Một số biện pháp bình ổn giá thuốc đã được thực hiện như quản lý đấu thầu thuốc trong bệnh viện công, khuyến khích phát triển thuốc sản xuất trong nước, cấm sử dụng lợi ích dưới mọi hình
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
HÀ NỘI 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
TRẦN THỊ THÚY
PHÂN TÍCH KẾT QUẢ ĐẤU THẦU THUỐC NĂM 2015 TẠI BỆNH VIỆN 19/8 BỘ CÔNG AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: 60720412
Người hướng dẫn khoa học : TS Đỗ Xuân Thắng
HÀ NỘI 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tới
TS Đỗ Xuân Thắng – Phó trưởng Bộ môn Quản lý và Kinh tế dược,
người thầy đã nhiệt tình hướng dẫn và hết lòng giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học, Bộ môn Quản lý và Kinh tế dược – Trường Đại học Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin cảm ơn Lãnh đạo Cục Y tế, Bệnh viện 19/8, các anh chị
em đồng nghiệp đã động viên, hỗ trợ, hợp tác và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình công tác, học tập và nghiên cứu
Cuối cùng tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè đã luôn sát cánh, giúp đỡ động viên để tôi yên tâm, học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày 29 tháng 03 năm 2017
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Quy định đấu thầu mua thuốc 3
1.1.1 Khái niệm đấu thầu 3
1.1.2 Các hình thức lựa chọn nhà thầu 3
1.1.3 Các phương thức đấu thầu 4
1.1.4 Các hình thức tổ chức thực hiện 5
1.1.5 Quy trình đấu thầu thuốc 7
1.2 Thực trạng hoạt động đấu thầu thuốc tại Việt Nam trong những năm gần đây 10
1.2.1 Giai đoạn trước năm 2005 10
1.2.2.Giai đoạn từ 2005 - 2006 10
1.2.3 Giai đoạn từ 8/2007 đến 5/2012 12
1.2.4 Giai đoạn từ 06/2012 đến 12/2013 14
1.2.5 Giai đoạn từ 01/2014 đến nay 16
1.3 Thực trạng sử dụng danh mục thuốc trúng thầu tại Việt Nam trong những năm gần đây 17
1.4 Vài nét về Y tế Công an nhân dân và Bệnh viện 19/8 Bộ Công an 17
1.4.1 Sơ đồ tổ chức, nhiệm vụ 19
1.4.2 Sơ lược hoạt động đấu thầu thuốc tại bệnh viện 19/8 23
1.5 Tính cấp thiết của đề tài 24
Trang 5Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 23
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.1.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 23
2.2 Phương pháp nghiên cứu 23
2.2.1 Các biến số nghiên cứu 23
2.2.2 Mô hình thiết kế nghiên cứu 26
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 26
2.2.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 26
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 So sánh kết quả trúng thầu với kế hoạch đấu thầu thuốc năm 2015 tại bệnh viện 19/8 Bộ Công an 30
3.1.1 Thuốc trúng thầu, thuốc không trúng thầu, thuốc có nhà thầu tham dự, thuốc không có nhà thầu tham dự 30
3.1.2 So sánh số lượng nhà thầu trúng thầu với nhà thầu nộp HSDT 31
3.1.3 So sánh KQTT với KHĐT của các gói thuốc 32
3.1.4 Cơ cấu các nhóm thuốc trúng thầu trong gói thuốc generic 34
3.1.5 So sánh KQTT với KHĐT của các nhóm trong gói thuốc generic 35
3.1.6 So sánh KQTT với KHĐT của gói thuốc ĐY, thuốc từ DL 37
3.1.7 So sánh KQTT với KHĐT của nhóm thuốc theo TDDL 38
3.1.8 So sánh giá chào thầu với giá kế hoạch 40
3.1.9 Nguyên nhân thuốc không trúng thầu… 41
3.1.10 Thuốc trúng thầu bổ sung mua theo hình thức đấu thầu khác 41
3.2 Phân tích kết quả sử dụng so với kết quả trúng thầu thuốc năm 2015 tại bệnh viện 19/8 Bộ Công an 42
3.2.1 Cơ cấu thuốc trúng thầu được sử dụng, không được sử dụng 42
3.2.2 Nhà thầu thực hiện cung ứng thuốc trúng thầu 43
3.2.3 So sánh KQSD với KQTT của các nhóm thuốc theo TDDL 45
Trang 63.2.4 So sánh KQSD với KQTT của các gói thuốc 48
3.2.5 So sánh KQSD với KQTT của các nhóm trong gói thuốc generic 49
3.2.6 So sánh KQSD với KQTT của thuốc nội/ngoại 50
3.2.7 So sánh KQSD với KQTT của thuốc ngoại 50
Chương 4 BÀN LUẬN 52
4.1 So sánh kết quả trúng thầu với kế hoạch đấu thầu thuốc năm 2015 tại bệnh viện 19/8 Bộ Công an 53
4.1.1 Về phân chia các gói thầu thuốc 53
4.1.2 Về thuốc kế hoạch, thuốc trúng thầu và không trúng thầu 55
4.1.3 Đánh giá các nhà thầu 57
4.1.4 Về giá kế hoạch, giá chào thầu 58
4.2 Phân tích kết quả sử dụng so với kết quả trúng thầu thuốc năm 2015 tại bệnh viện 19/8 Bộ Công an 60
4.2.1 Về thuốc trúng thầu được sử dụng và không được sử dụng 60
4.2.2 Về thuốc theo nhóm TDDL trúng thầu và được sử dụng 60
4.2.3 Về thuốc nội, thuốc ngoại trúng thầu và được sử dụng 62
4.3 Hạn chế của đề tài 63
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64
1 KẾT LUẬN 64
1.1 So sánh kết quả trúng thầu với kế hoạch đấu thầu thuốc 64
1.2 Phân tích kết quả sử dụng so với kết quả trúng thầu thuốc 65
2 KIẾN NGHỊ 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
4 KH, TT, ĐSD Kế hoạch, trúng thầu, được sử dụng
Hội nghị quốc tế về hài hòa hóa các thủ tục đăng ký dược phẩm sử dụng cho con người
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các hình thức lựa chọn nhà thầu 4
Bảng 1.2 Các phương thức đấu thầu 4
Bảng 1.3 Các hình thức tổ chức thực hiện đấu thầu mua thuốc 6
Bảng 1.4 Bảng tỉ lệ thuốc nội, thuốc ngoại trúng thầu năm 2006 12
Bảng 1.5 Bảng tỉ lệ thuốc nội, thuốc ngoại trúng thầu năm 2014 16
Bảng 2.6 Các biến số nghiên cứu 23
Bảng 2.7 Các phương pháp phân tích số liệu được sử dụng trong đề tài 27
Bảng 2.8 Cách tính toán các chỉ số 28
Bảng 3.9 Tỉ lệ khoản mục thuốc trúng thầu, không trúng thầu, thuốc có nhà thầu tham dự và không có nhà thầu tham dự 30
Bảng 3.10 Tỉ lệ số lượng nhà thầu trúng thầu so với nhà thầu nộp HSDT 31
Bảng 3.11 Tỉ lệ khoản mục trúng thầu so với KHĐT của các gói thầu 32
Bảng 3.12 Tỉ lệ giá trị trúng thầu so với KHĐT của các gói thầu 32
Bảng 3.13 Tỷ trọng khoản mục và giá trị của các nhóm trong gói generic 34
Bảng 3.14 Tỉ lệ khoản mục và giá trị TT so với KHĐT trong gói generic 35
Bảng 3.15 Tỉ lệ khoản mục và giá trị TT so với KHĐT của gói thuốc ĐY, DL 37 Bảng 3.16 Tỉ lệ khoản mục trúng thầu so với KHĐT theo nhóm TDDL 38
Bảng 3.17 Tỉ lệ về khoản mục giá chào thầu so với kế hoạch 40
Bảng 3.18 Tỉ lệ thuốc không trúng thầu 41
Bảng 3.19 Tỉ lệ giá trị thuốc trúng thầu so với KHĐT bổ sung 41
Bảng 3.20 Tỉ lệ khoản mục và giá trị thuốc trúng thầu ĐSD, không ĐSD 42
Bảng 3.21 Tỉ lệ khoản mục nhà thầu thực hiện cung ứng so với trúng thầu 44
Bảng 3.22 Tỉ lệ giá trị ĐSD so với TT của nhóm thuốc theo TDDL 45
Bảng 3.23 Tỉ lệ giá trị ĐSD so với TT của các gói thuốc 47
Bảng 3.24 Tỉ lệ giá trị ĐSD so với TT của nhóm thuốc trong gói generic 48
Bảng 3.25 Tỉ lệ khoản mục và giá trị ĐSD so với TT của thuốc nội/ngoại 49
Bảng 3.26 Tỉ lệ khoản mục và giá trị ĐSD so với TT của thuốc nhập khẩu 50
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ quy trình đấu thầu thuốc 8
Hình 1.2 Sơ đồ tổ chức của Bệnh viện 19/8 20
Hình 3.3 Tỉ lệ KM và giá trị thuốc TT so với KHĐT của các gói thầu 33
Hình 3.4 Tỷ trọng khoản mục TT của các nhóm thuốc trong gói generic 34
Hình 3.5 Tỷ trọng giá trị TT của các nhóm thuốc trong gói generic 34
Hình 3.6 Tỉ lệ KM và giá trị TT so với KH của các nhóm trong gói generic 36
Hình 3.7 Tỷ trọng giá trị các nhóm thuốc trúng thầu theo TDDL 39
Hình 3.8 Tỉ lệ KM TT so với KHĐT của thuốc theo nhóm TDDL 39
Hình 3.9 Tỉ lệ KM thuốc trúng thầu được sử dụng và không ĐSD 43
Hình 3.10 Tỉ lệ giá trị thuốc trúng thầu được sử dụng và không ĐSD 43
Hình 3.11 Tỉ lệ giá trị ĐSD so với TT của các gói thuốc 48
Hình 3.12 Tỉ lệ giá trị ĐSD so với TT của các nhóm trong gói generic 49
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh, với
mô hình bệnh tật đa dạng và phức tạp đan xen giữa các nước phát triển và đang phát triển, nhu cầu sử dụng thuốc ngày càng tăng cao Tại Việt Nam tiền thuốc bình quân đầu người năm 2012 là 29,5 USD, năm 2013 là 31,18 USD tăng 5,7% năm 2012 [9] Bên cạnh đó là thị trường dược phẩm phát triển liên tục về chủng loại cũng như nguồn cung cấp đã tạo ra giá thuốc và chất lượng thuốc rất khó quản lý Do đó, các chính sách về cung ứng thuốc đảm bảo chất lượng và bình ổn giá thuốc để phục vụ người bệnh tốt hơn đã được các nhà quản lý cũng như các cơ quan chức năng đặc biệt quan tâm
Bệnh viện là cơ sở khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh, là đơn vị khoa học kỹ thuật có nghiệp vụ cao nhất về y tế Một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng công tác khám, chữa bệnh của bệnh viện là vấn đề cung ứng thuốc kịp thời, đảm bảo chất lượng với giá cả hợp lý
Để cung ứng thuốc kịp thời đảm bảo chất lượng với giá cả hợp lý thì hoạt động đấu thầu thuốc là một trong những nhiệm vụ quan trọng Trong những năm qua, các văn bản hướng dẫn về đấu thầu thuốc liên tục có những thay đổi, văn bản sau khắc phục được nhược điểm của văn bản trước nhưng đồng thời lại làm phát sinh những bất cập cần sửa chữa như vấn đề về chất lượng thuốc, gây không ít khó khăn cho các đơn vị khi thực hiện đấu thầu
Giữ vững an ninh quốc gia và đảm bảo an toàn xã hội trong tình hình mới là nhiệm vụ then chốt và quan trọng nhất trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của lực lượng CAND Vì vậy, khi
có tình huống đột xuất xảy ra cán bộ chiến sỹ công an phải được chăm sóc tốt nhất về mặt y tế, giảm đến mức thấp nhất thiệt hại về người và của
Bệnh viện 19/8 Bộ Công an là bệnh viện đa khoa tuyến cao nhất của ngành công an, có nhiệm vụ khám chữa bệnh cho cán bộ chiến sỹ và tiếp
Trang 11nhận các bệnh nhân nặng từ tuyến dưới chuyển lên trong lực lượng công an nhân dân Ngoài ra, bệnh viện còn đảm nhận việc cấp cứu và khám chữa bệnh cho nhân dân và các đối tượng BHYT
Hiện có rất ít đề tài nghiên cứu về hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh viện, đặc biệt hoạt động đấu thầu thuốc cũng như việc thực hiện danh mục thuốc trúng thầu Vì vậy, để góp phần tăng cường hiệu quả công tác đảm bảo cung ứng thuốc nói chung và công tác đấu thầu thuốc nói riêng, chúng tôi tiến
hành đề tài: “Phân tích kết quả đấu thầu thuốc năm 2015 tại bệnh viện 19/8
Bộ Công an” nhằm hai mục tiêu sau:
1 So sánh kết quả trúng thầu với kế hoạch đấu thầu thuốc năm 2015 tại bệnh viện 19/8 Bộ Công an
2 Phân tích kết quả sử dụng so với kết quả trúng thầu thuốc năm 2015 tại bệnh viện 19/8 Bộ Công an
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Quy định đấu thầu mua thuốc
1.1.1 Khái niệm đấu thầu
Trong những năm qua, diễn biến thị trường thuốc tại Việt Nam tương đối phức tạp Một số biện pháp bình ổn giá thuốc đã được thực hiện như quản
lý đấu thầu thuốc trong bệnh viện công, khuyến khích phát triển thuốc sản xuất trong nước, cấm sử dụng lợi ích dưới mọi hình thức để tác động tới thầy thuốc và người dùng nhằm thúc đẩy việc kê đơn, sử dụng thuốc.… Tuy vậy, việc kiểm soát giá thuốc trên thị trường Việt Nam vẫn còn là một thách thức lớn Luật đấu thầu số 61 chưa có quy định chi tiết và hiệu quả trong việc mua thuốc
Tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 13 đã thông qua Luật đấu thầu số
43/2013/QH13 và được định nghĩa như sau: “Đấu thầu là quá trình lựa chọn
nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi
tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có
sử dụng đất trên cơ sở đảm bảo cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế’’ [26]
Luật đấu thầu số 43 (Mục 3, Chương 5) và Nghị định số 63 (Mục 3, Chương 7) đã có quy định cụ thể về việc mua thuốc, vật tư y tế Đây là một điểm nhấn quan trọng với việc tổ chức đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập, với ngành sản xuất dược cũng như quỹ bảo hiểm chi trả
1.1.2 Các hình thức lựa chọn nhà thầu
Điểm khác, giống nhau giữa Luật đấu thầu số 43 so với Luật đấu thầu
số 61 về các hình thức lựa chọn nhà thầu được thể hiện tại Bảng 1.1
Trang 13Bảng 1.1 Các hình thức lựa chọn nhà thầu Các hình thức lựa chọn nhà thầu
trong Luật đấu thầu số 61 [25]
Các hình thức lựa chọn nhà thầu trong Luật đấu thầu số 43 [26]
Đấu thầu rộng rãi Đấu thầu hạn chế Chỉ định thầu Chào hàng cạnh tranh Mua sắm trực tiếp
Tự thực hiện Lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt
Tham gia thực hiện của cộng đồng Đàm phán giá
Căn cứ vào quy mô, tính chất, tính đặc thù của mỗi gói thầu mua thuốc
mà Bên mời thầu có thể áp dụng một trong các hình thực lựa chọn nhà thầu trên để đảm bảo tính cạnh tranh, công bằng và minh bạch Hình thức được các
cơ sở y tế áp dụng nhiều nhất là đấu thầu rộng rãi
1.1.3 Các phương thức đấu thầu
Về các phương thức đấu thầu cũng có sự khác nhau giữa Luật đấu thầu
số 43 so với Luật đấu thầu số 61 Luật đấu thầu số 43 quy định cụ thể hơn về các phương thức đấu thầu được thể hiện theo Bảng 1.2
Bảng 1.2 Các phương thức đấu thầu Luật đấu thầu số 61[25] Luật đấu thầu số 43[26]
- Phương thức một túi hồ sơ - Phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ
- Phương thức hai túi hồ sơ - Phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ
- Phương thức hai giai đoạn - Phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ
- Phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ
Trang 14Theo Luật đấu thầu số 43, phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ được áp dụng chủ yếu trong đấu thầu mua thuốc hiện nay: Nhà thầu nộp đồng thời HSĐX về kỹ thuật và HSĐX về tài chính riêng biệt theo yêu cầu của HSMT Việc mở thầu được tiến hành hai lần HSĐX về kỹ thuật sẽ được mở ngay sau thời điểm đóng thầu Nhà thầu đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật sẽ được
mở HSĐX về tài chính để đánh giá Với quy định này giúp cho quy trình tổ chức đấu thầu được chặt chẽ hơn cũng như bảo mật thông tin Trong khi đó, Thông tư 01 quy định việc đấu thầu thuốc chỉ được thực hiện theo phương thức 01 túi hồ sơ: Nhà thầu nộp HSDT gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của HSMT Việc mở thầu được tiến hành một lần
1.1.4 Các hình thức tổ chức thực hiện
Tùy theo điều kiện kinh tế xã hội và mô hình quản lý của mỗi nước mà
có những hình thức tổ chức đảm bảo cung ứng thuốc đến với người bệnh khác nhau Ở các nước phát triển, thuốc được quản lý rất chặt chẽ và đa số được cung ứng theo đơn của bác sỹ điều trị Chỉ những thuốc OTC và thực phẩm chức năng là được bán rộng rãi ngay tại các siêu thị [27]
Tại Việt Nam, Thông tư số 01 đã quy định ba hình thức tổ chức đảm bảo cung ứng thuốc cho người bệnh tại các CSYT và Luật đấu thầu số 43 và Nghị định số 63 cũng đã đưa ra hình thức mua thuốc tập trung thực hiện ở cấp
quốc gia và cấp địa phương [5], [10], [26]
Trang 15Bảng 1.3 Các hình thức tổ chức thực hiện đấu thầu mua thuốc
Riêng lẻ Các đơn vị tự tổ chức đấu thầu mua thuốc theo nhu cầu sử dụng
- 10 địa phương thực hiện đấu thầu đại diện (15,9%)
- 13 địa phương đấu thầu theo hình thức đơn lẻ (20,6%)
Hình thức đấu thầu tập trung được áp dụng phổ biến trên toàn quốc đã đem lại nhiều ưu điểm:
- Thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước về chuyên môn, tránh được tình trạng tiếp thị thuốc
- Quản lý được giá thuốc, giá thống nhất trên địa bàn tỉnh
- Môi trường cạnh tranh lành mạnh
- Tập trung được đội ngũ cán bộ được đào tạo và có kinh nghiệm
- Tiết kiệm được nhân lực, chi phí
- Lựa chọn được nhà cung cấp thuốc có chất lượng, giá hợp lý
Trang 16Tuy nhiên, hình thức đấu thầu tập trung cũng còn nhiều bất cập:
- Danh mục thuốc đấu thầu tập trung khó bao quát được toàn bộ danh mục thuốc của các đơn vị khám chữa bệnh trực thuộc
- Các đơn vị trúng thầu không thực hiện cung cấp đầy đủ thuốc cho các
cơ sở y tế vùng sâu, vùng xa do lợi nhuận không bù đắp được chi phí vận chuyển thuốc, thuê nhân công
- Thói quen sử dụng thuốc ở các đơn vị khác nhau là không đồng đều, dẫn đến hiện tượng một số thuốc trúng thầu được sử dụng tại đơn vị này, song lại không được sử dụng ở đơn vị khác
1.1.5 Quy trình đấu thầu thuốc
Trình tự các bước thực hiện công tác đấu thầu thuốc theo quy định của Nghị định 63 và Thông tư 01 được mô tả như sau [5],[10]
Trang 17Chủ đầu tư/bên mời
thầu
Người/cơ quan có thẩm quyền
Nhà thầu
Hình 1.1 Sơ đồ quy trình đấu thầu thuốc
Sự khác nhau giữa Nghị định số 63 so với Nghị định số 85 trong quy trình đấu thầu được thể hiện ở khâu thương thảo hợp đồng
Thương thảohợp đồng
Thẩm định, phê duyệt
KQĐT
Trang 18Theo Nghị định số 85 và Nghị định số 63, thương thảo hợp đồng là một khâu trong trình tự đấu thầu, bắt buộc phải thực hiện Tuy nhiên, từ thực tiễn đấu thầu thực hiện theo Nghị định số 85 tại nhiều đơn vị cho thấy, do việc thương thảo, hoàn thiện hợp đồng được thực hiện sau khi phê duyệt và thông báo kết quả đấu thầu nên trong nhiều trường hợp, thủ tục này chỉ được tiến hành một cách hình thức để hoàn thiện thủ tục trong đấu thầu Nhiều chủ đầu
tư không tổ chức nghiêm túc việc thương thảo, hoàn thiện hợp đồng Thậm chí, có những đơn vị không tiến hành thương thảo, mà chỉ xin mẫu biên bản thương thảo, hoàn thiện hợp đồng để điền cho đủ thủ tục Về phía nhà thầu, nhiều trường hợp có tâm lý “cầm chắc” đã trúng thầu rồi, nên không coi trọng, không hợp tác khi thương thảo hợp đồng Thực tiễn rất nhiều gói thầu
đã thực hiện trong các năm qua cho thấy, giá trúng thầu cũng là giá của hợp đồng khi ký kết nên việc thương thảo hợp đồng gần như không có giá trị Ngoài ra, việc thương thảo hợp đồng không được tiến hành nghiêm túc cũng rất dễ gây ra tình trạng những nội dung chưa đủ chi tiết, chưa rõ hoặc chưa phù hợp, chưa thống nhất giữa hồ sơ mời thầu (HSMT) và hồ sơ dự thầu (HSDT), giữa các nội dung khác nhau trong HSDT… không được phát hiện, thương thảo, thống nhất trước khi ký kết hợp đồng, có thể dẫn đến các phát sinh, tranh chấp hoặc ảnh hưởng đến trách nhiệm của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng
Luật Đấu thầu số 43 và Nghị định số 63 của Chính phủ đã có những quy định nhằm khắc phục tình trạng nêu trên, với tinh thần phải thương thảo hợp đồng xong mới trình, thẩm định, phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu
Sự thay đổi tưởng chừng nhỏ này đã làm thay đổi về chất đối với bước thương thảo hợp đồng, từ đó có thể giải quyết các vấn đề chưa rõ ràng hay còn vướng mắc trước khi quyết định lựa chọn nhà thầu trúng thầu để thực hiện công việc, giảm những tranh chấp, phát sinh không đáng có trong quá trình thực hiện hợp đồng [36]
Trang 191.2 Thực trạng hoạt động đấu thầu thuốc tại Việt Nam trong những năm gần đây
Với mục đích: Cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng, an toàn hiệu quả với chi phí hợp lý đến người bệnh Đấu thầu trong mua sắm thuốc luôn là vấn đề nóng hổi, rất được sự quan tâm của các cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là vấn đề kiểm soát giá thuốc và quản lý chất lượng thuốc Điều đó thể hiện qua hệ thống văn bản pháp quy về hoạt động đấu thầu thuốc được thay đổi qua từng giai đoạn và ngày càng hoàn thiện hơn
Căn cứ vào các văn bản pháp quy, chặng đường phát triển công tác đấu thầu của Việt Nam trong khoảng hơn 10 năm qua chia thành các giai đoạn:
1.2.1 Giai đoạn trước năm 2005
Trong giai đoạn này, chưa có các văn bản pháp quy hướng dẫn việc đấu thầu mua thuốc, ngày 16/4/2004 Bộ Y tế ban hành Chị thị số 05/2004/BYT-
CT, trong Chị thị có nêu “Tổ chức đấu thầu mua thuốc chữa bệnh theo quy định của pháp luật” Các cơ sở y tế tùy theo điều kiện và tình hình thực tế tại đơn vị có thể lựa chọn hình thức mua sắm phù hợp:
+ Bệnh viện Hữu Nghị tổ chức đấu thầu hạn chế từ năm 2000, thuốc mua chủ yếu từ 8 công ty nhà nước và đến tháng 7/2004 bệnh viện tổ chức đấu thầu rộng rãi, có thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng
+ Bệnh viện 108 lựa chọn hình thức chào hành cạnh tranh
+ Bệnh viện Uông Bí - Thụy Điển (Quảng Ninh) áp dụng đồng thời nhiều hình thức: Đấu thầu rộng rãi, chỉ định thầu, chào hàng cạnh tranh [21]
Trang 20hiện đấu thầu cung ứng thuốc trong các cơ sở y tế công lập Và vào cuối giai đoạn này, Luật Đấu thầu số 61 được ban hành ngày 29/11/2005, đã tăng cường thêm cơ sở pháp lý cho hoạt động đấu thầu [3],[24],[25]
Qua khảo sát một số bệnh viện Trung ương tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh như Bạch Mai, Bệnh viện E, Bệnh viện phụ sản TW, Bệnh viện Hữu Nghị, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Thống Nhất…kết quả thu được khi các bệnh viện thực hiện quy trình đấu thầu mua thuốc như sau [16]:
- Chuẩn bị đấu thầu: Lập KHĐT, lập HSMT, thông báo mời thầu
- Tổ chức đấu thầu: Phát hành HSMT, thành lập tổ chuyên gia xét thầu
- Xét thầu: Đánh gia sơ bộ HSDT, đánh giá chi tiết HSDT, Báo cáo kết quả đấu thầu
- Thẩm định và phê duyệt kết quả đấu thầu
- Công bố kết quả đấu thầu: Tên nhà thầu, giá trúng thầu, loại hợp đồng, thời gian thực hiện hợp đồng
- Hoàn thiện và ký kết hợp đồng
Các bệnh viện đều thực hiện đầy đủ các bước theo quy định Tuy nhiên, việc thực hiện cũng chưa thống nhất, chưa có các tiêu chí chung hay tài liệu nào cụ thể hướng dẫn lựa chọn thuốc, mà các tiêu chí đưa ra chủ yếu dựa vào cảm tính và kinh nghiệm điều trị của từng bệnh viện Giai đoạn này việc quản
lý giá thuốc chưa chặt chẽ nên giá thuốc trúng thầu mỗi đơn vị một giá
Ngoài ra, các vấn đề như nguồn nhân lực, trình độ quản lý và cơ sở vật chất cho quá trình đấu thầu còn thiếu và yếu
Danh mục thuốc trúng thầu tại 6 bệnh viện năm 2006 đạt được kết quả như sau [16]:
Trang 21Bảng 1.4 Bảng tỉ lệ khoản mục thuốc nội, ngoại trúng thầu năm 2006
Bệnh viện
Số lượng hoạt chất mời thầu
Thuốc trúng thầu Tỷ trọng
thuốc trúng thầu/ hoạt chất
SKM và tỉ lệ % Thuốc sản xuất trong nước
SKM và tỉ lệ % Thuốc sản xuất tại nước ngoài
Những thuốc chiếm tỉ lệ trúng thầu cao là những thuốc nước ngoài, điều này phù hợp với năng lực sản xuất thuốc tại Việt Nam thời kỳ này
1.2.3 Giai đoạn từ 8/2007 đến 5/2012
Thông tư liên tịch số 10 ngày 10/8/2007 được ban hành thay thế Thông
tư số 20 đã đưa ra một số điểm mới nhưng vẫn còn bất cập:
Phân cấp phê duyệt HSMT và KQĐT: Thủ trưởng các cơ sở y tế công lập chịu trách nhiệm phê duyệt HSMT, KQĐT Điều này có thể rút ngắn được thời gian đấu thầu
Thông tư số 10 đưa ra 03 hình thức đấu thầu: Đấu thầu tập trung, đại diện và riêng lẻ Trong đó, đấu thầu tập trung là hình thức phổ biến nhất
Trang 22Theo kết quả nghiên cứu về thực trạng đấu thầu thuốc BHYT, trong năm
2012, cả nước có 45 tỉnh thành tổ chức đấu thầu mua sắm thuốc tập trung, chiếm 71,5% [27]
Cơ sở xây dựng giá gói thầu cũng có sự thay đổi so với Thông tư số 20:
“Giá gói thầu trong kế hoạch đấu thầu của các mặt hàng thuốc không được cao hơn giá tối đa của các mặt hàng thuốc đó được công bố tại thời điểm gần nhất của Bộ Y tế” Tuy nhiên, giai đoạn này việc quản lý giá thuốc vẫn gặp nhiều khó khăn, nguyên nhân do chưa xây dựng được cơ chế quản lý giá thuốc một cách minh bạch, hiệu quả, dẫn đến tình trạng loạn giá thuốc: giá thuốc trúng thầu giữa các bệnh viện chênh lệch nhau và thường cao hơn giá thị trường Theo kết quả đấu thầu thuốc năm 2011, tại bệnh viện Hữu nghị Việt Nam-CuBa (Quảng Bình) thuốc Arginin 200mg giá trúng thầu là 650, đồng/viên nhưng tại bệnh viện Trung Ương Huế giá trúng thầu 1.100, đồng/viên (chênh lệch 69,2%)…[31]
Thuốc sản xuất trong nước ngày càng được chú trọng phát triển, công nghiệp dược Việt Nam đã đáp ứng được gần 50% nhu cầu thuốc trong nước [6] Tuy nhiên, trong giai đoạn này tỉ lệ thuốc sản xuất trong nước trúng thầu vào các cơ sở y tế công lập tương đối thấp, đặc biệt ở các tuyến trên và bệnh viện chuyên khoa Năm 2012, tỉ lệ thuốc sản xuất tại Việt Nam trúng thầu vào các bệnh viện tuyến tỉnh chiếm khoảng 34%, tỉ lệ này giảm xuống còn 12% ở bệnh viện tuyến trung ương, và thấp hơn nữa ở bệnh viện chuyên khoa Điều này phản ánh năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất thuốc trong nước còn hạn chế và cơ chế đấu thầu thuốc vẫn chưa khuyến khích được thuốc sản xuất trong nước
- Thông tư số 10 mới chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn cách thức tổ chức thực hiện; qui định một số nội dung trong quá trình tổ chức đấu thầu thuốc; chưa có mẫu HSMT thuốc, qui trình đánh giá cũng như chưa có một tiêu chí chung đánh giá lựa chọn thuốc cho phù hợp [27]
Trang 23Khảo sát sơ bộ kết quả đấu thầu cho thấy việc đấu thầu thuốc theo thông tư mới đã góp phần giảm 20%- 30% giá thuốc tại các cơ sở y tế; thuốc sản xuất trong nước được sử dụng tăng gấp đôi [23]
Thời điểm này, Bộ Y tế cũng ban hành Thông tư số 11 hướng dẫn việc lập Hồ sơ mời thầu mua thuốc, với những tiêu chí xét thầu, chấm điểm kỹ thuật rõ ràng và phù hợp với các nội dung trong Thông tư số 01 Hai Thông tư này tạo hành lang pháp lý, giúp cho các cơ sở y tế trong toàn quốc thực hiện công tác đấu thầu thuốc được minh bạch và thống nhất hơn
Hiệu quả kinh tế đạt được trong đấu thầu thuốc theo Thông tư 01 đã tác động tích cực đến chi phí khám, chữa bệnh BHYT Tại các đơn vị thực hiện đấu thầu thuốc theo Thông tư 01, giá của nhiều loại thuốc đã giảm theo chiều hướng tích cực hơn, hạn chế hiện tượng chệnh lệch giá bất hợp lý giữa các cơ
Trang 24nhóm với các thuốc sản xuất tại các nước có uy tín lớn như Mỹ, Pháp, Đức,
… Với quy định này không phân biệt thuốc đạt chất lượng hay không, giá rẻ như các thuốc Ấn Độ, Hàn Quốc…sẽ được lựa chọn Lúc này hoạt động đấu thầu trở thành đấu giá Đây chính là nguyên nhân vì sao thuốc sản xuất ở các nước chất lượng thấp lại có tỉ lệ trúng thầu cao trong bệnh viện
- Việc quy định hạn mức trong trường hợp mua thuốc vượt kế hoạch đấu thầu trong năm theo phân hạng bệnh viện (600 triệu đối với bệnh viện hạng 3, 4; 1 tỷ đối với hạng 1, 2; 2 tỷ đối với bệnh viện hạng đặc biệt) cũng gây khó khăn cho các cơ sở y tế, do trong năm luôn có sự thay đổi về cơ cấu,
mô hình bệnh tật, triển khai kỹ thuật mới, …
- Không còn ưu thế trong việc đấu thầu thuốc theo tên thương mại, nhiều công ty tìm mọi cách để đưa ra những ưu thế đặc biệt nhằm giảm thiểu
cạnh tranh trong đấu thầu và tăng giá thuốc như: Đấu thầu những thuốc có
hàm lượng không phổ biến, ít cạnh tranh nhưng chi phí lại cao hơn nhiều lần
so với mặt bằng chung
- Mức sàn điểm kỹ thuật tối thiểu 70 điểm trở lên là một rào cản dễ vượt qua đối với các thuốc chất lượng không cao Các thuốc sau khi vượt qua điểm sàn được đấu về giá, thuốc nào giá rẻ nhất sẽ trúng thầu Thực trạng này khiến các công ty dược có đầu tư công nghệ, kỹ thuật cao cũng như những công ty có kỹ thuật sản xuất đơn giản Do đó, nhiều thuốc sản xuất tại Việt Nam có thương hiệu nhưng không thể cạnh tranh nổi về giá
Điều này vô hình chung có tác động xấu đến sự phát triển của ngành dược trong nước Không kích thích được các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh dược đầu tư phát triển chiều sâu [27] Không những ảnh hưởng đến tính bền vững của ngành công nghiệp dược Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến người bệnh và hiệu quả điều trị trong các cơ sở y tế
Trang 251.2.5 Giai đoạn từ 01/2014 đến nay
Nắm bắt kịp thời tình hình đấu thầu thuốc trong giai đoạn 2012-2013,
Bộ Y tế - Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 36 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01 đồng thời cũng ban hành Thông tư số 37 thay thế cho Thông tư số 11 hướng dẫn lập HSMT mua thuốc trong các cơ sở y tế [7], [8]
Có thể nói sự sửa đổi này đã đạt được những mặt tích cực:
- Việc phân nhóm phù hợp hơn, giúp cho sự cạnh tranh của các mặt hàng thuốc trong cùng một nhóm được công bằng
- Tạo cơ hội cho thuốc sản xuất trong nước khi cho phép tham gia đấu thầu vào nhóm 1 các thuốc sản xuất tại Việt Nam nhưng được các nước thuộc ICH cấp phép lưu hành
- Kích thích các doanh nghiệp trong nước đầu tư công nghệ sản xuất, khuyến khích sản xuất nhượng quyền chuyển giao kỹ thuật với các nước tham gia ICH
- Ưu tiên sử dụng thuốc đạt tiêu chuẩn GMP-WHO do Bộ Y tế Việt Nam cấp khi đưa tiêu chuẩn này thành một nhóm riêng biệt
Khảo sát kết quả trúng thầu tại một số tỉnh cho thấy năm 2014 khi thực hiện theo Thông tư số 36 thuốc sản xuất trong nước trúng thầu với tỷ lệ về số mặt hàng gần như tương đương với thuốc nhập khẩu [14], [16], [29]
Bảng 1.5 Bảng tỉ lệ khoản mục thuốc nội, ngoại trúng thầu năm 2014
STT Sở Y tế
Tỉ lệ % khoản mục thuốc nội trúng thầu
Tỉ lệ % khoản mục thuốc ngoại trúng
thầu
Trang 26- Có sự linh hoạt về hạn mức mua thuốc, đồng thời tăng cường sự tham gian của cơ quan Bảo hiểm xã hội vào quá trình đấu thầu
Trong giai đoạn này, Luật đấu thầu số 43 ra đời thay thế cho Luật đấu thầu số 61 ưu tiên dành một mục cho hoạt động đấu thầu thuốc Hàng loạt các văn bản hướng dẫn đấu thầu thuốc được hoàn thiện cho phù hợp với tình hình mới, mở ra một chương mới cho đấu thầu thuốc tiến tới đạt được mục tiêu
“mua thuốc chất lượng, giá cả hợp lý”, đồng thời góp phần thúc đẩy mạnh mẽ
sự phát triển của ngành dược Việt Nam
1.3 Thực trạng sử dụng danh mục thuốc trúng thầu tại Việt Nam trong những năm gần đây
Tại Việt Nam tổng giá trị tiền thuốc ước tính sử dụng năm 2012 là 2.600 triệu USD tăng 9,1% so với năm 2011 Giá trị thuốc sản xuất trong nước năm 2012 ước tính đạt khoảng 1.200 triệu USD, tăng 5,26% so với năm
2011, trị giá thuốc nhập khẩu năm 2012 là 1.750 triệu USD và bình quân tiền thuốc đầu người là 29,5 USD [22]
Công tác xây dựng số lượng trong kế hoạch đấu thầu thuốc thường dựa vào nhu cầu sử dụng của năm trước, mô hình bệnh tật của bệnh viện và dự kiến nhu cầu sử dụng trong năm Tuy nhiên, nhu cầu sử dụng thuốc của bệnh viện thay đổi theo thời gian và mô hình bệnh tật, nên việc đấu thầu quy định
số lượng sẽ gây lúng túng, khó khăn cho quá trình cung ứng thuốc của khoa dược bệnh viện như vấn đề thuốc trúng thầu được sử dụng vượt kế hoạch, thuốc trúng thầu nhưng không được sử dụng hoặc nhà thầu trúng thầu thực hiện cung ứng nhưng thuốc không được sử dụng dẫn đến hàng tồn kho hoặc thuốc bị gián đoạn trong quá trình cung ứng do hết thuốc, thuốc không đảm bảo chất lượng trong quá trình lưu thông, phân phối bị đình chỉ lưu hành
Tuy nhiên, Thông tư số 36 cũng đã quy định về thuốc sử dụng vượt kế hoạch đấu thầu đã được duyệt, nhưng trong năm nhu cầu sử dụng vượt số lượng kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt Số lượng mặt hàng
Trang 27thuốc được mua vượt kế hoạch trong năm không quá 20% số lượng thuốc đó trúng thầu Tổng giá trị thuốc mua vượt kế hoạch trong trường hợp này của đơn vị không quá 2 tỷ đồng/năm [5] nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu
sử dụng thuốc thực tế của bệnh viện
Phân tích kết quả thuốc trúng thầu được sử dụng tại bệnh viện để tìm ra các nguyên nhân bất hợp lý thông qua phân tích tỉ lệ các gói thuốc trúng thầu được sử dụng, tỉ lệ các nhóm thuốc theo tác dụng dược lý trúng thầu được sử dụng, nhà thầu thực hiện cung ứng thuốc trúng thầu Theo kết quả nghiên cứu tại bệnh viện 108 năm 2015 cho thấy: tỉ lệ thuốc được sử dụng so với trúng thầu của gói biệt dược là 71,67% khoản mục tương ứng với 96,00% giá trị, của gói generic là 71,27% khoản mục với 89,47% giá trị, tỉ lệ thuốc sản xuất tại Việt Nam/thuốc nhập khẩu được sử dụng là 18,07%/81,93% khoản mục và 6,57%/93,43% giá trị [30] Kết quả nghiên cứu tại Sở Y tế Đà Nẵng tỉ
lệ này là 129,33% giá trị đối với gói biệt dược và 123,54% đối với gói generic; tỉ lệ thuốc sản xuất tại Việt Nam/thuốc nhập khẩu được sử dụng là 48,29%/51,71% khoản mục và 35,36%/64,64% giá trị [19] Như vậy, cơ cấu thuốc trúng thầu được sử dụng ở các bệnh viện là khác nhau
Mặt khác, các thuốc được sử dụng nhiều trong danh mục thuốc trúng thầu tại các bệnh viện tập trung phần lớn ở các nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn và điều trị ký sinh trùng, nhóm thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch, nhóm thuốc tim mạch, nhóm thuốc nội tiết, nhóm thuốc tiêu hóa Theo kết quả nghiên cứu tại bệnh viện đại học Y Dược Huế năm 2011, chi phí thuốc sử dụng tập trung ở nhóm thuốc điều trị ung thư (40,1%), thuốc điều trị
ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn (25,7%) BVĐK Đức Giang tập trung ở các nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn (32,55%), nhóm hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết (15,17%)
Trang 281.4 Vài nét về Y tế Công an nhân dân và bệnh viện 19/8 Bộ Công an 1.4.1 Sơ đồ tổ chức, nhiệm vụ
Trong mỗi chiến công của lực lượng CAND đều có những đóng góp quan trọng, thầm lặng của Y tế CAND Y tế CAND đã thực hiện tốt công quản lý chăm sóc bảo vệ, điều trị và nâng cao sức khỏe CBCS và không quản ngại khó khăn gian khổ, hết lòng phục vụ người bệnh tại các trại giam,
cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng…
Cách đây gần 70 năm, Y tế CAND ra đời, gắn liền với sự hình thành và phát triển của Y tế Việt Nam nói chung, của lực lượng CAND nói riêng Đến nay, Y tế CAND đã có những bước phát triển mạnh mẽ, trưởng thành cả về lượng về chất Lực lượng làm công tác Y tế CAND là một lực lượng quan trọng, đảm bảo chăm sóc sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ (CBCS) Công an, đáp ứng yêu cầu công tác, chiến đấu trong mọi tình huống Từ chỗ chưa có một tổ chức y tế độc lập, trang thiết bị về chuyên môn y tế gần như là con số không, đến nay mạng lưới y tế CAND đã được củng cố, hoàn thiện, tổ chức thành hệ thống rộng khắp từ trung ương đến đơn vị, địa phương, đã từng bước được nâng cấp, hiện đại hóa và thực sự có sự đổi mới toàn diện
Lực lượng Y tế CAND được tổ chức theo ngành dọc từ trên xuống dưới, cao nhất là Cục Y tế - Bộ Công an chịu trách nhiệm quản lý và chỉ đạo điều hành toàn bộ các hoạt động y tế trong toàn lực lượng CAND, tiếp đến là các phòng chức năng, các bệnh viện, các nhà điều dưỡng và cuối cùng là tuyến y tế cơ sở phủ khắp cả nước Trong đó, hiện đã có 18 bệnh viện gồm 4 bệnh viện hạng I (Bệnh viện 19/8, Bệnh viện YHCT, Bệnh viện 30/4 và Bệnh viện 199), 14 bệnh viện Công an tỉnh, TP trực thuộc trung ương, 49 bệnh xá Công an tỉnh; y tế khối Vụ, Cục, Trường, Trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng
Bệnh viện 19/8 là bệnh viện đa khoa đầu ngành của Y tế CAND, với quy mô 600 giường bệnh, 41 khoa, phòng, trung tâm, với gần 1000 cán bộ
Trang 29chiến sỹ, công nhân viên Bệnh viện có nhiệm vụ khám chữa bệnh cho cán bộ chiến sỹ, công nhân viên công an, đối tượng bảo hiểm và nhân dân, với số lượng bệnh nhân đến khám chữa bệnh tại bệnh viện năm 2015 là 204.719,tham gia y tế cộng đồng, nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến, làm nhiệm vụ quốc tế và các nhiệm vụ khác
Hình 1.2 Sơ đồ tổ chức của Bệnh viện 19/8
Trang 301.4.2 Sơ lược hoạt động đấu thầu thuốc tại bệnh viện 19/8
Nguồn kinh phí dùng để mua thuốc tại bệnh viện gồm:
- Ngân sách Bộ Công an cấp theo Nghị định số 18 của Chính phủ qui định tiêu chuẩn vật chất hậu cần đối với sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ đang phục vụ trong lực lượng CAND
- Kinh phí thu bảo hiểm y tế
- Kinh phí thu một phần viện phí KCB dịch vụ tự nguyên
Đối tượng sử dụng thuốc là cán bộ chiến sỹ trong ngành, bệnh nhân bảo hiểm y tế nội trú và ngoại trú; bệnh nhân dịch vụ nội trú
- Hình thức lựa chọn nhà thầu được bệnh viện áp dụng là đấu thầu rộng rãi với kế hoạch đấu thầu được xây dựng 01 lần/năm Ngoài ra, sau khi đấu thầu rộng rãi sẽ có một lượng thuốc không trúng thầu hoặc trong năm một số mặt hàng thuốc có nhu cầu phát sinh đột xuất thì bệnh viện tiến hành áp dụng hình thức đấu thầu khác như mua sắm trực tiếp hoặc chào hàng cạnh tranh hoặc chỉ định thầu trên cơ sở các qui định hiện hành Phương thức lựa chọn nhà thầu là một giai đoạn một túi hồ sơ và một giai đoạn hai túi hồ sơ
- Quy trình đấu thầu thuốc được bệnh viện tiến hành đầy đủ các bước: Xây dựng, thẩm định, phê duyệt kế hoạch đấu thầu; xây dựng, thẩm định, phê duyệt HSMT; phát hành HSMT, mở thầu, đánh giá HSDT, thương thảo hợp đồng, thẩm định kết quả lựa chọn nhà thầu, trình lãnh đạo phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu, đăng tải kết quả lựa chọn nhà thầu trên báo đấu thầu, thông báo kết quả đấu thầu, ký kết hợp đồng với nhà thầu trúng thầu
- Thời gian thực hiện các bước trong qui trình đấu thầu tuân thủ theo đúng qui định
- Hoạt động đấu thầu thuốc của bệnh viện được tiến hành công khai, minh bạch và khoa học với sự tham gia đầy đủ các thành viên Tổ chuyên gia đấu thầu trong đó có sự giám sát của BHXH
Trang 31Tóm lại, mặc dù là bệnh viện ngành nhưng nhìn chung hoạt động đấu thầu mua thuốc tại Bệnh viện 19/8 đều thực hiện theo Luật và các văn bản hướng dẫn của Bộ Y tế
1.5 Tính cấp thiết của đề tài
Cung ứng thuốc là một chu trình khép kín, bao gồm lựa chọn, mua sắm, phân phối và sử dụng thuốc Trong đó, bước mua sắm là một trong những bước có vai trò quan trọng và tạo tiền đề cho các bước tiếp theo
Bệnh viện 19/8 là bệnh viện đa khoa hạng I của Bộ Công an Do tính chất đặc thù là bệnh viện ngành nên từ trước tới nay mới chỉ có một số đề tài nghiên cứu về hoạt động cung ứng sử dụng thuốc tại bệnh viện như:
1 Khảo sát tình hình cung ứng thuốc tại Bệnh viện 19/8 Bộ Công an (2002), Nguyễn Thị Thu Thủy, Khóa luận tốt nghiệp Dược sĩ đại học, Trường đại học Dược Hà Nội
2 Khảo sát và phân tích tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện 19/8 Bộ Công an (2013), Phan Thị Hồng Minh, Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ dược học, Học viện Quân Y –
Bộ Quốc phòng
Tuy nhiên, chưa có đề tài nào thực hiện nghiên cứu về hoạt động đấu thầu thuốc và phân tích thực hiện danh mục thuốc trúng thầu Từ đó chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu đề tài
Trang 32Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Danh mục thuốc kế hoạch đấu thầu rộng rãi
- Danh mục thuốc trúng thầu rộng rãi
- Danh mục thuốc sử dụng kết quả trúng thầu rộng rãi
2.1.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện 19/8
- Thời gian nghiên cứu: Tháng 1/2015 đến tháng 7/2016
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Các biến số nghiên cứu
Bảng 2.6 Các biến số nghiên cứu
STT Tên biến số Định nghĩa Giá trị Cách thức
Biến phân loại
DMT kế hoạch và DMT trúng thầu rộng rãi; Báo cáo đánh giá HSDT
Biến phân loại
Báo cáo đánh giá HSDT
Trang 333
Gói thuốc (biệt
dược, generic, ĐY
& DL) kế hoạch và
trúng thầu
Số khoản mục và giá trị của từng gói thuốc (biệt dược, generic, ĐY & DL)
kế hoạch và trúng thầu
Biến phân loại
Biến phân loại
lý kế hoạch và trúng thầu
Biến phân loại
DMT kế hoạch và DMT trúng thầu rộng rãi
6
Giá kế hoạch và giá
chào thầu
Số khoản mục có giá chào thầu cao hơn, thấp hơn và bằng giá
kế hoạch
Biến phân loại
Báo cáo đánh giá HSDT
Biến phân loại
Báo cáo đánh giá HSDT
Trang 34STT Tên biến số Định nghĩa Giá trị Cách thức
đấu thầu rộng rãi)
Giá trị thuốc mua bổ sung theo hình thức đấu thầu khác chào hàng cạnh tranh, chỉ định thầu, mua sắm trực tiếp
Biến phân loại
Biến phân loại
Biến phân loại
Biến phân loại
DL)
Biến phân loại
thầu và DMT
KQTT RR
Trang 35STT Tên biến số Định nghĩa Giá trị Cách thức
Biến phân loại
nước, thuốc nhập khẩu
Biến phân loại
Biến phân loại
thầu và DMT
KQTT RR
2.2.2 Mô hình thiết kế nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả hồi cứu
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
Bước 1: Tiến hành hồi cứu các tài liệu được bệnh viện cung cấp dưới dạng file mềm và bản cứng Bao gồm:
- Quyết định phê duyệt kế hoạch đấu thầu thuốc rộng rãi
- HSMT, Biên bản họp, Báo cáo đánh giá HSDT
- Quyết định phê duyệt danh mục thuốc trúng thầu rộng rãi
- Danh mục thuốc sử dụng kết quả trúng thầu rộng rãi
Bước 2: Xây dựng biểu mẫu thu thập dữ liệu (Phụ lục)
Trang 36Bước 3: Nhập số liệu vào biểu mẫu theo mục đích phân tích
2.2.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
a) Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu sau khi thu thập, được đưa vào phần mềm Microsoft Excel để
xử lý như sau:
+ Sắp xếp số liệu tùy theo mục đích phân tích
+ Tính số khoản mục, giá trị và tỉ lệ của từng biến số
+ So sánh, vẽ đồ thị hoặc biểu đồ, nhận xét: tập trung tìm ra những vấn
đề còn tồn đọng, những mặt hạn chế qua đó đưa ra các giải pháp khắc phục
b) Phương pháp phân tích số liệu
Bảng 2.7 Các phương pháp phân tích số liệu được sử dụng trong đề tài
Phương pháp
thống kê
- Hệ thống hóa các thuốc trong KHĐT, thuốc trúng thầu;
- Hệ thống hóa nhà thầu trúng thầu…
Phương pháp
so sánh
- So sánh KQTT với KHĐT thuốc về các chỉ số: SKM và giá trị gói thuốc, nhóm thuốc trong gói thuốc
- So sánh KQSD với KQTT thuốc về các chỉ số: Thực hiện cung ứng của nhà thầu, cơ cấu thuốc nội thuốc ngoại, nhóm thuốc theo TDDL
Phương pháp
tỷ trọng
- Là phương pháp tính tỉ lệ phần trăm của số khoản mục, giá trị số liệu của một hoặc một nhóm đối tượng nghiên cứu của KQTT so với KHĐT và KQSD so với KQTT
- Các tỉ lệ nghiên cứu: Tỉ lệ các gói thuốc, các nhóm thuốc trúng thầu, tỉ lệ thuốc sản xuất trong nước, thuốc nước ngoài trúng thầu, tỉ lệ nhà thầu trúng thầu, tỉ lệ các thuốc trúng thầu theo nhóm TDDL, tỉ lệ thuốc được sử dụng theo gói thuốc trúng thầu, theo nhóm TDDL
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 So sánh kết quả trúng thầu với kế hoạch đấu thầu thuốc năm
2015 tại bệnh viện 19/8
3.1.1 Thuốc trúng thầu, thuốc không trúng thầu, thuốc có nhà thầu tham dự, thuốc không có nhà thầu tham dự
Bảng 3.9 Tỉ lệ khoản mục thuốc trúng thầu, không trúng thầu, thuốc có
nhà thầu tham dự và không có nhà thầu tham dự
Mặt khác, tỉ lệ khoản mục thuốc có nhà thầu tham dự chiếm đến 92,15%, điều này cho thấy khi thực hiện theo TT36 các nhà thầu tham dự thầu
có nhiều kinh nghiệm hơn trong công tác đấu thầu
Trang 403.1.2 So sánh số lượng nhà thầu trúng thầu với nhà thầu nộp HSDT
Bảng 3.10 Tỉ lệ nhà thầu trúng thầu so với nhà thầu nộp HSDT
STT
SL nhà thầu nộp HSDT
SL nhà thầu trúng thầu
Tỉ lệ % nhà thầu TT/nộp HSDT
Gói thầu số 1: Gói thuốc biệt
Gói thầu số 3: Gói thuốc đông y,