉ mặc quần lót, ở tư thế đứng thoải mái, các vòng đo ở mặt phẳng nằm ngang Tỷ số vòng eo/vòng mông được coi là cao khi giá trị này > 0,8 đối với

nữ và > 0,9 đối với nam

-HA: Dụng cụ sử dụng là máy HA kế thủy ngân Đối tượng được đo HA

2 lần cách nhau 2 phút Kết quả được ghi theo đơn vị mmHg Số đo HA của đối tượng sẽ được tính là kết quả trung bình của 2 lần đo, mỗi lần đo cách nhau 2 phút

Trang 38

Nếu kết quả HA giữa 2 lần đo chênh lệch nhau > 10 mmHg thì phải đo lại lần thứ

ba, kết quả sẽ lấy lần thứ 3

- Xét nghiệm sinh hóa :Lấy 5 ml máu tĩnh mạch khi đói (đối tượng nhịn

đói ít nhất là 10 tiếng đồng hồ, tốt nhất là qua 1 đêm nhưng không quá 16 tiếng) và được nghỉ ngơi ít nhất 10 phút trước khi lấy máu Các đối tượng đang sốt, hoặc quá sợ hãi đều không lấy máu Xét nghiệm glucose máu được làm ngay tại thực địa bằng máy Accu chek Performatheo phương pháp điện hóa Cho 5 ml máu vào ống nghiệm có chứa sẵn các hạt nhựa chuyên để lấy huyết tương làm các xét nghiệm khác Các mẫu máu được li tâm trong vòng

10 phút ngay tại thực địa để tách lấy huyết tương Bảo quản bệnh phẩm thu được

C tại thực địa và vận chuyển Sau đó mẫu

Địa điểm phân tích mẫu huyết tương: Labo Hóa Sinh và Chuyển hóa dinh dưỡng -Viện Dinh dưỡng

2.4.2 Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích

2.4.2.1 Định lượng glucose máu

Nguyên lý: glucose máu phản ứng với glucose hydrogennase trong que thử tạo ra sản phẩm glucono lacton và giải phóng ra 2 điện tử, 2 điện tử này phản ứng với coenzym (PQQ) để chuyển thành dòng điện và đi vào bộ cảm biến của máy Cường độ dòng điện tỉ lệ thuận với nồng độ glucose trong máu[85]

Trang 39

2.4.2.2 Định lượng HbA1c (hemoglobin A1c)

Nguyên lý: HbA1c được định lượng bằng phương pháp HPLC ái lực hạt

borat[56], [71]

HbA1c và các thành phần hemoglobin khác sau khi được giải phóng ra khỏi tế bào máu sẽ được đi qua cột sắc ký ái lực có gắn borat HbA1c sẽ được giữ lại trên cột, trong khi các thành phần khác bị rửa trôi bằng dung dịch đệm rửa Hemoglobin được phát hiện và định lượng bằng detector quang phổ ở bước sóng 413 nm (píc 1) HbA1c sau đó sẽ được đẩy ra khỏi cột, và được phát hiện, định lượng bằng detector quang phổ ở bước sóng 413 nm (píc 2) Kết quả định lượng HbA1c được biểu diễn dưới dạng phần trăm theo công thức:

Diện tích píc 2 Diện tích píc 1 + Diện tích píc 2 Kết quả sẽ được hiệu chỉnh bằng cách so sánh với các giá trị tham chiếu

và phương trình đường chuẩn gần nhất

2.4.2.3 Định lượng insulin

Phương tiện: Máy xét nghiệm cobas 600

Nguyên lý: Insulin được định lượng bằng phương pháp miễn dịch theo

kiểu „„sandwich‟‟, sử dụng công nghệ điện hóa phát quang Quy trình cụ thể

tiến hành như sau[1]:

x 100%

Trang 40

- Lần ủ đầu tiên: Gồm mẫu bệnh phẩm (huyết tương), một kháng thể đơn dòng đặc hiệu với insulin đã được gắn với biotin và một kháng thể đơn dòng đặc hiệu với insulin được gắn với phức hợp ruthenium để tạo thành phức hợp kiểu sandwich

- Lần ủ thứ hai: Sau khi cho thêm các vi hạt được bao phủ bởi streptavidin, phức hợp sẽ bám vào phase rắn qua phản ứng của biotin và streptavidin

- Phức hợp phản ứng được đưa vào buồng đo Tại đây các vi hạt được giữ lại bằng từ tính trên bề mặt điện cực Những chất thừa được rửa đi bằng procell Dùng một dòng điện (2vol) tác động vào điện cực nhằm kích thích phát quang và cường độ tín hiệu ánh sáng phát ra có thể đo được bằng bộ phận nhân quang

- Kết quả được tính toán dựa vào đường cong chuẩn thu được bằng cách chuẩn 2 điểm và đường cong gốc được cung cấp từ nhà sản xuất Nồng độ insulin tỷ lệ thuận với cường độ ánh sáng thu được

Ngày đăng: 19/10/2017, 12:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Hồ Thị Kim Thanh (2013), "Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, tình trạng kháng insulin và hiệu quả can thiệp ở người cao tuổi mắc phải hội chứng chuyển hóa", luận án tiến ỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, tình trạng kháng insulin và hiệu quả can thiệp ở người cao tuổi mắc phải hội chứng chuyển hóa
Tác giả: Hồ Thị Kim Thanh
Năm: 2013
5. Hà Văn Thiệu (2009), "Nghiên cứu sự biến đổi Protein phản ứng C và lipid máu của học sinh thừa cân và béo phì", Y học Việt Nam, Hội nghị Nhi khoa Miền Trung lần thứ VIII, tr.641-647 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự biến đổi Protein phản ứng C và lipid máu của học sinh thừa cân và béo phì
Tác giả: Hà Văn Thiệu
Năm: 2009
6. Hà Văn Thiệu (2008), "Nghiên cứu những bất lợi của học sinh thừa cân và béo phì", Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Tỉnh, đã được nghiệm thu theo Quyết định số 123/QĐ-KHCN, ngày 22 tháng 7 năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu những bất lợi của học sinh thừa cân và béo phì
Tác giả: Hà Văn Thiệu
Năm: 2008
7. Nguyễn Hải Thủy (2004), "CRP nguy cơ tim mạch và hội chứng chuyển hóa", Kỷ yếu Hội nghị Nội tiết-Đái tháo đường Miền Trung mở rộng lần IV, Qui Nhơn, tr.58-67.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: CRP nguy cơ tim mạch và hội chứng chuyển hóa
Tác giả: Nguyễn Hải Thủy
Năm: 2004
8. Al-Lawati Jawad A, Mohammed Ali J, Al-Hinai Halima Q, Jousilahti Pekka (2003), "Prevalence of the metabolic syndrome among Omani adults", Diabetes care, 26(6), pp. 1781-1785 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence of the metabolic syndrome among Omani adults
Tác giả: Al-Lawati Jawad A, Mohammed Ali J, Al-Hinai Halima Q, Jousilahti Pekka
Năm: 2003
9. Alberti George, Zimmet Paul, Shaw Jonathan, Grundy Scoot M (2006), "The IDF consensus worldwide definition of the metabolic syndrome", Brussels: International Diabetes Federation, pp. 1-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The IDF consensus worldwide definition of the metabolic syndrome
Tác giả: Alberti George, Zimmet Paul, Shaw Jonathan, Grundy Scoot M
Năm: 2006
10. Alberti Kurt George Matthew Mayer, Zimmet PZ ft (1998), "Definition, diagnosis and classification of diabetes mellitus and its complications. Part 1: diagnosis and classification of diabetes mellitus.Provisional report of a WHO consultation", Diabetic medicine, 15(7), pp. 539-553 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Definition, diagnosis and classification of diabetes mellitus and its complications. Part 1: diagnosis and classification of diabetes mellitus. Provisional report of a WHO consultation
Tác giả: Alberti Kurt George Matthew Mayer, Zimmet PZ ft
Năm: 1998
11. Avogaro Piero, Crepaldi Gaetano (1965), "Essential hyperlipidemia, obesity and diabetes", Diabetologia, 1(137) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Essential hyperlipidemia, obesity and diabetes
Tác giả: Avogaro Piero, Crepaldi Gaetano
Năm: 1965
12. Beckman Joshua A, Goldfine Allison B, Gordon Mary Beth, Creager Mark A (2001), "Ascorbate restores endothelium-dependent vasodilation impaired by acute hyperglycemia in humans", Circulation, 103(12), pp. 1618-1623 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ascorbate restores endothelium-dependent vasodilation impaired by acute hyperglycemia in humans
Tác giả: Beckman Joshua A, Goldfine Allison B, Gordon Mary Beth, Creager Mark A
Năm: 2001
13. Bellia Alfonso, Giardina Emiliano, Lauro Davide, Tesauro Manfredi, Di Fede Gaetana, Cusumano Gaspare, Federici Massimo, Rini GiovanBattista, Novelli Giuseppe, Lauro Renato (2009), "“The Linosa Study”: Epidemiological and heritability data of the metabolic syndrome in a Caucasian genetic isolate", Nutrition, Metabolism and Cardiovascular Diseases, 19(7), pp. 455-461 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “The Linosa Study”: Epidemiological and heritability data of the metabolic syndrome in a Caucasian genetic isolate
Tác giả: Bellia Alfonso, Giardina Emiliano, Lauro Davide, Tesauro Manfredi, Di Fede Gaetana, Cusumano Gaspare, Federici Massimo, Rini GiovanBattista, Novelli Giuseppe, Lauro Renato
Năm: 2009
14. Briones Ana M, Cat Aurelie Nguyen Dinh, Callera Glaucia E, Yogi Alvaro, Burger Dylan, He Ying, Corrêa Jose W, Gagnon Anne Marie, Gomez-Sanchez Celso E, Gomez-Sanchez Elise P (2012), "Adipocytes produce aldosterone through calcineurin-dependent signaling pathways", Hypertension, 59(5), pp. 1069-1078 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Adipocytes produce aldosterone through calcineurin-dependent signaling pathways
Tác giả: Briones Ana M, Cat Aurelie Nguyen Dinh, Callera Glaucia E, Yogi Alvaro, Burger Dylan, He Ying, Corrêa Jose W, Gagnon Anne Marie, Gomez-Sanchez Celso E, Gomez-Sanchez Elise P
Năm: 2012
15. Bui Thi Nhung, Le Thi Hop, al et (2014), "Pre-germinated brown rice reduced both blood glucose concentration and body weight in Vietnamese women with impaired glucose tolerance", Journal of nutritional science and vitaminology, 60(3), pp. 183-187 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pre-germinated brown rice reduced both blood glucose concentration and body weight in Vietnamese women with impaired glucose tolerance
Tác giả: Bui Thi Nhung, Le Thi Hop, al et
Năm: 2014
16. Cáceres Patricio J, Martínez-Villaluenga Cristina, Amigo Lourdes, Frias Juana (2014), "Assessment on Proximate Composition, Dietary Fiber, Phytic Acid and Protein Hydrolysis of Germinated Ecuatorian Brown Rice", Plant foods for human nutrition, 69(3), pp. 261-267 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessment on Proximate Composition, Dietary Fiber, Phytic Acid and Protein Hydrolysis of Germinated Ecuatorian Brown Rice
Tác giả: Cáceres Patricio J, Martínez-Villaluenga Cristina, Amigo Lourdes, Frias Juana
Năm: 2014
18. Cardillo Carmine, Nambi Sridhar S, Kilcoyne Crescence M, Choucair Wassim K, Katz Arie, Quon Michael J, Panza Julio A (1999), "Insulin stimulates both endothelin and nitric oxide activity in the human forearm", Circulation, 100(8), pp. 820-825 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Insulin stimulates both endothelin and nitric oxide activity in the human forearm
Tác giả: Cardillo Carmine, Nambi Sridhar S, Kilcoyne Crescence M, Choucair Wassim K, Katz Arie, Quon Michael J, Panza Julio A
Năm: 1999
19. Cho Dong-Hwa, Lim Seung-Taik (2016), "Germinated brown rice and its bio-functional compounds", Food chemistry, 196, pp. 259-271 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Germinated brown rice and its bio-functional compounds
Tác giả: Cho Dong-Hwa, Lim Seung-Taik
Năm: 2016
20. Choi Hee-Don, Kim Yun-Sook, al et (2006), "Hypotensive effect of germinated brown rice on spontaneously hypertensive rats", Korean Journal of Food Science and Technology, 38(3), pp. 448-451 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hypotensive effect of germinated brown rice on spontaneously hypertensive rats
Tác giả: Choi Hee-Don, Kim Yun-Sook, al et
Năm: 2006
21. Cinti Saverio, Mitchell Grant, Barbatelli Giorgio, Murano Incoronata, Ceresi Enzo, Faloia Emanuela, Wang Shupei, Fortier Melanie, Greenberg Andrew S, Obin Martin S (2005), "Adipocyte death defines macrophage localization and function in adipose tissue of obese mice and humans", Journal of lipid research, 46(11), pp. 2347-2355 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Adipocyte death defines macrophage localization and function in adipose tissue of obese mice and humans
Tác giả: Cinti Saverio, Mitchell Grant, Barbatelli Giorgio, Murano Incoronata, Ceresi Enzo, Faloia Emanuela, Wang Shupei, Fortier Melanie, Greenberg Andrew S, Obin Martin S
Năm: 2005
22. Cornier Marc-Andre, Dabelea Dana, Hernandez Teri L, Lindstrom Rachel C, Steig Amy J, Stob Nicole R, Van Pelt Rachael E, Wang Hong, Eckel Robert H (2008), "The metabolic syndrome", Endocrine reviews, 29(7), pp. 777-822 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The metabolic syndrome
Tác giả: Cornier Marc-Andre, Dabelea Dana, Hernandez Teri L, Lindstrom Rachel C, Steig Amy J, Stob Nicole R, Van Pelt Rachael E, Wang Hong, Eckel Robert H
Năm: 2008
23. Cummings Peter M, Giddens Karen, Nassar Bassam A (2000), "Oral glucose loading acutely attenuates endothelium-dependent vasodilation in healthy adults without diabetes: an effect prevented by vitamins C and E", Journal of the American College of Cardiology, 36(7), pp.2185-2191 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oral glucose loading acutely attenuates endothelium-dependent vasodilation in healthy adults without diabetes: an effect prevented by vitamins C and E
Tác giả: Cummings Peter M, Giddens Karen, Nassar Bassam A
Năm: 2000
24. Daskalopoulou SS, Mikhailidis DP, Elisaf M (2004), "Prevention and treatment of the metabolic syndrome", Angiology, 55(6), pp. 589-612 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevention and treatment of the metabolic syndrome
Tác giả: Daskalopoulou SS, Mikhailidis DP, Elisaf M
Năm: 2004

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w