Do vậy, để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc, đề tài đã tiến hành “Phân tích Danh mục thuốc được sử dụng tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TW năm 2015” nhằm xác định những vấn đề hợp l
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGÔ THỊ THANH TỊNH
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC ĐƯỢC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG TW NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGÔ THỊ THANH TỊNH
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC ĐƯỢC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG TW NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
CHUYÊN NGHÀNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: 60720412
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Xuân Thắng
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến TS Đỗ Xuân Thắng, Ths.DSCKII Bùi Văn Đạm, những người Thầy đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực
hiện đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học, Bộ môn Quản lý kinh tế Dược - Trường Đại học Dược Hà Nội đã tạo điều kiện, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và
nghiên cứu
Tôi cũng xin cảm ơn Lãnh đạo Bệnh viện, các anh chị em đồng nghiệp khoa Dược Bệnh viện Tai Mũi Họng TW đã động viên, hỗ trợ và tạo mọi điều
kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình công tác, học tập và nghiên cứu
Cuối cùng xin được bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên
cạnh giúp đỡ, động viên để tôi yên tâm học tập và hoàn thành đề tài
Hà nội, ngày 30 tháng 03 năm 2017
Ngô Thị Thanh Tịnh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN 3
1.1 Danh mục thuốc 3
1.1.1 Xây dựng Danh mục thuốc trong Bệnh viện 3
1.1.2 Vai trò của Hướng dẫn điều trị trong việc xây dựng DMT 4
1.1.3 Một số phương pháp phân tích Danh mục thuốc 5
1.2 Thực trạng về Danh mục thuốc 12
1.2.1 Thực trạng phân tích Danh mục thuốc 12
1.2.2 Thực trạng thực hiện Danh mục thuốc trong giai đoạn mua sắm 20
1.3 Bệnh Tai Mũi Họng và Bệnh viện TMHTW 22
1.3.1 Bệnh về Tai Mũi Họng 22
1.3.2 Một số nét về Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương 22
1.4 Tính cấp thiết của đề tài 23
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Phương pháp nghiên cứu: 25
2.2.1 Xác định biến số nghiên cứu 25
2.2.2 Mô hình thiết kế nghiên cứu 28
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 28
2.2.4 Mẫu nghiên cứu 29
2.2.5 Xử lý và phân tích số liệu 29
CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Phân tích việc thực hiện Danh mục thuốc trong giai đoạn mua sắm ảnh hưởng đến DMT được sử dụng tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TW năm 2015 32
3.1.1 Cơ cấu thuốc trúng thầu, thuốc không trúng thầu rộng rãi 32
Trang 53.1.2 Cơ cấu thuốc nhập khẩu, thuốc sản xuất trong nước trúng thầu rộng rãi 32
3.1.3 Cơ cấu thuốc NK, SXTN có trong DM Thông tư 10 trúng thầu rộng rãi 33
3.1.4 Cơ cấu thuốc trúng thầu rộng rãi được sử dụng 34
3.1.5 Cơ cấu thuốc được sử dụng tại Bệnh viện 35
3.1.6 Cơ cấu thuốc được sử dụng phải mua theo hình thức khác 36
3.1.7 Cơ cấu thuốc thuốc trúng thầu không được sử dụng 37
3.2 Phân tích cơ cấu danh mục thuốc được sử dụng tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TW năm 2015 38
3.2.1 Cơ cấu danh mục thuốc được sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý 38
3.2.2 Cơ cấu danh mục thuốc được sử dụng theo nguồn gốc xuất xứ 40
3.2.3 Cơ cấu danh mục thuốc được sử dụng theo nguồn gốc xuất xứ có trong danh mục TT10 41
3.2.4 Cơ cấu thuốc NK được sử dụng có trong DM TT10 theo nhóm TDDL 42
3.2.5 Cơ cấu danh mục thuốc được sử dụng theo tên Biệt dược gốc, Generic 43
3.2.6 Cơ cấu DMT được sử dụng theo thuốc đơn thành phần, đa thành phần 43
3.2.7 Cơ cấu danh mục thuốc được sử dụng theo đường dùng 44
3.2.8 Cơ cấu danh mục thuốc được sử dụng theo nhóm A, B, C 45
3.2.9 Cơ cấu DMT được sử dụng theo nhóm A, B, C trong từng nhóm TDDL 46
3.2.10 Cơ cấu danh mục thuốc đươc sử dụng theo nhóm V, E, N 48
3.2.11 Cơ cấu DMT được sử dụng theo nhóm V, E, N trong từng nhóm TDDL 49
3.2.12 Cơ cấu danh mục thuốc được sử dụng theo phân tích ABC/VEN 52
CHƯƠNG IV BÀN LUẬN 56
4.1 Thực hiện Danh mục thuốc trong giai đoạn mua sắm ảnh hưởng đến DMT được sử dụng tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TW năm 2015 56
4.1.1 Về thuốc trúng thầu rộng rãi, thuốc mua bằng hình thức khác 56
4.1.2 Về thuốc nhập khẩu, thuốc sản xuất trong nước 59
4.2 Cơ cấu Danh mục thuốc được sử dụng tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TW năm 2015 61
4.2.1 Về cơ cấu DMT được sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý 61
Trang 64.2.2 Về thuốc sản xuất trong nước & thuốc nhập khẩu 63
4.2.3 Về thuốc biệt dược gốc, thuốc generic 66
4.2.4 Về thuốc đơn thành phần, đa thành phần 66
4.2.5 Về đường dùng 67
4.2.6 Về phân tích ABC 68
4.2.7 Về phân tích VEN 70
4.2.8 Về phân tích ABC/VEN 71
4.3 Hạn chế của đề tài 73
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Thuốc tối cần; thuốc thiết yêu; thuốc không thiết yếu
Organization Tổ chức y tế thế giới
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Một số hướng dẫn thực hiện phân loại VEN 10
Bảng 1.2 Ma trận ABC/VEN 11
Bảng 1.3 Chi phí của Bệnh viện cho KS năm 2009 (số liệu Bộ Y tế) 17
Bảng 2.4 Nhóm biến số về thực hiện DMT giai đoạn mua sắm ảnh hưởng đến Danh mục thuốc được sử dụng 25
Bảng 2.5 Nhóm biến số phân tích cơ cấu DMT được sử dụng 27
Bảng 2.6 Nhóm chỉ số về thực hiện DMT trong giai đoạn mua sắm ảnh hưởng đến Danh mục thuốc được sử dụng 30
Bảng 2.7 Nhóm chỉ số phân tích cơ cấu DMT được sử dụng 31
Bảng 3.8 Tỉ lệ thuốc trúng thầu rộng rãi so với kế hoạch 32
Bảng 3.9 Tỉ lệ thuốc nhập khẩu, sản xuất trong nước trúng thầu rộng rãi 32
Bảng 3.10 Tỉ lệ thuốc NK, SXTN có trong DM TT 10 trúng thầu rộng rãi 33
Bảng 3.11 Tỉ lệ thuốc trúng thầu rộng rãi được sử dụng 34
Bảng 3.12 Tỉ lệ thuốc được sử dụng tại Bệnh viện 35
Bảng 3.13 Tỉ lệ thuốc được sử dụng phải mua theo hình thức khác 36
Bảng 3.14 Tỉ lệ thuốc trúng thầu không được sử dụng 37
Bảng 3.15 Tỉ lệ thuốc được sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý 38
Bảng 3.16 Tỉ lệ thuốc sản xuất trong nước, thuốc nhập khẩu 40
Bảng 3.17 Tỉ lệ thuốc nhập khẩu, thuốc sản xuất trong nước được sử dụng có hoạt chất trong danh mục TT10 41
Bảng 3.18 Tỉ lệ thuốc NK có trong danh mục TT10 theo nhóm TDDL 42
Bảng 3.19 Tỉ lệ thuốc biệt dược gốc, generic 43
Bảng 3.20 Tỉ lệ thuốc đơn thành phần, đa thành phần 43
Bảng 3.21 Tỉ lệ thuốc đường tiêm, uống, đường dùng khác 44
Bảng 3.22 Tỉ lệ thuốc nhóm A, B, C 45
Bảng 3.23 Tỉ lệ thuốc nhóm A, B, C trong từng nhóm tác dụng dược lý 46
Bảng 3.24 Tỉ lệ thuốc nhóm V, E, N 48
Bảng 3.25 Tỉ lệ thuốc nhóm V, E, N trong từng nhóm tác dụng dược lý 49
Bảng 3.26 Tỉ lệ các nhóm thuốc theo ma trận ABC/VEN 52
Bảng 3.27 Tỉ lệ nhóm AV trong từng nhóm tác dụng dược lý 53
Bảng 3.28 Tỉ lệ nhóm AE trong từng nhóm tác dụng dược lý 54
Bảng 3.29 Tỉ lệ nhóm AN trong từng nhóm tác dụng dược lý 55
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Các bệnh thường gặp về Tai Mũi Họng 22
Hình 3.2 Tỉ lệ thuốc được sử dụng tại Bệnh viện 35
Hình 3.3 Tỉ lệ thuốc NK, SXTN được sử dụng có trong danh mục TT10 42
Hình 3.4 Tỉ lệ thuốc đường tiêm, uống, đường dùng khác 44
Hình 3.5 Giá trị thuốc nhóm V, E, N 48
Hình 3.6 Giá trị các nhóm thuốc theo ma trận ABC/VEN 53
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả là một trong những yêu cầu cấp thiết trong hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người bệnh, trong đó hoạt động cung ứng thuốc đóng vai trò quan trọng Tuy nhiên, thực tế cho thấy hoạt động này đang là vấn đề bất cập của nhiều Bệnh viện Nguyên nhân có thể xảy ra ngay tại các giai đoạn của chu trình cung ứng thuốc mà hoạt động lựa chọn danh mục thuốc, là hoạt động đầu tiên trong chu trình có ý nghĩa quyết định Vì vậy, việc lựa chọn một danh mục thuốc đảm bảo chất lượng
là vấn đề tiên quyết hướng tới sử dụng thuốc đạt chi phí – hiệu quả
Mặc dù tổng giá trị tiền thuốc sử dụng tại các Bệnh viện chiếm tỉ trọng lớn, lên tới 47,9%; 58% trong các năm 2009, 2010 so với viện phí Tuy nhiên, một phần số tiền đó bị lãng phí do sử dụng thuốc không hợp lý hoặc hoạt động cung ứng thuốc chưa hiệu quả Bên cạnh đó, thị trường thuốc ngày càng phong phú cả về số lượng và chủng loại, năm 2011 tỉ lệ hoạt chất trên số đăng
ký của thuốc của thuốc sản xuất trong nước và nhập khẩu lần lượt là 3,95%; 6,24% [9] Nhưng đa số các Bệnh viện chưa lựa chọn được đầy đủ thuốc trong danh mục thuốc Bệnh viện khi thực hiện đấu thầu rộng rãi
Để giải quyết các vấn đề bất cập trên, DMT của Bệnh viện trước tiên phải đáp ứng được yêu cầu tối cần đó là đủ thuốc về chủng loại, số lượng và tính sẵn có trong bối cảnh nhiều biến động về MHBT, khả năng cung ứng của các đơn vị, sự thay đổi của các qui định liên quan Bằng việc phân tích DMT được sử dụng, đặc biệt đối với các thuốc Bệnh viện phải mua theo hình thức khác ngoài đấu thầu rộng rãi hạn chế tối đa việc phải thực hiện hình thức cung ứng khác, tránh bị động trong việc cung ứng thuốc
Song song với việc cung ứng đủ thuốc đòi hỏi danh mục thuốc đạt chất lượng thể hiện ở kết quả điều trị Sử dụng các phương pháp phân tích khoa học đã được WHO [42], Bộ y tế [21] khuyến cáo sử dụng về đánh giá việc sử
Trang 11dụng thuốc một cách toàn diện để hạn chế, loại bỏ, bổ sung, thay thế các thuốc trong danh mục, là cơ sở để xây dựng danh mục thuốc kỳ tiếp theo
Vì những lí do trên việc đảm bảo một danh mục thuốc đầy đủ, chọn lọc, phù hợp đối với từng Bệnh viện là rất cần thiết Hệ thống danh mục thuốc phù hợp giúp cho việc cung ứng thuốc đạt chất lượng đem lại lợi ích trong công tác khám chữa bệnh
Với vai trò là Bệnh viện tuyến chuyên khoa đầu ngành về các bệnh tai, mũi, họng trong cả nước, yêu cầu chất lượng điều trị của Bệnh viện Tai Mũi Họng TW được đặt lên hàng đầu Do vậy, để góp phần nâng cao hiệu quả sử
dụng thuốc, đề tài đã tiến hành “Phân tích Danh mục thuốc được sử dụng
tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TW năm 2015” nhằm xác định những vấn đề
hợp lí, vấn đề tồn tại, phát sinh của Danh mục thuốc được sử dụng năm trước Làm cơ sở cho HĐT&ĐT xây dựng, lựa chọn Danh mục thuốc năm tiếp theo đáp ứng cho nhu cầu sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả Để đạt được mục đích đó, đề tài đã phân tích DMT với 2 mục tiêu:
1 Phân tích việc thực hiện Danh mục thuốc trong giai đoạn mua sắm ảnh hưởng đến DMT được sử dụng tại Bệnh viện Tai mũi Họng TW năm 2015
2 Phân tích cơ cấu Danh mục thuốc được sử dụng tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TW năm 2015
Trang 12CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1.1 Danh mục thuốc
1.1.1 Xây dựng Danh mục thuốc trong Bệnh viện
a) Khái niệm Danh mục thuốc
Danh mục thuốc là danh mục những loại thuốc cần thiết thỏa mãn nhu cầu khám chữa bệnh, phù hợp với MHBT, kỹ thuật điều trị và bảo quản, khả năng tài chính của từng Bệnh viện và khả năng chi trả của người bệnh Những thuốc này trong phạm vi không gian, thời gian, trình độ xã hội, khoa học kỹ thuật nhất định luôn sẵn có với số lượng cần thiết, chất lượng đảm bảo, dạng bào chế thích hợp, giá cả phải chăng [42]
Danh mục thuốc Bệnh viện là một Danh mục thuốc thường xuyên được cập nhật các thuốc và các thông tin liên quan tới thuốc đáp ứng nhu cầu lâm sàng của bác sỹ, dược sỹ, các chuyên gia y tế khác trong chẩn đoán, phòng ngừa, điều trị bệnh cải thiện sức khỏe [41]
b) Các bước xây dựng Danh mục thuốc Bệnh viện
- Bước 1: Thu thập, phân tích tình hình sử dụng thuốc năm trước về số lượng và giá trị sử dụng trong đó có áp dụng phân tích ABC – VEN để phát hiện các vấn đề về sử dụng thuốc
Phân tích ABC là công cụ để phân loại các thuốc vào các nhóm có giá trị từ cao đến thấp để từ đó biết được thuốc chiếm phần lớn chi phí Nhưng nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là không cung cấp được thông tin
để so sánh mức độ cần thiết của các thuốc khác nhau [41] Để khắc phục nhược điểm này tiến hành kết hợp phân tích ABC danh mục thuốc với phương pháp phân tích VEN Kết quả phân tích ABC/VEN có thể cho HĐT&ĐT thấy được các vấn đề còn tồn tại của DMT Bệnh viện cung cấp thông tin tư vấn cho Giám đốc Bệnh viện để có những chính sách ưu tiên trong mua sắm, cấp phát, dự trữ, bảo quản và sử dụng thuốc Phân tích
Trang 13ABC/VEN đảm bảo mục đích DMT được xây dựng theo khuyến cáo của WHO: Đó là, trước khi xây dựng DMT chính thức cần xây dựng một dự thảo DMT trong đó xác định những thuốc quan trọng nhất, thuốc ít thiết yếu, thuốc
có giá trị cao nhất [41]
- Bước 2: Đánh giá các thuốc được đề nghị bổ sung hoặc loại bỏ từ các khoa lâm sàng một cách khách quan
Trước khi xây dựng DMT, các khoa phòng dựa trên nhu cầu thực tế sẽ
đề xuất bổ sung hoặc loại bỏ các thuốc trong DMT Bệnh viện HĐT&ĐT tổng hợp, đánh giá và cân nhắc dựa trên hướng dẫn điều trị, kết quả sử dụng thuốc trên lâm sàng, hiệu quả thuốc đã được chứng minh Từ đó thống nhất lựa chọn DMT Bệnh viện
- Bước 3: Xây dựng DMT và phân loại DMT theo nhóm điều trị, theo phân loại VEN
- Bước 4: Xây dựng các nội dung hướng dẫn sử dụng DMT
Sau khi hoàn thiện DMTBV, Bệnh viện tổ chức tập huấn hướng dẫn cho cán bộ y tế sử dụng DMT, định kỳ hàng năm đánh giá, sửa đổi, bổ sung DMT
1.1.2 Vai trò của Hướng dẫn điều trị trong việc xây dựng DMT
Hướng dẫn điều trị là văn bản chuyên môn có tính pháp lý, nó được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn, được sử dụng như một khuôn mẫu, trong điều trị mỗi loại bệnh Một hướng dẫn điều trị có thể có một hoặc nhiều công thức khác nhau [2], [3]
Theo WHO, việc lựa chọn liệu pháp điều trị thích hợp, lựa chọn thuốc đạt chi phí – hiệu quả sẽ mang lại kết quả tốt trong chăm sóc sức khỏe Cần có
sự thống nhất giữa DMT và HDĐT, việc chỉ tuân thủ DMT một cách nghiêm ngặt sẽ không cải thiện được thực hành điều trị nếu lựa chọn thuốc không dựa trên HDĐT Do vậy, DMTBV nên được xây dựng dựa trên HDĐT, có thể dựa trên HDĐT tại các nước có nền y học phát triển với mô hình HDĐT quốc gia
Trang 14và các phác đồ điều trị chuẩn khác Thuốc có mặt trong HDĐT thường là thuốc thiết yếu, thuốc không thiết yếu hoặc thuốc bị hạn chế về số lượng chỉ dành cho những bệnh nhân có yêu cầu điều trị đặc biệt [43]
Để có được HDĐT, HĐT&ĐT có thể xây dựng hướng dẫn điều trị mới ngay từ ban đầu, tuy nhiên đây là một công việc khó khăn và tốn nhiều thời gian, chỉ thích hợp với nhiều Bệnh viện lớn Thay vào đó, HĐT&ĐT có thể ứng dụng các HDĐT sẵn có của quốc gia hoặc HDĐT của các tổ chức khác điều chỉnh cho phù hợp với Bệnh viện, hoặc đơn giản là sử dụng HDĐT của tổ chức khác Do đó việc áp dụng HDĐT nào phụ thuộc vào từng Bệnh viện và phải phù hợp với nhu cầu điều trị của Bệnh viện đó HDĐT có vai trò rất quan trọng trong xây dựng và sử dụng DMT hợp lý, đảm bảo hiệu quả điều trị
Tuy nhiên, việc có một DMT lý tưởng thì vấn đề sử dụng DMT không hợp lý vẫn có thể xảy ra HDĐT chuẩn là một bằng chứng và chiến lược hiệu quả giúp kê đơn thuốc phù hợp với tình trạng lâm sàng
Tại Việt Nam việc xây dựng DMTBV chủ yếu dựa vào DMT đã sử dụng năm trước, DMT chủ yếu của Bộ Y tế và kinh nghiệm của bác sĩ nhưng chưa
có đánh giá cụ thể Căn cứ đơn thuần dựa trên con số cơ học chưa chú ý đến chất lượng danh mục, phác đồ điều trị và HDĐT nên còn thiếu căn cứ khoa học Kết quả là, với số lượng hoạt chất quá đa dạng với nhiều biệt dược được
sử dụng gây khó khăn cho việc lựa chọn đúng thuốc đảm bảo chi phí - hiệu quả [20] [26] Theo nghiên cứu của Hoàng Hồng Hải (2008), Vũ Thị Bích Hạnh (2010) cho thấy các Bệnh viện vẫn chưa xây dựng phác đồ điều trị chuẩn, các bác sĩ chủ yếu điều trị theo kiến thức và kinh nghiệm của mình [19]
1.1.3 Một số phương pháp phân tích Danh mục thuốc
Theo WHO, các phương pháp chính để làm rõ các vấn đề sử dụng thuốc tại Bệnh viện đó là [42]:
- Các phương pháp tổng hợp dữ liệu: Phương pháp này sử dụng các dữ liệu mà không liên quan đến cá thể và có thể thu thập dễ dàng Các phương
Trang 15pháp như phân tích nhóm điều trị, phân tích ABC, phân tích VEN, phân tích liều DDD… thường được sử dụng để xác định các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc
- Các phương pháp đánh giá chỉ số sử dụng thuốc: Phương pháp này sử dụng các dữ liệu ở mức độ cá thể nhưng không bao gồm các thông tin về hiệu quả để đưa ra các quyết định liên quan đến sự phù hợp của đơn thuốc cho một chỉ định cụ thể Những dữ liệu này có thể thu thập bởi những người được đào tạo nhưng không phải bác sỹ, dược sỹ, điều dưỡng Dữ liệu được sử dụng để xác định các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc, chăm sóc bệnh nhân và sử dụng đánh giá can thiệp để giải quyết vấn đề
- Các phương pháp định tính như thảo luận nhóm tập trung, phỏng vấn sâu, quan sát và bộ câu hỏi có chọn lọc sẽ rất hữu ích để xác định nguyên nhân của các tồn tại liên quan đến sử dụng thuốc
- Phương pháp đánh giá sử dụng thuốc: là hệ thống đánh giá liên tục về
sử dụng thuốc dựa trên các tiêu chuẩn Phương pháp này giúp đảm bảo sử dụng thuốc phù hợp ở mức độ cá thể, và sử dụng các phân tích chi tiết trên từng dữ liệu cụ thể
Trong số các phương pháp trên, những phương pháp hữu ích thường được sử dụng để phân tích DMT là phân tích nhóm điều trị, phân tích ABC, phân tích VEN và phân tích ma trận ABC/VEN, là công cụ cho HĐT&ĐT quản lý DMT
a) Phương pháp ABC
Trên thực tế, 75-80% chi phí dành cho thuốc của Bệnh viện chỉ dành để mua 10 - 20% sản phẩm thuốc có giá trị cao nhất Phân tích ABC là công cụ
để xác định các thuốc chiếm phần lớn chi phí về thuốc của Bệnh viện
Khái niệm phân tích ABC
Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn chi phí về thuốc của Bệnh viện [10] [37]
Trang 16 Các bước thực hiện
Phân tích ABC được tiến hành theo các bước sau [10]:
- Bước 1: Liệt kê các sản phẩm thuốc
- Bước 2: Điền các thông tin vào sau mỗi sản phẩm thuốc: Đơn giá, số lượng
- Bước 3: Tính tổng tiền cho mỗi sản phẩm
- Bước 4: Tính phần trăm giá trị của mỗi sản phẩm
- Bước 5: Sắp xếp lại các sản phẩm theo thứ tự phần trăm các sản phẩm giảm dần
- Bước 6: Tính giá trị phần trăm tích lũy của tổng giá trị cho mỗi sản phẩm, bắt đầu từ sản phẩm thứ nhất, sau đó cộng với sản phẩm tiếp theo trong danh sách
- Bước 7: Phân hạng như sau:
Thuốc hạng A chiếm 75 - 80% tổng giá trị tiền tương ứng với khoảng 10 - 20% tổng số sản phẩm thuốc
Thuốc hạng B (với tỷ lệ sử dụng trung bình), chiếm 15 - 20% tổng giá trị tiền tương ứng với khoảng 10 - 20% tổng số sản phẩm thuốc
Thuốc hạng C (gồm đại đa số các thuốc có cách sử dụng riêng lẻ ở mức thấp), chiếm 5 - 10% tổng giá trị tiền tương ứng với khoảng 60
- 80% tổng sản phẩm thuốc
Vai trò, ý nghĩa của phân tích ABC
- Thuốc được sử dụng tập trung vào một số sản phẩm (có tổng số khoản mục thấp) nhưng chiếm chi phí cao (nhóm A) Do vậy, nên tìm kiếm giải pháp thay thế các thuốc đó bởi thuốc có hiệu quả tương đương trong danh mục thuốc sẵn có hoặc thuốc có mặt trên thị trường Bằng cách lựa chọn những thuốc có chi phí điều trị thấp hơn, tìm ra các phác đồ điều trị thay thế, đàm phán với nhà cung cấp để mua thuốc với giá thấp hơn
Trang 17- Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng từ đó phát hiện ra những bất hợp lý trong sử dụng thuốc, dựa trên so sánh lượng thuốc tiêu thụ với MHBT
- Xác định phương thức mua thuốc các thuốc không có trong Danh mục thuốc thiết yếu của Bệnh viện
Phân tích ABC có thể ứng dụng các số liệu tiêu thụ thuốc cho chu kỳ trên 1 năm hoặc ngắn hơn Sau khi hoàn thành phân tích ABC, các thuốc đặc biệt là trong nhóm A cần được đánh giá lại và xem xét việc sử dụng các thuốc không có trong danh mục, thuốc đắt tiền Trên cơ sở đó lựa chọn những phác
đồ điều trị có hiệu quả tương đương nhưng có giá thành rẻ hơn Như vậy ưu điểm chính của phương pháp phân tích ABC giúp xác định xem phần lớn ngân sách được chi trả cho những thuốc nào [10] [31]
b) Phương pháp phân tích VEN
Khái niệm phân tích VEN
Phân tích VEN là một hệ thống xác lập sự ưu tiên trong việc lựa chọn, mua sắm và tồn trữ các thuốc trong Bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ
để mua toàn bộ thuốc như mong muốn Trong phân tích VEN thuốc được chia thành 3 hạng như sau:
- Thuốc V (Vital Drugs): Thuốc dùng trong các trường hợp cấp cứu, hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám chữa bệnh của Bệnh viện
- Thuốc E (Essential Drugs): Thuốc dùng cho các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong MHBT của Bệnh viện
- Thuốc N (Non- Essential Drugs): Thuốc dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ, bệnh có thể tự khỏi, có thể bao gồm các thuốc mà hiệu quả điều trị còn chưa được khẳng định rõ ràng hoặc giá thành không tương xứng với lợi ích lâm sàng của thuốc
Trang 18 Các bước thực hiện phân tích VEN theo Bộ Y tế [10]
- Bước 1: Từng thành viên hội đồng sắp xếp các nhóm thuốc theo 3 loại
V, E, N
- Bước 2: Tập hợp và thống nhất kết quả hội đồng
- Bước 3: Lựa chọn và loại bỏ những phương án điều trị trùng lặp
- Bước 4: Xem xét những thuốc thuộc nhóm N và hạn chế mua hoặc loại
bỏ những thuốc không có nhu cầu điều trị
- Bước 5: Xem xét lại số lượng mua dự kiến, mua thuốc nhóm V, E trước nhóm N và đảm bảo thuốc nhóm V và E có một lượng dự trữ an toàn
- Bước 6: Giám sát đơn đặt hàng và lượng tồn kho của nhóm V và E chặt chẽ hơn nhóm N
- Tiêu chí phân loại V, E, N
Theo WHO việc phân loại các thuốc vào nhóm “N” khá dễ dàng, nhưng khó để phân loại nhóm “V” và “E” Đôi khi có thể phân loại thành thuốc thiết yếu và không thiết yếu Trong đó thuốc thiết yếu là thuốc đảm bảo đáp ứng nhu cầu chữa bệnh của đa số bệnh nhân Do sự phân loại các thuốc nhóm V, E, N đối với các cá nhân là khác nhau dẫn đến khó khăn trong việc thống nhất xếp nhóm Đối với các Bệnh viện chuyên khoa nhận được sự đồng thuận cao hơn Bệnh viện đa khoa Do vậy, một số hướng dẫn
đã dựa vào đặc tính của thuốc và điều kiện mục tiêu để hướng dẫn thực hiện phân loại VEN [37]
Trang 19Bảng 1.1 Một số hướng dẫn thực hiện phân loại VEN
Đặc tính của thuốc và điều
kiện mục tiêu
Sống còn (V)
Thiết yếu (E)
Không thiết yếu (N) Tần suất bệnh lý
Số BN được điều trị trung bình
Mức độ nặng của bệnh
Hiệu quả điều trị của thuốc
Điều trị được bệnh nhẹ, giảm
Có hiệu quả đã được chứng
Thường xuyên
Có thể hoặc không
Hiệu quả điều trị không rõ ràng bao giờ Không Hiếm khi Có thể
- Ý nghĩa của phân tích VEN
Phân tích VEN là một phương pháp đặc biệt giúp cho nhà quản lý Bệnh viện đưa ra ưu tiên mua sắm và dự trữ thuốc
Kết quả phân tích VEN giúp xác định những chính sách ưu tiên cho việc lựa chọn mua sắm, quản lý hàng tồn kho và sử dụng thuốc với giá cả phù hợp [39], [40]
Về lựa chọn thuốc: Thuốc V, E được ưu tiên lựa chọn, đặc biệt trong trường hợp nguồn ngân sách hạn hẹp
Trang 20Về mua sắm thuốc: Các thuốc V, E cần phải kiểm soát khi đặt hàng đủ
số lượng dự trữ cần thiết, giảm dự trữ thuốc nhóm N Nếu ngân sách hạn hẹp thì việc sử dụng phân tích VEN được dùng để đảm bảo số lượng các thuốc V,
E được mua đầy đủ trước tiên, sau đó sẽ lựa chọn nhà cung cấp đáng tin cậy
để mua thuốc thiết yếu Đối với nhà cung cấp mới có thể thử mua các thuốc không thiết yếu trước
Về sử dụng thuốc: Theo dõi kiểm soát sử dụng thuốc, đưa ra các kiến
nghị về sử dụng thuốc V và E, xem xét hạn chế sử dụng thuốc nhóm N
Về dự trữ: Chú ý đặc biệt lưu trữ các thuốc V, E có một lượng tồn kho
an toàn nhất định, tránh trường hợp thiếu thuốc
c) Phương pháp phân tích ma trận ABC/VEN
Phân tích ABC kết hợp với phân tích VEN để xác định mối quan hệ giữa thuốc có chi phí cao nhưng có độ ưu tiên thấp, để hạn chế hoặc xóa bỏ thuốc nhóm “N” nhưng chi phí thuộc nhóm A Sự kết hợp phân tích ABC, VEN tạo thành ma trận ABC/VEN
Trang 21đối với thuốc không thiết yếu nhưng có chi phí cao (AN) thì cần hạn chế hoặc xóa bỏ khỏi DMT
d) Phương pháp phân tích nhóm tác dụng dược lý
Dựa trên phân tích ABC, phân tích nhóm TDDL giúp xác định những nhóm TDDL nào có mức tiêu thụ thuốc nhiều nhất Trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật, xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý, các thuốc
bị lạm dụng hoặc những thuốc mà mức tiêu thụ không mang tính đại diện cho những ca bệnh cụ thể Từ đó HĐT&ĐT lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm TDDL và thuốc điều thị thay thế [31]
Từ đó, xem xét các nhóm TDDL có chi phí cao để xác định những thuốc đắt tiền và liệu pháp điều trị có chi phí thấp mà vẫn đạt được hiệu quả mong muốn
1.2 Thực trạng về Danh mục thuốc
1.2.1 Thực trạng phân tích Danh mục thuốc
a) Phương pháp phân tích ABC
Trên thế giới
Phân tích ABC là công cụ có ý nghĩa, rất quan trọng trong lựa chọn mua, cấp phát và sử dụng thuốc hợp lý giúp cho Bệnh viện tiết kiệm được một khoản chi phí đáng kể và được áp dụng phổ biến trên thế giới Phương pháp phân tích này đã được áp dụng tại châu Phi, châu Mỹ la tinh [36], Ấn
Độ [38] và nhiều nước khác, giúp việc xây dựng và đánh giá DMT hiệu quả hơn, các nghiên cứu cụ thể đã làm rõ hơn vấn đề này:
Một nghiên cứu tại Ấn Độ sử dụng phân tích ABC để phân tích một DMTBV nhằm xác định các nhóm cần kiểm soát nghiêm ngặt trong số 421 thuốc trong danh mục Kết quả thu được các thuốc theo nhóm A, B, C chiếm
Trang 2213,8%; 21,9%; 64,4% về số khoản mục trong toàn bộ ngân sách thuốc từ đó chỉ
ra các thuốc thuộc nhóm A cần kiểm soát, hoặc thay thế [34]
Tại Indonesia năm 2012 sử dụng phân tích ABC đối với các thuốc được mua năm 2010 cho thấy chi phí cho thuốc mê cao nhất, sau đó đã đưa ra được
đề xuất lựa chọn thuốc gây mê đảm bảo hiệu quả nhưng tiết kiệm chi phí [35]
Như vậy, mô hình của các nước sau khi đã xác định được thuốc nhóm
A là nhóm có chi phí cao, khi đó sẽ cân nhắc lựa chọn thuốc thuốc thay thế bằng các thuốc rẻ hơn nhưng vẫn đảm bảo chất lượng, hiệu quả điều trị Xác định tần suất mua thuốc sao cho đảm bảo đủ thuốc nhưng lượng tồn kho không quá lớn làm giảm chi phí tồn kho
- Tại Việt Nam
Tại Việt nam việc phân tích ABC đã được qui định tại Thông tư số 21/2013/TT-BYT, là một trong những phương pháp phân tích để phát hiện vấn đề sử dụng thuốc, cung cấp dữ liệu quan trọng để HĐT&ĐT xây dựng DMT của Bệnh viện Các nghiên cứu đã chỉ vấn đề chưa hợp lý của Bệnh viện khi sử dụng phần lớn chi phí mua sắm được số khoản mục thấp như Bệnh viện Nhi Trung Ương (9,6%), Bệnh viện Lao phổi Trung ương (9,9%) [14]
Bên cạnh đó, các nghiên cứu khác cũng đã chỉ ra việc thực hiện mua sắm hợp lý của Bệnh viện như Bệnh viện Hữu Nghị tỉ lệ thuốc nhóm A chiếm lần lượt 15,7% khoản mục [24], Bệnh viện TW Quân đội 108 nhóm A,
B, C chiếm lần lượt 10,3%; 13,6%; 76,1% số khoản mục [18]
Một nghiên cứu khác trên 38 Bệnh viện tuyến TW, tuyến tỉnh, tuyến huyện để đánh giá hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong xây dựng
và thực hiện danh mục thuốc tại một số Bệnh viện đa khoa Sử dụng phương pháp phân tích ABC như là một trong những tiêu chí đánh giá hoạt động của HĐT&ĐT trong xây dựng DMT Kết quả nghiên cứu cho thấy các Bệnh viện sử dụng chi phí mua được 11,2 – 13,1% số khoản mục thuốc nhóm A trong danh mục thuốc sử dụng [21]
Trang 23b) Phương pháp VEN
Phân tích VEN thường được kết hợp với phân tích ABC để xác định mối quan hệ giữa các thuốc có chi phí cao nhưng mức độ ưu tiên thấp, đặc biệt tiến tới hạn chế, xóa bỏ các thuốc “N” có giá cao hoặc mức độ tiêu thụ cao trong nhóm A [37] Tuy nhiên kết quả phân tích VEN giữa các Bệnh viện là khác nhau do việc đánh giá danh mục VEN của các Bệnh viện là khác nhau
Trên thế giới
Phương pháp phân tích VEN được áp dụng nhiều quốc gia trên thế giới [40], khác với phân tích ABC muốn phân tích VEN phải thành lập một hội đồng chuyên gia yêu cầu sự đồng thuận trong quan điểm phân loại thuốc rất cao Đối với các Bệnh viện đa khoa đây là một vấn đề rất khó khăn, vì với cùng một thuốc nhưng đối với các chuyên khoa khác nhau thì mức độ cấp thiết là khác nhau
Một nghiên cứu tại Ấn Độ (2003) đã thực hiện phân tích VEN như sau: Gửi DMT tiêu thụ tới một nhóm 10 người gồm dược sĩ, bác sĩ phẫu thuật, bác
sĩ nhi khoa, bác sĩ phụ khoa, bác sĩ gây mê, nhà bệnh học và 4 cán bộ y tế khác các chuyên gia sẽ được phỏng vấn để phân loại trong Danh mục thuốc tối ưu, thuốc thiết yếu, và thuốc không thiết yếu Thuốc sẽ được phân loại vào nhóm VEN nếu có trên 50% thành viên đồng thuận [39]
Áp dụng phân tích VEN về thuốc được sử dụng tại một Bệnh viện ở Ấn
Độ các thuốc nhóm V, E, N chiếm 17,1%; 72,4%; 10,5% ngân sách tương ứng 12,1%; 59,4%; 28,5% số khoản mục Từ kết quả đó Bệnh viện có cơ sở
để tối ưu hóa nguồn lực tại khoa Dược, sử dụng ngân sách hiệu quả hơn [34]
Tại Việt Nam
Đến năm 2004, tất cả các Bệnh viện đều đã xây dựng DMT sử dụng trong Bệnh viện và đảm bảo đủ thuốc chữa bệnh chủ yếu [12] Việc áp dụng ABC/VEN tại các Bệnh viện còn nhiều hạn chế Nghiên cứu trên 38 Bệnh
Trang 24viện tuyến TW, tuyến tỉnh và tuyến huyện thấy rằng tại hầu hết các Bệnh viện HĐT&ĐT chưa hiểu hoặc chưa biết sử dụng phương pháp ABC/VEN [21] Việc áp dụng phân tích VEN mới được nghiên cứu gần đây, vấn đề sử dụng thuốc chưa hợp lý, đặc biệt là sự lạm dụng thuốc nhóm N, AN của các Bệnh viện đã được các nghiên cứu chỉ rõ, đề xuất các giải pháp sử dụng thuốc, sử dụng các biện pháp can thiệp được giải quyết tại các nghiên cứu:
Phân tích ABC/VEN tại Bệnh viện Hữu Nghị thu được kết quả phân nhóm AV trong 3 năm chiếm tỉ trọng về giá trị lần lượt từ 4,7 %; 4%; 3,2
%, phân nhóm AE chiếm tỉ trọng 89,4%; 90%; 92,5%, Nhóm AN chiếm tỉ trọng 5,9%; 6%; 4,3% Trên cơ sở đó tác giả đã khuyến cáo HĐT&ĐT can thiệp các vấn đề sử dụng thuốc như giám sát kê đơn, giảm ngân sách các thuốc nhóm N [20]
Kết quả phân tích ABC/VEN tại Bệnh viện đa khoa Quảng Nam năm
2013 cho thấy kinh phí chủ yếu tập trung ở nhóm AV chiếm 78,5%, nhóm
AN chiếm tỉ lệ thấp 1,4% [25] Bệnh viện Nội tiết TW nhóm AV 27,9%, nhóm AE 30,5%, nhóm AN có chiếm 16,7 % về giá trị Trong đó nhóm AN
có 8 thuốc, chủ yếu tập trung vào các nhóm bổ gan, tăng cường chức năng gan [13]
Từ các nghiên cứu trên cho thấy rằng tỉ lệ nhóm AV, AE, AN của các Bệnh viện đa khoa khác nhau có kết quả chênh lệch nhau rất lớn, điều này phản ánh sự khác nhau về sử dụng thuốc thiết yếu tại các Bệnh viện
Sử dụng phương pháp phân tích ABC/VEN để can thiệp lên DMT tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, trong đó phân tích VEN cho kết quả, nhóm N chiếm tỷ lệ kinh phí và số khoản mục khá cao tương ứng 21,1%; 24,7%, điều này chứng tỏ Bệnh viện chưa quan tâm giám sát sử dụng các loại thuốc không thiết yếu Phân tích ABC/VEN sau can thiệp cho kết quả số khoản mục phân nhóm II (gồm BE, BN, CE) tăng lên từ 17,77% lên 21,55%,
Trang 25phân nhóm III (CN) giảm từ 21,54% xuống còn 16,19%, cho thấy hiệu quả của việc phân tích ABC/VEN khi tiến hành can thiệp [18]
Nghiên cứu tại Bệnh viện nhân dân 115 dùng phân tích ABC/VEN để đánh giá sự cải thiện trong can thiệp chất lượng DMT Kết quả, về số khoản mục, nhóm I gồm (AV, AE, AN, BV, CV) là nhóm đặc biệt quan tâm đã thay đổi về từ 14,8% trước can thiệp xuống còn 9,1% sau can thiệp, trong đó nhóm
AN giảm từ 3,5% trước can thiệp xuống còn 1,2% sau can thiệp Nhóm II (gồm BE, BN, CE) tuy mức độ cần thiết ít hơn nhóm I nhưng là nhóm cần giám sát kỹ vì sử dụng ngân sách tương đối lớn và cần thiết cho điều trị Từ tỉ
lệ 57,3% trước can thiệp giảm xuống còn 41,6% sau can thiệp, 71 hoạt chất đã được hội đồng thuốc loại ra khỏi danh mục sau can thiệp Nhóm III(CN) ít quan trọng nhưng chiếm tỉ lệ 27,9% giảm xuống còn 11,5% sau can thiệp, có
82 hoạt chất được loại khỏi danh mục sau can thiệp [33]
Như vậy, việc áp dụng phân tích ABC/VEN bước đầu đã thu được các kết quả khả quan lên hoạt động sử dụng thuốc chỉ ra được các thuốc có chi phí cao nhưng có độ ưu tiên thấp (AN), có biện pháp can thiệp để hạn chế
hoặc xóa bỏ thuốc nhóm AN, hướng tới sử dụng thuốc đạt chi phí – hiệu quả c) Phương pháp phân tích nhóm tác dụng dược lý
Về sử dụng thuốc chống nhiễm khuẩn
Theo số liệu của Cục khám chữa bệnh năm 2011 chi phí cho chống nhiễm khuẩn gần 6 nghìn tỉ đồng chiếm 31% trên tổng chi phí sử dụng thuốc [27] Con số này phản ánh thực trạng chi phí cho việc dùng thuốc chống nhiễm khuẩn trong điều trị là một gánh nặng kinh tế đối với ngân sách quốc gia dành cho y tế
Trong phân tích thực trạng sử dụng KS và kháng KS ở Việt Nam của nhóm nghiên cứu quốc gia GARP (Hợp tác toàn cầu về kháng KS) – Việt
Trang 26Nam thống kê từ các báo cáo Bộ Y tế thu thập về tình hình sử dụng thuốc tại Bệnh viện, chi phí Bệnh viện cho KS năm 2009 [23]:
Bảng 1.3 Chi phí của Bệnh viện cho KS năm 2009 (số liệu Bộ Y tế)
Phân loại Bệnh viện Bệnh viện Số lượng
Chi phí KS/Tổng chi phí thuốc %
Trung bình
%
Phân tích sử dụng thuốc tại 38 Bệnh viện, nhóm chống nhiễm khuẩn được sử dụng nhiều nhất cụ thể Bệnh viện Trung ương 25,7%; tuyến tỉnh 32%; tuyến huyện 43,1% về giá trị [21] Tương tự, đối với Bệnh viện đa khoa
TW Huế 34,84% [32], BV TW Quân đội chiếm tỉ lệ 20,3% [22] BV chuyên khoa Phụ sản TW 19,22% [26], Bệnh viện nội tiết TW 9,5% [13] BV Tai Mũi Họng TW năm 2012, 2013 chiếm tới 52,66%; 51,64% về giá trị; 38,24%, 38,87% về khoản mục [1] Như vậy, BV Tai Mũi Họng TW có tỉ lệ sử dụng thuốc chống nhiễm khuẩn cao nhất trong các Bệnh viện so sánh
Theo một nghiên cứu về thực trạng thanh toán thuốc BHYT tổng cả năm 2010, trong số 30 hoạt chất có giá trị thanh toán tiền nhiều nhất chiếm 43,7% tiền thuốc BHYT có đến 10 hoạt chất thuộc nhóm chống nhiễm khuẩn, chiếm tỉ lệ cao nhất (21,92% tiền thuốc BHYT) [29]
Các nghiên cứu trên cho thấy thuốc chống nhiễm khuẩn chiếm tỉ trọng lớn trong tổng tiền thuốc sử dụng tại Bệnh viện, nguyên nhân có thể do MHBT tại Việt Nam có tỉ lệ nhiễm khuẩn cao, hoặc có tình trạng lạm dụng thuốc chống nhiễm khuẩn vẫn còn phổ biến
Trang 27 Về sử dụng thuốc sản xuất trong nước, thuốc nhập khẩu
Trong năm 2012 Cục quản lý Dược đã tổ chức thành công diễn đàn
“Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam” Đây là một trong những giải pháp quan trọng hỗ trợ cho ngành Dược Việt Nam phát triển bền vững, đảm bảo nguồn cung ứng thuốc phòng chữa bệnh cho nhân dân và không lệ thuộc vào nguồn nhập khẩu từ nước ngoài [8]
Thuốc sản xuất tại Việt Nam đã đa dạng về chủng loại và số lượng: Nhóm thuốc dung dịch tiêm truyền, thuốc tiêm, thuốc chống nhiễm khuẩn và các nhóm thuốc khác Giá trị tiền thuốc sản xuất tại Việt Nam tăng mạnh qua các năm đáp ứng đến 50% trị giá tiền thuốc sử dụng [8]
Thuốc sản xuất trong nước chiếm gần 43% các mặt hàng trúng thầu, trong đó chủ yếu là thuốc do các doanh nghiệp Dược Việt Nam sản xuất [27]
Tỷ lệ tiền mua thuốc sản xuất tại Việt Nam trên tổng số tiền mua thuốc năm 2010 của các Bệnh viện chiếm 38,7% Trong đó Bệnh viện tuyến trung ương (11,9%), Bệnh viện tỉnh/thành phố (33,9%), Bệnh viện huyện chiếm (61,5%) [27] Nguyên nhân được ghi nhận do Bệnh viện tuyến Trung ương là tuyến cuối điều trị các ca bệnh nặng đã được điều trị thất bại ở tuyến dưới yêu cầu thuốc điều trị có tác dụng mạnh nên tỉ lệ sử dụng thuốc có nguồn gốc nhập khẩu cao hơn
Kết quả phân tích sử dụng thuốc năm 2012, 2013 tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TW cho thấy tỉ lệ sử dụng thuốc ngoại gấp 2,2 - 2,4 lần thuốc nội với tổng giá trị chiếm 92 - 94%[1]
Nghiên cứu về cơ cấu sử dụng thuốc sản xuất trong nước của Bệnh viện Hữu Nghị giai đoạn 2008 đến 2010 thuốc nội chiếm tỷ lệ thấp từ 20,35% đến 22,37% giá trị tiêu thụ trong tổng giá trị kinh phí mua thuốc Mặc dù có khối lượng (tổng số đơn vị thuốc) thuốc nội chiếm tỷ lệ 82,97% đến 87,3% trong tổng khối lượng tiêu thụ tại Bệnh viện nhưng do thuốc nội có giá trị thấp Khi
Trang 28phân tích nhóm A, thuốc ngoại chiếm tỷ lệ 79,6%; 79,93%; 82,92% tổng giá trị tiêu thụ, tuy nhiên thuốc nội lại chiếm 80,6%; 73,57%; 77,40% tổng khối lượng tiêu thụ [20] Qua đó, cho thấy sử dụng thuốc nội giảm chi phí điều trị, giảm gánh nặng về kinh tế cho bệnh nhân
Về sử dụng thuốc biệt dược gốc, thuốc generic
Kết quả phân tích cơ cấu thuốc generic - biệt dược tại 38 Bệnh viện trong
cả nước cho thấy không có sự khác biệt nhiều cả về tỷ lệ số lượng và giá trị sử dụng các thuốc này giữa các tuyến Bệnh viện Cụ thể, tuyến TW thuốc generic chiếm tỉ trọng thấp hơn nhiều so với biệt dược với 32,6 - 35,1% SKM; 21,1- 31,2% giá trị (thấp nhất Bệnh viện Chợ Rẫy generic 21,1%, biệt dược 78,9%
về giá trị); Bệnh viện tuyến tỉnh, chiếm 22,4 - 46% SKM, 12,1- 38,1% giá trị; Bệnh viện tuyến huyện 35,5 - 47,8% SKM, 17,8 - 21,8% giá trị [21]
Tại Bệnh viện Hữu Nghị giai đoạn năm 2008 - 2010, thuốc generic chiếm tỷ lệ 60%, 61,67%, 58,21% tổng giá trị tiêu thụ; khối lượng tiêu thụ chiếm 93,34%; 92,9%; 92,66% [20] Đây là Bệnh viện có tỉ lệ sử dụng thuốc generic khá cao
Khảo sát tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TW sử dụng thuốc năm 2012,
2013 cho thấy tỉ lệ sử dụng thuốc generic chiếm 7,56%; 8,3% về SKM và 16,99%; 13,25% về giá trị sử dụng [1]
Các thuốc generic tập trung vào các nhóm chống nhiễm khuẩn, vitamin dạng đơn chất, dịch truyền được sản xuất trong nước hoặc liên doanh sản xuất; Một số thuốc generic nhập khẩu thuộc nhóm thuốc điều trị ung thư, chống nhiễm khuẩn, tim mạch Như vậy, các tuyến Bệnh viện tuyến Trung ương sử dụng thuốc Generic còn thấp, chưa ưu tiên sử dụng thuốc generic để giảm chi phí trong điều trị [21]
Trang 291.2.2 Thực trạng thực hiện danh mục thuốc trong giai đoạn mua sắm
Để xây dựng được một DMTBV phù hợp với MHBT của Bệnh viện gặp phải rất nhiều khó khăn, tuy nhiên DMTBV trong quá trình thực hiện đã phát sinh rất nhiều vấn đề dẫn đến thuốc trúng thầu rộng rãi không có mặt đầy đủ các thuốc đã được HĐT&ĐT lựa chọn và phải thực hiện mua thêm bằng hình thức khác Đây là vấn đề hầu hết các cơ sở y tế, Bệnh viện gặp phải mà nguyên nhân do các thuốc được lựa chọn trong DMT khi tổ chức đấu thầu rộng rãi của các cơ sở y tế không có nhà thầu tham dự, không trúng thầu, trúng thầu nhưng không cung ứng được, phát sinh thuốc mới do MHBT thay đổi
Tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TW, đánh giá kết quả đấu thầu mua thuốc năm 2012 - 2013 cho thấy [15]
(1) Thuốc không có nhà thầu tham dự chiếm 8,4% năm 2012, thuốc không trúng thầu chiếm 12,87% năm 2013 về giá trị
(2) Tỉ lệ % về giá trị thuốc không trúng thầu so với kế hoạch năm 2012 là 29,53%; năm 2013 gói generic là 27,69%, biệt dược gốc & tương đương điều trị không trúng thầu chiếm 0,79%
(3) Tỉ lệ % về giá trị thuốc trúng thầu không sử dụng năm 2012 là 57,4%, năm 2013 với gói BDG là 78,1%, gói generic là 76,3% Như vậy, thuốc trúng thầu không sử dụng chiếm tỉ lệ lớn thể hiện một DMT chưa hợp lý
(4) Thuốc SXTN trúng thầu năm 2012, năm 2013 tương ứng 21,3%; 10,8% về giá trị
Nghiên cứu về kết quả đấu thầu thuốc tại Bệnh viện TW Quân đội 108 cho thấy tỉ lệ thuốc không trúng thầu khoảng 10% - 20% về khoản mục, 20%
- 30% về giá trị, thuốc không có nhà thầu tham dự 9% - 11%, thuốc phải mua ngoài thầu rộng rãi tới 30% [30] Thuốc SXTN trúng thầu chiếm khoảng 15% về giá trị
Trang 30Phân tích hoạt động đấu thầu thuốc tại Sở Y tế tỉnh Bắc Giang năm 2013
và năm 2014 cho thấy tỷ lệ thuốc không trúng thầu năm 2013, 2014 tương ứng 34,55%, 23,59% về số khoản mục, chiếm 26,31%, 22,94% về giá trị Trong đó nguyên nhân do không có sản phẩm chào thầu là 67,01% về SKM,
có sản phẩm chào thầu nhưng không trúng thầu chiếm 32,99% SKM Tỉ lệ thuốc mua ngoài DM năm 2013 là 6,85%, năm 2014 là 1,72% [16] Tỉ lệ thuốc SXTN trúng thầu năm 2013, năm 2014 tương ứng 47,6%; 40,28% về giá trị
Nghiên cứu về thực trạng đấu thầu mua thuốc Bảo hiểm Y tế cho các cơ
sở khám, chữa bệnh công lập ở Việt Nam Kết quả cho thấy tỷ lệ mua thuốc ngoài thầu cao chiếm đến 84,1% đơn vị đấu thầu, cao nhất là ở hình thức đấu thầu rộng rãi chiếm 87,5% số các tỉnh này phải cung ứng thuốc ngoài thầu [28]
Nguyên nhân dẫn đến không lựa chọn được đủ thuốc trong Danh mục thuốc mời thầu là do, không có nhà thầu nào tham dự, không đáp ứng được tiêu chí kỹ thuật, giá dự thầu vượt giá dự toán theo kế hoạch đấu thầu Tuy nhiên các thuốc khi đã được lựa chọn trúng thầu rộng rãi không hoàn toàn đảm bảo cung ứng đủ do một số mặt hàng thuốc nhập khẩu sau khi trúng thầu nhà thầu không chủ động được nguồn hàng, xét thầu theo từng mặt hàng nên
có một số nhà thầu trúng số mặt hàng ít, giá trị thấp sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong tiến độ cung cấp hàng hóa, thuốc trúng thầu trong quá trình lưu hành vi phạm chất lượng bị thu hồi Do đó, đôi khi nhà cung ứng không cung cấp đủ, kịp thời nhất là khi có biến động giá [28]
Để giải quyết tình trạng thiếu thuốc do không trúng thầu, ngoài việc
áp dụng hình thức đấu thầu chủ yếu đối với các thuốc sử dụng phổ biến, một số tỉnh còn kết hợp thêm các hình thức khác
Trang 311.3 Bệnh Tai Mũi Họng và Bệnh viện TMHTW
1.3.1 Bệnh về Tai Mũi Họng
Các bệnh thường gặp về Tai Mũi Họng thể hiện trong hình 1.1 dưới đây
Hình 1.1 Các bệnh thường gặp về Tai Mũi Họng
Trên cơ sở các nhóm bệnh chính để xác định mô hình bệnh tật chuyên ngành Tai Mũi Họng là cơ sở để HĐT&ĐT xây dựng DMT sử dụng trong
BV, khoa Dược có kế hoạch đảm cung ứng đáp ứng yêu cầu điều trị
1.3.2 Một số nét về Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương
Chức năng, nhiệm vụ
Bệnh viện TMH TW được thành lập từ năm 1969 trên cơ sở khoa Tai Mũi Họng với tên gọi Viện Tai Mũi Họng, đến năm 2003 đổi tên thành Bệnh viện Tai Mũi Họng TW có chức năng nhiệm vụ:
Bệnh Tai Mũi Họng
Bệnh Mũi xoang
Tai, Tai thần kinh
Ung bướu
Dị ứng miễn dịch
Tai Mũi Họng trẻ em
Thanh - Thính học
Trang 32Nghiên cứu khoa học; khám, cấp cứu, điều trị, phòng bệnh và phục hồi chức năng cho bệnh nhân Tai Mũi Họng và các bệnh vùng đầu mặt cổ liên quan đến tai mũi họng ở tuyến cao nhất, nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ chuyên ngành Tai Mũi Họng, chỉ đạo tuyến và hợp tác quốc tế
Tổ chức biên chế: Tổng số cán bộ, viên chức, hợp đồng: 400 người, được chia thành 08 phòng chức năng; 11 khoa lâm sàng; 06 khoa cận lâm sàng;
02 Trung tâm (Trung tâm chỉ đạo tuyến; Trung tâm ung bướu và phẫu thuật đầu cổ)
Theo báo cáo hoạt động của Bệnh viện năm 2015, tỉ lệ bệnh nhân phẫu thuật chiếm trên 50% tổng bệnh nhân điều trị nội trú
1.4 Tính cấp thiết của đề tài
Bệnh viện Tai Mũi Họng TW là Bệnh viện chuyên khoa đầu ngành về bệnh Tai Mũi Họng, là Bệnh viện tuyến cuối khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho người dân, thường tiếp nhận điều trị ca bệnh nặng, mang bệnh phức tạp Do đó, đòi hỏi các hoạt động liên quan đến người bệnh đều phải sẵn sàng
và có chất lượng, một trong những vấn đề sống còn để giải quyết mục tiêu đó
là hoạt động cung ứng thuốc để đáp ứng nhu cầu điều trị Tuy nhiên, để đảm bảo cung ứng thuốc tốt đầu tiên phải có một Danh mục thuốc hợp lí, an toàn
và hiệu quả, đây chính là tiền đề cơ bản và quan trọng nhất
Thực tế, việc xây dựng DMTBV còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu dựa vào DMT sử dụng năm trước do thiếu thông tin phân tích dữ liệu về sử dụng thuốc để làm căn cứ Đó là căn cứ quan trọng mang tính định lượng có sức mạnh thuyết phục bác sĩ, đối tượng kê đơn sử dụng chủ yếu trong Bệnh viện
Do vậy, bác sĩ thường kê đơn điều trị chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, hiểu biết
về thuốc có giới hạn của mình
Ngoài ra khi có một DMT hợp lí việc cung ứng đủ thuốc cũng không
dễ dàng, hàng năm đa số các Bệnh viện đều phải đối mặt với việc không lựa chọn đủ thuốc theo DMTBV xây dựng trong quá trình mua sắm Nguyên nhân
Trang 33có một số lượng không nhỏ thuốc không có đơn vị nào chào thầu, hoặc không trúng thầu vì không đạt một số tiêu chí kỹ thuật, đặc biệt trong thời gian gần đây với tiêu chí chấm thầu nghiêng về “đấu giá” nhiều đơn vị trúng thầu nhưng không thể cung ứng được Với những vấn đề đó các Bệnh viện phải tìm kiếm những giải pháp khắc phục và đôi khi rất bị động Tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TW đã có một số đề tài nghiên cứu về phân tích về DMT sử dụng hoặc Hoạt động đấu thầu của Bệnh viện
1 Khảo sát hoạt động đấu thầu thuốc tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TW hai năm 2012 - 2013
2 Đánh giá kết quả đấu thầu mua thuốc của Bệnh viện Tai Mũi Họng
Trước thực tế đó, chúng tôi thấy cần thiết phải tiến hành đề tài “Phân
tích DMT được sử dụng tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TW năm 2015” với trọng
tâm phân tích việc thực hiện DMT giai đoạn mụa sắm ảnh hưởng đến DMT được sử dụng và cơ cấu DMT được sử dụng góp phần giải quyết những vấn
đề trên
Trang 34CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Danh mục thuốc:
- DMT được sử dụng,
- DMT mời thầu,
- DMT trúng thầu
- Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01đến tháng 12 năm 2015
- Địa điểm nghiên cứu: Tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TW
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Xác định biến số nghiên cứu
Mục tiêu 1: Phân tích việc thực hiện Danh mục thuốc trong giai đoạn
mua sắm ảnh hưởng đến DMT được sử dụng tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TW năm 2015
Bảng 2.4 Nhóm biến số về thực hiện DMT giai đoạn mua sắm ảnh hưởng
đến Danh mục thuốc được sử dụng
biến
Cách thức thu thập
Trang 35Biến Phân
Thuốc mua ngoài thầu
rộng rãi được SD theo
SKM và GT
Thuốc được SD cung ứng theo hình thức mua ngoài thầu rộng rãi (mua với hình thức cung ứng khác) so với tổng thuốc được SD
Trang 36Mục tiêu 2: Phân tích cơ cấu Danh mục thuốc được sử dụng tại Bệnh
viện Tai Mũi Họng TW năm 2015
Bảng 2.5 Nhóm biến số phân tích cơ cấu DMT được sử dụng
ST
biến
Cách thức thu thập
1 DMT ĐSD
2 BC NXT
3 BCTC 4.BC KQT
và GT
1.Thuốc SXTN 2.Thuốc NK
SKM và GT
1 Thuốc BDG (thuốc phát minh trong giai đoạn bản quyền)
2 Thuốc Generic (thuốc được SX khi nhà phát minh hết bản quyền)
6 Thuốc đơn thành phần, đa
Trang 372.2.2 Mô hình thiết kế nghiên cứu
- Mô tả hồi cứu [11]
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
Nghiên cứu tài liệu và hồi cứu nguồn số liệu thứ cấp thông qua các tài liệu sẵn có trong năm 2015
+ DMT được sử dụng, DMT mời thầu, DMT trúng thầu, DMT theo phân loại VEN
+ Báo cáo liên quan đến sử dụng thuốc (BC nhập xuất tồn, BC tài chính liên quan đến sử dụng thuốc, BC kết quả thầu)
- Đối với các biến số thực hiện DMT, phân tích DMT
+ Bước 1: Dữ liệu nghiên cứu được cập nhật vào Biểu mẫu thu thập số liệu theo mẫu ở phụ lục 1a, 1b, 2
+ Bước 2: Dữ liệu được tổng hợp theo từng biến số nghiên cứu
+ Bước 3: Tính tổng số khoản mục, giá trị sử dụng từng biến số, tính tỷ lệ phần trăm giá trị số liệu
- Phân tích ABC:
Việc thu thập dữ liệu được tiến hành như mô tả trong Chương 1: Tổng
quan (phần 1.1.3)
- Phân tích VEN:
Bước 1: Thành lập Nhóm phân tích VEN là các thành viên khoa
Dược bao gồm: Trưởng khoa Dược, dược sỹ lâm sàng phụ trách các khoa, dược sỹ phụ trách tổ cấp phát thuốc/nhà thuốc
Bước 2: Tiến hành phân tích và đề xuất danh mục VEN, gửi xin ý
kiến HĐT&ĐT
Bước 3: Tổng hợp ý kiến HĐT&ĐT, thuốc được phân loại vào các nhóm nếu có trên 50% thành viên HĐT & ĐT thống nhất ý kiến Đề xuất danh mục phân loại VEN sau khi tổng hợp
Trang 38Bước 4: HĐT&ĐT phê duyệt danh mục VEN, chuyển Nhóm phân tích VEN xây dựng kế hoạch hành động để quản lý DMT V, E, N
2.2.4 Mẫu nghiên cứu
- Đối với mục tiêu 1:
+ 178 thuốc trúng thầu không sử dụng
+ 172 thuốc không trúng thầu
- Đối với mục tiêu 2:
- Phương pháp phân tích số liệu
+ Phương pháp tính tỷ trọng: tính toán tỷ lệ phần trăm của giá trị số liệu của một hay một nhóm đối tượng số liệu nghiên cứu trên tổng số
+ Phương pháp phân tích nhóm điều trị
+ Phương pháp phân tích ABC,
+ Phương pháp phân tích VEN,
+ Phương pháp phân tích ma trận ABC/VEN
- Xây dựng các chỉ số sau:
Trang 39Bảng 2.6 Nhóm chỉ số về thực hiện DMT trong giai đoạn mua sắm
ảnh hưởng đến Danh mục thuốc được sử dụng
Tổng SKM (hoặc GT)thuốc ĐSD ko có nhà thầu tham dự
Tổng SKM (hoặc GT)thuốc ĐSD ko trúng thầu
Tổng SKM (hoặc GT)thuốc ĐSD do TT ko cung ứng được
Trang 40Bảng 2.7 Nhóm chỉ số phân tích cơ cấu DMT được sử dụng
Tổng SKM(hoặc GT)thuốc NK, SXTN có trong DM TT10
5 Tỉ lệ % thuốc Biệt dược
7 Tỉ lệ % thuốc theo đường
dùng Tổng số KM(hoặc GT)thuốc của mỗi đường dùngTổng số KM(hoặc GT)của DMT ĐSD × 100%
8 Tỉ lệ % thuốc theo phân