1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích tình hình kê đơn bằng tiêu chuẩn beers và tiêu chuẩn STOPP START tại bệnh viện lão khoa trung ương

126 761 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT ACEi Angiotensin Converting Enzyme inhibitors – Chất ức chế men chuyển dạng angiotensin ACOVE Assessing Care of Vulnerable Elders – Tiêu chuẩn đánh g

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

VŨ THỊ TRINH

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH KÊ ĐƠN BẰNG TIÊU CHUẨN BEERS VÀ TIÊU CHUẨN

STOPP/START TẠI BỆNH VIỆN

LÃO KHOA TRUNG ƯƠNG

Trang 3

khuyên quý báu trong suốt quá trình học tập, công tác và thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các anh, chị, em đồng nghiệp trong khoa Dược Bệnh viện Lão khoa Trung Ương – là những người đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong công việc để tôi có điều kiện học tập và nghiên cứu

Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Vũ Thị Thanh Huyền và các bác sĩ, điều

dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Lão khoa Trung Ương đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn DS Nguyễn Thị Thu Thủy và các thầy, cô bộ môn

Dược lâm sàng Trường Đại học Dược Hà Nội đã giúp đỡ và cho tôi những lời khuyên

bổ ích trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các anh, chị, em trong chuyên ngành Dược lý – Dược lâm sàng Cao học 20 đã chia sẻ, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình và bạn bè thân yêu, đã luôn ở bên cổ vũ, động viên giúp tôi vượt qua những khó khăn và vững bước trên con đường của mình

Hà Nội, ngày tháng năm

Học viên

Vũ Thị Trinh

Trang 4

MỤC LỤC DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN 2

1.1 Tổng quan về kê đơn có khả năng không phù hợp ở người cao tuổi 2

1.2 Tổng quan về các công cụ đánh giá kê đơn thuốc ở người cao tuổi 4

1.2.1 Các công cụ mở (implicit) 4

1.2.2 Các công cụ đóng (explicit) 5

1.3 Tổng quan các nghiên cứu phân tích PIP sử dụng tiêu chuẩn Beers và tiêu chuẩn STOPP/ START 14

1.3.1 Trên thế giới 14

1.3.2 Tại Việt Nam 17

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.2 Phương pháp nghiên cứu 19

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 19

2.2.2 Thu thập dữ liệu 19

2.2.3 Phương pháp và tiêu chuẩn áp dụng trong nghiên cứu 21

2.3 Chỉ tiêu nghiên cứu 25

2.3.1 Phân tích các PIP theo tiêu chuẩn Beers và STOPP/ START 25

2.3.2 Phân tích mối liên quan giữa PIM và ADE 25

2.4 Phương pháp xử lý số liệu 26

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

3.1 Phân tích PIP theo các tiêu chuẩn Beers và tiêu chuẩn STOPP/ START 27 3.1.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 27

Trang 5

3.1.2 Phân tích PIM và PPO theo tiêu chuẩn Beers và tiêu chuẩn STOPP/

START 32

3.2 Phân tích mối liên quan giữa PIM và ADE 44

3.2.1 Đặc điểm các ADE trong nghiên cứu 44

3.2.2 Mối liên quan giữa các thuốc có khả năng không phù hợp (PIM) và ADE 46

Chương 4 BÀN LUẬN 47

4.1 Phân tích PIP theo các tiêu chuẩn Beers và tiêu chuẩn STOPP/ START 47 4.1.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 47

4.1.2 Phân tích PIM và PPO theo tiêu chuẩn Beers và tiêu chuẩn STOPP/ START 49

4.2 Phân tích mối liên quan giữa PIM và ADE 59

4.3 Hạn chế của nghiên cứu 60

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ACEi Angiotensin Converting Enzyme inhibitors – Chất ức chế men chuyển

dạng angiotensin ACOVE Assessing Care of Vulnerable Elders – Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng

chăm sóc người cao tuổi dễ bị tổn thương

ADE Adverse Drug Event - Biến cố bất lợi liên quan đến thuốc

ADL Activity of Daily Living – Hoạt động sống hàng ngày

ADR Adverse Drug Reaction – Phản ứng có hại của thuốc

CCI Charlson Comorbidity Index – Chỉ số bệnh mắc kèm Charlson

ClCr Clearance Creatinine – Độ thanh thải creatinin

DRP Drug - Related Problem – Vấn đề liên quan đến thuốc

GFR Glomerular Filtration Rate – Mức độ lọc cầu thận

MMSE Mini Mental State Examination – Trạng thái tâm thần tối thiểu

NSAID Non Steroid Anti-Inflammatory Drug – Thuốc chống viêm không steroid PIM Potentially Inappropriate Medication – Thuốc có khả năng không phù

hợp PIP Potentially Inappropriate Prescribing – Kê đơn có khả năng không phù

hợp PPI Proton Pump Inhibitor – Chất ức chế bơm proton

PPO Potential Prescribing Omission – Thiếu sót tiềm tàng khi kê đơn

START Screening Tool to Alert doctors to Right Treatment – Công cụ sàng lọc

cảnh báo bác sỹ điều trị đúng STOPP Screening Tool of Older Person’s Prescriptions – Công cụ sàng lọc kê

đơn ở người cao tuổi WHO World Health Organization – Tổ chức Y tế thế giới

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Tóm tắt một số tiêu chuẩn đóng đánh giá PIP trên thế giới 13

Bảng 1.2 Các nghiên cứu đánh giá PIP sử dụng Beers và STOPP/ START 15

Bảng 2.1 Phân loại mức lọc cầu thận theo KDIGO 2012 21

Bảng 2.2 Ý nghĩa hệ số kappa 23

Bảng 3.1 Số lượng bệnh nhân của các khoa lâm sàng 27

Bảng 3.2 Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu (N= 227) 28

Bảng 3.3 Đặc điểm bệnh lý của bệnh nhân nghiên cứu (N=227) 29

Bảng 3.4 Đặc điểm thuốc được kê đơn trên bệnh nhân 30

Bảng 3.5: Phân bố bệnh nhân theo tỷ lệ gặp PIM theo Beers và STOPP 33

Bảng 3.6 Các PIM theo tiêu chuẩn Beers trên bệnh nhân (N=227) 34

Bảng 3.7 Các PIM theo tiêu chuẩn STOPP trên bệnh nhân (N=227) 36

Bảng 3.8 Phân bố bệnh nhân theo tỷ lệ gặp PPO theo tiêu chuẩn START 37

Bảng 3.9 Các PPO theo tiêu chuẩn START trên bệnh nhân (N=227) 38

Bảng 3.10 Các PIM và các PPO hay gặp nhất (theo từng tiêu chuẩn) 39

Bảng 3.11 Tỷ lệ bệnh nhân được xác định PIM theo tiêu chuẩn Beers và STOPP 40

Bảng 3.12 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng gặp PIM theo tiêu chuẩn Beers 41

Bảng 3.13 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng gặp PIM theo STOPP 42

Bảng 3.14 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng gặp PPO theo START 43

Bảng 3.15 Phân bố bệnh nhân theo tỷ lệ gặp ADE 44

Bảng 3.16 Phân bố ADE theo mức độ nặng 44

Bảng 3.17 Đặc điểm các ADE của bệnh nhân nghiên cứu 45

Bảng 3.18 Tỷ lệ ADE ở bệnh nhân có PIM và không có PIM 46

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Các tiêu chuẩn phát triển từ tiêu chuẩn Beers [56] 8

Hình 2.1 Sơ đồ quy trình nghiên cứu 20

Hình 3.1 Các thuốc/ nhóm thuốc được kê đơn nhiều nhất 31

Hình 3.2: Phân bố tỷ lệ bệnh nhân gặp các PIP theo các tiêu chuẩn 32

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Kê đơn có khả năng không phù hợp (Potentially Inappropriate Prescribing

- PIP) là khi kê đơn một thuốc có thể có nguy cơ xảy ra biến cố bất lợi vượt quá lợi ích lâm sàng Nó bao gồm việc kê đơn các thuốc có khả năng không phù hợp (PIM) hoặc kê đơn một thuốc mà có thể được thay thế bởi các biện pháp an toàn và hiệu quả hơn [58,82] Ngoài ra, PIP còn là các thiếu sót tiềm tàng trong điều trị (PPO), bao gồm các trường hợp bỏ sót kê đơn bất kỳ một thuốc nào khi có chỉ định rõ ràng trên lâm sàng [41]

Người cao tuổi với tình trạng đa bệnh lý, phải sử dụng nhiều thuốc kèm theo những biến đổi sinh lý dẫn đến thay đổi về dược động học và đáp ứng với thuốc là những nguyên nhân khiến người cao tuổi thường có nguy cơ cao gặp các PIP Nhiều nghiên cứu đã chứng minh PIP ở người cao tuổi có thể dẫn đến các hậu quả tiêu cực cả

về y tế lẫn kinh tế như gia tăng biến cố bất lợi (ADE), tỷ lệ nhập viện cũng như tăng chi phí điều trị ở người cao tuổi [47,48]

Hiện nay trên thế giới có nhiều công cụ được phát triển để đánh giá các PIP ở người cao tuổi Trong đó, tiêu chuẩn Beers và STOPP/ START là hai bộ tiêu chuẩn ngày càng được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu cũng như trong thực hành lâm sàng để xác định PIM và PPO ở những bệnh nhân trên 65 tuổi [10,72] Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện chưa có một tiêu chuẩn hay hướng dẫn cụ thể nào để đánh giá PIP ở người cao tuổi

Bệnh viện Lão khoa Trung Ương là bệnh viện chuyên khoa đầu ngành về Lão khoa, là tuyến cao nhất trong công tác khám, điều trị và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam Vì vậy chất lượng kê đơn luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu

Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Phân tích tình hình kê đơn bằng tiêu chuẩn Beers và tiêu chuẩn STOPP/ START tại Bệnh viện Lão khoa Trung Ương” với các mục tiêu sau:

1) Phân tích đặc điểm, tần suất của các kê đơn có khả năng không phù hợp (PIP) ở người cao tuổi theo tiêu chuẩn Beers 2015 và STOPP/START phiên bản 2

2) Phân tích mối liên quan giữa các thuốc có khả năng không phù hợp (PIM)

và các biến cố bất lợi liên quan đến thuốc (ADE)

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về kê đơn có khả năng không phù hợp ở người cao tuổi

Nhìn chung, kê đơn các loại thuốc được coi là phù hợp ở người cao tuổi khi chúng có chỉ định rõ ràng dựa trên bằng chứng, lợi ích lâm sàng phải vượt trên nguy

cơ gây hại tiềm tàng và phải đạt hiệu quả kinh tế Kê đơn đúng là phải tính toán đến các lợi ích và nguy cơ của một thuốc cụ thể, cũng như xem xét các yếu tố khác như chi phí và mong muốn của bệnh nhân [58,71]

Ngược lại, kê đơn có khả năng không phù hợp (PIP) bao gồm việc sử dụng một thuốc mà nguy cơ xảy ra biến cố bất lợi vượt quá lợi ích lâm sàng, đặc biệt khi có sẵn các biện pháp thay thế an toàn và hiệu quả hơn [58,82] Như vậy, kê đơn có khả năng không phù hợp có thể xảy ra khi kê đơn các thuốc:

- Không có chỉ định rõ ràng dựa trên bằng chứng lâm sàng;

- Liều dùng quá cao hay thời gian dùng thuốc quá dài;

PIP được chia thành 3 lĩnh vực chính, đó là kê đơn quá mức (overprescribing - khi nhiều loại thuốc được kê đơn quá mức cần thiết), kê đơn sai (misprescribing - kê đơn không đúng một loại thuốc được xem là hợp lý, ví dụ: liên quan đến lựa chọn thuốc, liều dùng, thời gian điều trị, trùng lặp nhóm thuốc, tương tác thuốc - thuốc, tương tác thuốc – bệnh hoặc tương tác thuốc - thức ăn) và kê đơn dưới mức (underprescribing - khi phác đồ điều trị thiếu thuốc được chỉ định) [70,84]

Trang 11

Một đánh giá toàn diện về kê đơn không phù hợp ở người cao tuổi nên bao hàm các đánh giá về thuốc được kê đơn trong bối cảnh người cao tuổi với tình trạng đa bệnh lý, đa dược học, tình trạng chức năng và nhận thức, mục tiêu điều trị và tiên lượng sống [70] Ngoài ra, cũng cần phải tính đến mong muốn của bệnh nhân cũng như hiệu quả kinh tế [49]

PIP thường dễ xảy ra ở người cao tuổi do phác đồ điều trị phức tạp, tình trạng

đa bệnh lý, những biến đổi sinh lý liên quan đến tuổi dẫn đến những thay đổi về dược động học và dược lực học [84] Tỷ lệ bệnh nhân cao tuổi được kê đơn các thuốc có khả năng không phù hợp (PIM) đã được báo cáo qua rất nhiều nghiên cứu Theo dữ liệu từ Bảng khảo sát về chi phí y tế (MEPS) của Mỹ giai đoạn 2009 - 2010, ít nhất 41% người cao tuổi được kê đơn một PIM Mặc dù tỉ lệ sử dụng PIM giảm từ 45,5% giai đoạn 2006 - 2007 xuống 40,8% giai đoạn 2009 – 2010, nhưng vẫn còn gần một nửa số người cao tuổi được kê đơn ít nhất một PIM [10] Một nghiên cứu thực hiện ở 6 nước châu Âu cho thấy tỉ lệ bệnh nhân được kê đơn ít nhất một PIM thay đổi từ 35% đến 77% [39] Tỷ lệ này lên tới 86,2% ở Đài Loan [24] Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Đoan Trang thực hiện tại một bệnh viện ở Quảng Bình năm 2014 tỷ lệ bệnh nhân được kê đơn ít nhất một PIM là 80,6% [6]

Hậu quả của việc kê đơn không phù hợp không phải là nhỏ và không nên đánh giá thấp gánh nặng tâm sinh lý, gánh nặng kinh tế mà bệnh nhân, gia đình bệnh nhân

và xã hội phải chịu [58] Nhiều nghiên cứu đã chứng minh việc kê đơn các PIM ở người cao tuổi có thể dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng về y tế và kinh tế, bao gồm: gia tăng các biến cố bất lợi liên quan đến thuốc (ADE) [19,40,46,53], gia tăng tỷ lệ nhập viện [19,76], tỷ lệ nhập viện và tái nhập viện do các vấn đề liên quan đến thuốc [87], tăng chi phí điều trị và kéo dài thời gian nằm viện [45] Tại Ailen, 36% bệnh nhân trên 70 tuổi được kê đơn các PIM ít nhất 1 lần, tiêu tốn hơn 45 triệu Euro [22]

Không có gì ngạc nhiên khi kê đơn không phù hợp ở người cao tuổi đang trở thành một vấn đề y tế quan trọng và các biện pháp can thiệp nhằm nâng cao chất lượng

kê đơn phù hợp là thực sự cần thiết Phát hiện sớm các PIP có thể ngăn chặn các biến

cố bất lợi của thuốc và nâng cao chất lượng chăm sóc ở người cao tuổi Nhiều bằng

Trang 12

chứng cũng cho thấy tránh sử dụng các thuốc có khả năng không phù hợp giúp nâng cao chất lượng cuộc sống ở người cao tuổi [48]

1.2 Tổng quan về các công cụ đánh giá kê đơn thuốc ở người cao tuổi

Hiện nay có nhiều công cụ sàng lọc khác nhau để đánh giá việc kê đơn thuốc có phù hợp hay không ở người cao tuổi Chúng thường được chia thành hai nhóm là công

cụ “implicit” hay công cụ mở - là những công cụ dựa trên đánh giá lâm sàng và công

cụ “explicit” hay công cụ đóng – là những công cụ dựa trên tiêu chuẩn

1.2.1 Các công cụ mở (implicit)

Các công cụ mở tập trung vào các chỉ tiêu chất lượng trong kê đơn mà các bác

sĩ, dược sĩ có thể áp dụng vào bất kì đơn thuốc nào [70]

Công cụ mở thường là bộ câu hỏi về các vấn đề của việc kê đơn thuốc, bao gồm: lựa chọn thuốc, chỉ định, liều dùng, đường dùng, thời gian dùng thuốc, các phản ứng có hại của thuốc, tương tác thuốc – thuốc, tương tác thuốc – bệnh, kê đơn trùng lặp, tuân thủ điều trị, mong muốn của bệnh nhân…

Công cụ mở được áp dụng để đánh giá từng thuốc riêng lẻ trên từng bệnh nhân

cụ thể [58,70,82] Để thực hiện được điều đó, đòi hỏi cần phải có các chuyên gia y tế

có trình độ, kinh nghiệm và tiếp cận đầy đủ cơ sở dữ liệu lâm sàng [58] Bởi vậy, các công cụ mở thường mang tính chủ quan, phụ thuộc vào trình độ hiểu biết, kinh nghiệm, thái độ của người đánh giá và có thể có độ tin cậy thấp Thêm vào đó, chúng thường mất nhiều thời gian để hoàn thành đánh giá [56]

Công cụ mở được sử dụng phổ biến nhất và được trích dẫn nhiều nhất hiện nay

là tiêu chuẩn MAI (Medication Appropriateness Index) MAI được công bố lần đầu tiên năm 1992 bởi Hanlon và cộng sự Công cụ này đánh giá sự phù hợp trong kê đơn bằng cách sử dụng 10 tiêu chí về chỉ định, hiệu quả, liều dùng, cách dùng, tương tác thuốc – thuốc, tương tác thuốc – bệnh và chi phí điều trị MAI được xem là công cụ

mở toàn diện và có giá trị nhất để đánh giá Nó bao gồm các khía cạnh về kê đơn thuốc, có khả năng áp dụng cho bất kì một thuốc và bất kì một bệnh trong bất kì một bối cảnh lâm sàng nào đó Tuy nhiên việc áp dụng MAI đòi hỏi cần nhiều thời gian (khoảng 10 phút/ thuốc) và nó chưa đề cập đến khía cạnh kê đơn dưới mức

Trang 13

(underprescribing) Do đó hiện nay MAI ít được sử dụng trong thực hành lâm sàng thường quy, thường được sử dụng như một công cụ trong các nghiên cứu [70]

1.2.2 Các công cụ đóng (explicit)

Ngược lại với các công cụ mở, các công cụ đóng (hay tiêu chuẩn đóng) không tập trung vào bệnh nhân mà hầu hết định hướng theo thuốc hoặc định hướng theo bệnh [56,84] Chúng thường gồm danh sách các thuốc hoặc nhóm thuốc, một số liều của các thuốc cụ thể, một số phối hợp thuốc – thuốc, tương tác thuốc – bệnh nên tránh [70] Hầu hết các công cụ đóng đều đánh giá vấn đề kê đơn quá mức (overprescribing)

và kê đơn sai (misprescribing), ngoài ra một số các công cụ đóng cũng xem xét đánh giá kê đơn dưới mức (underprescribing) như tiêu chuẩn START hay ACOVE

Các tiêu chuẩn đóng thường được phát triển từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm: các hệ thống y văn, các đánh giá đã được công bố, ý kiến chuyên gia và các phương pháp đồng thuận [70] Trong đó, ý kiến của chuyên gia thường đóng vai trò quan trọng trong việc kê đơn cho người cao tuổi do thiếu các hướng dẫn điều trị dựa trên bằng chứng [84]

Ưu điểm của các công cụ đóng là áp dụng nhanh, chi phí thấp, đòi hỏi ít dữ liệu lâm sàng [70] và có thể áp dụng trên dữ liệu kê đơn lớn, trên hầu hết các bệnh nhân [58,84] Các công cụ đóng cũng đảm bảo một chế độ chăm sóc công bằng hơn cho bệnh nhân [56]

Tuy nhiên, các công cụ đóng thường được sử dụng một cách cứng nhắc, chúng không chỉ ra sự khác biệt giữa các cá thể bệnh nhân cũng như sự phức tạp và sự phù hợp của toàn bộ phác đồ điều trị [56] Tiêu chuẩn đóng cũng không tính đến gánh nặng của các bệnh mắc kèm phổ biến ở người cao tuổi, mong muốn của bệnh nhân cũng như các biện pháp điều trị thất bại trước đó [70,84] Bên cạnh đó, tiêu chuẩn đóng chịu

sự chỉ trích vì khả năng chuyển đổi bị hạn chế giữa các quốc gia do các tiêu chuẩn, hướng dẫn điều trị và danh mục thuốc sẵn có ở mỗi nước khác nhau Tiêu chuẩn đóng đòi hỏi phải được đánh giá và cập nhật thường xuyên để phù hợp với sự phát triển của các bằng chứng lâm sàng [47,56]

Trang 14

1.2.2.1 Tiêu chuẩn Beers

Trong tất cả các công cụ sàng lọc sử dụng tiêu chuẩn đóng, tiêu chuẩn Beers được sử dụng rộng rãi và được trích dẫn nhiều nhất trong các nghiên cứu Tiêu chuẩn Beers được ưa thích vì chúng tiên phong trong việc đánh giá sử dụng thuốc ở người cao tuổi [82]

Ra đời năm 1991 bởi Beers và cộng sự, tiêu chuẩn Beers là tiêu chuẩn đóng đầu tiên được sử dụng để xác định sự kê đơn không phù hợp ở người cao tuổi Ban đầu, tiêu chuẩn Beers được thiết kế dành riêng cho các viện dưỡng lão, gồm danh sách 30 loại thuốc cần tránh ở các bệnh nhân cao tuổi Sau đó, chúng được sửa đổi và mở rộng vào năm 1997 để áp dụng rộng rãi cho tất cả các bệnh nhân trên 65 tuổi trong các đơn

vị lão khoa khác nhau [47,58,70] Lần cập nhật thứ 2 được công bố năm 2003, gồm 48 thuốc/ nhóm thuốc cần tránh ở người cao tuổi và 20 bệnh và các thuốc cụ thể cần tránh

sử dụng trong những bệnh này Tiêu chuẩn Beers 2003 cũng bao gồm xếp hạng mức

độ nghiêm trọng của hậu quả khi sử dụng các thuốc trong danh sách [70]

Dưới sự hỗ trợ của Hiệp hội Lão khoa Hoa Kỳ và ban liên ngành gồm 11 chuyên gia về lão khoa, tiêu chuẩn Beers được cập nhật lần thứ 3 vào năm 2012 Beers

2012 gồm 53 thuốc và nhóm thuốc, được chia thành 3 nội dung Mỗi nội dung được sắp xếp và tổ chức theo các nhóm trị liệu và hệ thống các cơ quan, bao gồm:

- Nội dung 1: gồm 34 thuốc và nhóm thuốc có khả năng không phù hợp và tránh sử dụng ở người cao tuổi Các bổ sung mới đáng chú ý là megestrol, glyburid và

“insulin, sliding scale”

- Nội dung 2: tổng hợp các thuốc và nhóm thuốc có khả năng không phù hợp và tránh sử dụng ở người cao tuổi mắc một số bệnh hoặc triệu chứng mà các thuốc này có thể làm trầm trọng thêm tình trạng của bệnh Các điểm mới đáng chú ý là các thiazolidindion hoặc glitazon với bệnh suy tim, các chất ức chế acetylcholinesterase với bệnh nhân cao tuổi có tiền sử ngất, và các chất ức chế tái thu hồi serotonin chọn lọc với ngã và gãy xương

- Nội dung 3: danh sách 14 thuốc và nhóm thuốc cần thận trọng khi dùng ở người cao tuổi

Trang 15

So với Beers 2003, Beers 2012 đã bổ sung một số loại thuốc mới, đồng thời loại

đi 19 thuốc và nhóm thuốc ra khỏi danh sách do các thuốc này đã bị rút khỏi thị trường

Mỹ (ví dụ propoxyphen) hoặc thiếu các bằng chứng để kết luận (ví dụ ethacrynic acid) Bên cạnh đó, tiêu chuẩn Beers 2012 đã đưa ra xếp hạng chất lượng của các bằng chứng và độ mạnh của các khuyến cáo dựa trên tổng quan hệ thống nghiêm ngặt và ý kiến đồng thuận của các chuyên gia [11]

Năm 2015, Hội Lão khoa Hoa Kỳ đã công bố bản cập nhật lần thứ 4 của tiêu chuẩn Beers Đây là bản cập nhật mới nhất, cập nhật tiêu chuẩn Beers năm 2012 thông qua sử dụng tổng quan hệ thống toàn diện và phân loại các bằng chứng về các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc (DRP) và các biến cố bất lợi của thuốc (ADE) ở người cao tuổi, dựa vào các tài liệu y văn đã công bố từ lần cập nhật năm 2012 và đạt được

sự đồng thuận dựa trên phương pháp Delphi Cũng như Beers 2012, Beers 2015 liệt kê danh sách các PIM ở người cao tuổi, bao gồm: các thuốc tránh sử dụng ở hầu hết bệnh nhân cao tuổi, các thuốc tránh sử dụng ở những bệnh nhân mắc một số bệnh hoặc triệu chứng cụ thể và các thuốc cần thận trọng khi dùng cho người cao tuổi Sự thay đổi trong bản cập nhật năm 2015 không lớn như những lần cập nhật trước đó Hai nội dung chính mới được thêm vào Beers 2015 là:

- Danh sách các thuốc nên tránh hoặc giảm liều ở bệnh nhân cao tuổi dựa theo chức năng thận

- Các tương tác thuốc – thuốc có ý nghĩa lâm sàng nên tránh ở người cao tuổi Ngoài ra, bộ tiêu chuẩn lần này còn đưa ra hai bản hướng dẫn Thứ nhất là cách

sử dụng tối ưu các tiêu chí, đồng thời cung cấp các hướng dẫn và các ví dụ cụ thể cho bệnh nhân, nhân viên y tế Thứ hai là danh mục các thuốc và các liệu pháp không dùng thuốc thay thế cho các PIM trong Beers 2015 [10]

Từ 1991 đến nay, tiêu chuẩn Beers với các phiên bản khác nhau được sử dụng rộng rãi và thường xuyên trong nhiều nghiên cứu ở Mỹ và các nước trên thế giới, thực hiện trong nhiều đơn vị lão khoa khác nhau như: viện dưỡng lão, bệnh viện, đơn vị chăm sóc ban đầu, bệnh nhân ngoại trú và cộng đồng Theo kết quả từ một tổng quan gần đây, tiêu chuẩn Beers được xem là cơ sở hình thành nên 18 tiêu chuẩn đánh giá PIP ở các nước châu Âu (Pháp, Nauy, Đức, Áo), châu Mỹ (Canada, Mexico) (như hình

Trang 16

1.1) [56] Ngoài ra, tiêu chuẩn Beers cũng được áp dụng để phát triển thành các tiêu chuẩn đánh giá sử dụng thuốc trên người cao tuổi ở một số nước châu Á như Nhật Bản, Đài Loan [23,75]

Hình 1.1 Các tiêu chuẩn phát triển từ tiêu chuẩn Beers [56]

Nhiều nghiên cứu cho thấy các PIM trong tiêu chuẩn Beers có thể dẫn đến những hậu quả tiêu cực như ngã, lú lẫn, gãy xương, suy giảm nhận thức, tử vong Tránh sử dụng các PIM ở người cao tuổi là một trong những chiến lược nhằm giảm nguy cơ các biến cố nghiêm trọng Từ khi hình thành đến nay, tiêu chuẩn Beers là một trong những nguồn tham khảo phổ biến nhất về an toàn trong kê đơn cho người cao tuổi Tiêu chuẩn Beers được sử dụng rộng rãi trong lão khoa nhằm các mục đích: cải thiện việc lựa chọn thuốc, giáo dục các bác sĩ và bệnh nhân, giảm các biến cố bất lợi của thuốc và được dùng như một công cụ để đánh giá chất lượng chăm sóc, chi phí và phác đồ điều trị thuốc trong lão khoa Tiêu chuẩn Beers cũng được sử dụng như một tham chiếu lâm sàng cho việc ra quyết định kê đơn cho người cao tuổi Tiêu chuẩn

Trang 17

Beers là một phần của đánh giá toàn diện về sử dụng thuốc ở người cao tuổi và nên được sử dụng kết hợp với các công cụ khác như STOPP/ START của châu Âu [10]

Mối liên quan giữa các PIM theo tiêu chuẩn Beers và ADE đã được báo cáo qua nhiều nghiên cứu Một số nghiên cứu chứng minh rằng không gia tăng đáng kể các ADE ở những bệnh nhân được kê đơn các thuốc trong tiêu chuẩn Beers Một số kết luận rằng các PIM trong Beers chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ các ADE ở người cao tuổi [20,29,60]

Ngược lại, một số nghiên cứu lại cho thấy các PIM trong tiêu chuẩn Beers có liên quan đáng kể đến các ADE [19,25] cũng như gia tăng tỉ lệ nhập viện [19,76], tăng chi phí điều trị và kéo dài thời gian nằm viện [45]

Mặc dù đã trải qua 5 lần sửa đổi, bổ sung và được sử dụng rộng rãi ở Mỹ và các nước trên thế giới, tiêu chuẩn Beers vẫn còn một số hạn chế như: các thuốc trong danh sách không được sắp xếp theo trình tự nhất định nào do đó khó sử dụng, tiêu chuẩn Beers không đề cập đến các thiếu sót trong kê đơn [58] và không áp dụng cho các đơn

vị chăm sóc giảm nhẹ và chăm sóc cận tử [10,12]

1.2.2.2 Tiêu chuẩn STOPP/ START

Bên cạnh tiêu chuẩn Beers, một tiêu chuẩn đóng cũng được sử dụng rộng rãi để đánh giá sự kê đơn không phù hợp là bộ tiêu chuẩn STOPP/ START STOPP/ START

là bộ tiêu chuẩn dựa trên bằng chứng, được chấp nhận lần đầu năm 2008 bằng cách sử dụng phương pháp đồng thuận Delphi bởi 18 chuyên gia dược học lão khoa Anh và Ailen [41,70] Cũng như tiêu chuẩn Beers, tiêu chuẩn STOPP/START được thiết kế để

áp dụng cho những bệnh nhân trên 65 tuổi và được chấp nhận bởi Hiệp hội Lão khoa Liên minh Châu Âu (EUGMS) [71,72] Tiêu chuẩn STOPP (Công cụ sàng lọc các kê đơn có khả năng không phù hợp ở người cao tuổi) gồm 65 tiêu chí lâm sàng, được sắp xếp theo hệ thống sinh lý và mỗi tiêu chí đưa ra nguyên nhân giải thích tại sao việc kê đơn là không phù hợp [41,70] Chúng là danh sách các tương tác thuốc - thuốc, tương tác thuốc – bệnh và kê đơn trùng lặp nhóm thuốc, dùng để xác định các PIM ở người cao tuổi [70] STOPP được thiết kế độc đáo để sử dụng cùng với tiêu chuẩn START (Công cụ sàng lọc để cảnh báo bác sĩ điều trị đúng) gồm 22 chỉ định (dựa trên bằng chứng) cho các bệnh thường gặp ở người cao tuổi Trong khi STOPP cho phép đánh

Trang 18

giá các vấn đề về kê đơn sai thì START tập trung vào vấn đề kê đơn dưới mức, giúp xác định các thiếu sót tiềm tàng trong kê đơn (PPO) [47]

Năm 2014, 19 chuyên gia từ 13 nước châu Âu trên cơ sở đánh giá các bằng chứng của các tiêu chí năm 2008 và các tiêu chí mới được đề xuất thông qua tổng quan

hệ thống chặt chẽ, từ đó đưa thêm vào các tiêu chí phù hợp đồng thời loại bỏ một số tiêu chí đã lỗi thời hoặc ít liên quan Kết quả, tiêu chuẩn STOPP/ START được cập nhật và chấp nhận dựa trên phương pháp đồng thuận Delphi STOPP/ START phiên bản 2 vẫn mang tính độc đáo vì nó bao gồm một danh sách các PPO riêng biệt (START), giúp đánh giá các thiếu sót trong kê đơn thuốc – một vấn đề thường gặp ở người cao tuổi STOPP/ START phiên bản 2 gồm 114 tiêu chí, tăng 31% so với phiên bản năm 2008, trong đó có 80 tiêu chí của STOPP và 34 tiêu chí của START 15 tiêu chí trong STOPP/ START 2008 đã được loại bỏ khỏi phiên bản cập nhật lần này và số tiêu chí mới khoảng 49% (tiêu chuẩn STOPP) và 47% (tiêu chuẩn START) [12,72]

Như vậy, tiêu chuẩn Beers 2015 và tiêu chuẩn STOPP/ START phiên bản 2 có một số nội dung tương đồng:

- Cả 2 tiêu chuẩn đều chú ý đến việc điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận (Beers bổ sung một danh sách các thuốc nên tránh hoặc giảm liều ở bệnh nhân suy thận, STOPP/ START bổ sung mục Hệ thận và tiết niệu)

- Cả 2 tiêu chuẩn bao gồm nhiều tiêu chí liên quan đến ADR, ADE của các thuốc kháng cholinergic, thuốc an thần benzodiazepin, nonbenzodiazepin (liên quan đến nguy cơ ngã), thuốc chống trầm cảm ba vòng, các PPI sử dụng trên 8 tuần

- Cả 2 tiêu chuẩn chỉ ra tầm quan trọng của việc hạn chế dùng các thuốc chống loạn thần và khuyến khích các biện pháp không dùng thuốc để quản lý hành vi của bệnh nhân sa sút trí tuệ hoặc mê sảng

- Cả 2 tiêu chuẩn đề cập đến một số tương tác thuốc – bệnh, tương tác thuốc – thuốc và trùng lặp nhóm thuốc quan trọng ở người cao tuổi [10,12,72]

Các điểm khác biệt chính giữa tiêu chuẩn Beers và STOPP/ START là:

- STOPP/ START được sắp xếp theo hệ thống sinh lý, dễ sử dụng, trong khi Beers thì không

Trang 19

- STOPP/ START bao gồm danh sách các PPO (tiêu chuẩn START) để xác định các lỗi thiếu sót trong kê đơn, còn Beers thì không Do đó, tiêu chuẩn STOPP/ START chỉ ra nhiều lĩnh vực kê đơn không phù hợp hơn tiêu chuẩn Beers

- Beers không được thiết kế để sử dụng trong các đơn vị chăm sóc giảm nhẹ và chăm sóc cận tử, còn STOPP/ START có thể áp dụng ở hầu hết các đơn vị lâm sàng khác nhau [10,12,72]

Kể từ lần đầu công bố tiêu chuẩn STOPP/START năm 2008, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số các đặc tính quan trọng của STOPP/START, đó là:

- Các thuốc trong tiêu chuẩn STOPP có liên quan đáng kể đến các ADE Theo nghiên cứu của Hamilton (2011), 52% các ADE ở bệnh nhân nhập viện liên quan đến các PIM trong tiêu chuẩn STOPP Nghiên cứu cũng chỉ ra các thuốc trong STOPP làm gia tăng đáng kể nguy cơ gặp các ADE nghiêm trọng có thể phòng tránh được (OR: 1,85; 95% CI: 1,51-2,26; p< 0.001) [46]

- Tiêu chuẩn STOPP/START như một công cụ can thiệp được áp dụng tại một thời điểm nhất định trong khi nằm viện do bệnh cấp tính ở người cao tuổi giúp cải thiện đáng kể sự phù hợp trong kê đơn, hiệu quả này được duy trì trong 6 tháng sau can thiệp

- Tiêu chuẩn STOPP/START như một công cụ can thiệp được áp dụng trong 72h nhập viện giúp giảm đáng kể ADR và giảm thời gian nằm viện trung bình 3 ngày

ở người cao tuổi nhập viện do bệnh cấp tính không chọn lọc [72]

Tiêu chuẩn STOPP/ START được ứng dụng rộng rãi để sàng lọc các kê đơn có khả năng không phù hợp ở nhiều nước châu Âu, châu Á, Úc, Nam Mỹ và Bắc Mỹ, trong nhiều các đơn vị lão khoa khác nhau như: chăm sóc ban đầu, bệnh viện, điều trị dài hạn, viện dưỡng lão

Tiêu chuẩn STOPP/ START có thể sử dụng như một công cụ phân loại để phân loại và ưu tiên bệnh nhân theo mức độ nặng STOPP/ START cũng được sử dụng như một công cụ đo lường để can thiệp [48] Một ưu điểm của tiêu chuẩn STOPP/ START nữa đó là nó đề cập đến cả hai vấn đề kê đơn quá mức và kê đơn dưới mức, cho phép đánh giá sự kê đơn toàn diện hơn Do đó, việc sử dụng kết hợp hai tiêu chuẩn STOPP

và START nên được khuyến cáo trong thực hành lâm sàng STOPP/ START có mức

Trang 20

độ tin cậy cao giữa những người đánh giá là các bác sĩ, dược sĩ làm việc trong các lĩnh vực khác nhau [41,58]

Cũng như các công cụ sàng lọc khác, tiêu chuẩn STOPP/ START cũng có một

số hạn chế Số lượng lớn các tiêu chí trong STOPP/ START có thể gây khó khăn trong việc áp dụng vào thực hành lâm sàng Để áp dụng chính xác tiêu chuẩn STOPP/ START đòi hỏi phải có thông tin chi tiết về danh sách các thuốc và các bệnh đồng mắc của bệnh nhân Việc thu thập những dữ liệu này thường mất thời gian Ngoài ra, STOPP/ START không đề cập đến mức độ nghiêm trọng trong các trường hợp kê đơn, cũng như độ mạnh của các bằng chứng [72]

Bên cạnh tiêu chuẩn Beers và STOPP/ START, một số các tiêu chuẩn đóng khác cũng được phát triển ở các quốc gia khác nhau trên thế giới Một số bộ tiêu chuẩn đóng đã được công bố và sử dụng ở các nước được trình bày trong bảng 1.1 (trang 13)

Mục đích cuối cùng của các công cụ sàng lọc kê đơn có khả năng không phù hợp là để tối ưu hóa việc kê đơn phù hợp và làm giảm các hậu quả tiêu cực như các ADE có thể phòng tránh [47] Tuy nhiên, bản thân các tiêu chuẩn đóng không đủ để nâng cao chất lượng điều trị Chỉ dựa vào các tiêu chuẩn đóng có thể làm che lấp các phát hiện quan trọng về các vấn đề liên quan đến thuốc như kê đơn thuốc khi không có chỉ định, các bệnh không được điều trị, hoặc không tuân thủ điều trị Hơn nữa các PIM không giải thích tất cả các phản ứng bất lợi của thuốc mà bệnh nhân gặp phải Một số các thuốc thiết yếu như các thuốc hạ đường huyết đường uống, insulin, lợi tiểu, chống kết tập tiểu cầu và chống đông máu có liên quan đến các hậu quả bất lợi nhưng hầu hết không được đề cập trong các tiêu chuẩn đóng [12]

Hạn chế chính của việc sử dụng các tiêu chuẩn đóng là thiếu các đánh giá về tình trạng lâm sàng của từng cá thể bệnh nhân Không nên dùng các tiêu chuẩn đóng

để thay thế cho các đánh giá lâm sàng của bác sỹ, chuyên gia y tế hay mong muốn của bệnh nhân Bởi vì tùy từng trường hợp cụ thể và dựa vào đánh giá trên từng bệnh nhân, việc kê đơn các PIM lại là chính đáng và cần thiết Vì vậy, các PIM không phải lúc nào cũng là chống chỉ định, mà có những trường hợp vẫn phải dùng những thuốc này Việc điều trị và kê đơn nên cá thể hóa trên từng bệnh nhân [10,11,58]

Trang 21

Bảng 1.1 Tóm tắt một số tiêu chuẩn đóng đánh giá PIP trên thế giới

Tiêu chuẩn (năm) Quốc

38 thuốc và nhóm thuốc chia thành: các thuốc cần tránh sử dụng, tương tác thuốc – thuốc, tương tác thuốc – bệnh Tiêu chuẩn cũng đưa ra các thuốc thay thế

Tiêu chuẩn IPET

(2000) [69] Canada

≥ 70 tuổi

Phát triển từ 14 PIP hay gặp nhất của tiêu chuẩn McLeod

Tiêu chuẩn Rhancourt

(2004) [77] Canada

≥ 65 tuổi

111 mục, phân loại theo: các thuốc, thời gian điều trị, liều dùng, tương tác thuốc – thuốc có khả năng không phù hợp

Tiêu chuẩn Laroche

≥ 75 tuổi

Tiêu chuẩn này phát triển từ các tiêu chuẩn Beers, IPET và McLeod Gồm 36 tiêu chí được phân loại thành: các thuốc/ nhóm thuốc cần tránh ở người cao tuổi, các thuốc tránh sử dụng trong một số bệnh cụ thể Tiêu chuẩn NORGEP

(2009) [78]

Nauy

≥ 70 tuổi

36 tiêu chí, trong đó 21 tiêu chí dựa trên thuốc và liều dùng, 15 tiêu chí dựa trên kết hợp thuốc

Tiêu chuẩn kê đơn

của Úc (2008) [14,15] Úc ≥ 65

tuổi

Bao gồm 41 tiêu chí, chỉ ra cả hai vấn đề kê đơn quá mức và kê đơn dưới mức Tiêu chuẩn này được phát triển từ các hướng dẫn điều trị của Úc, dữ liệu kê đơn và các

nguyên nhân thường gặp nhất mà người cao tuổi Úc phải sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe

Tiêu chuẩn Thái Lan

(2008) [91]

Thái Lan

Người cao tuổi

77 tiêu chí, được phân thành: các thuốc có nguy cơ cao gây tác dụng không mong muốn, các thuốc có nguy cơ cao gây tương tác thuốc – bệnh, tương tác thuốc – thuốc

Trang 22

1.3 Tổng quan các nghiên cứu phân tích PIP sử dụng tiêu chuẩn Beers và tiêu

chuẩn STOPP/ START

1.3.1 Trên thế giới

Các nghiên cứu sử dụng hai tiêu chuẩn Beers và STOPP/ START để đánh giá PIP đã được thực hiện ở rất nhiều nước trên thế giới Một số nghiên cứu được trình bày trong bảng 1.2 (trang 16, 17)

Như vậy, tỷ lệ các PIM và PPO xác định được từ các nghiên cứu dao động khá lớn Tỷ lệ PIM xác định theo tiêu chuẩn Beers và STOPP lần lượt là 18,3 – 51,8% và 21,4 – 41,0% trong các đơn vị chăm sóc ban đầu [17,31,74,79]; 22,9 – 51,1% và 27,0 – 63,3% trong các bệnh viện [33,39,46,51,81]; 25,0 – 32,7% và 23,7 – 48,0% trong các viện dưỡng lão [28,86] PPO chỉ được xác định trong một số nghiên cứu với tỷ lệ dao động từ 22,7% đến 59,4% [33,39,79,81] Có sự khác biệt này là do các nghiên cứu

sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau, các phiên bản khác nhau của cùng một tiêu chuẩn hoặc chỉ sử dụng một phần của tiêu chuẩn để đánh giá Ngoài ra, tiến hành theo các phương pháp, quần thể, đơn vị lâm sàng khác nhau cũng như sự khác nhau về danh mục thuốc, phác đồ điều trị giữa các nước là những nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt trên [44]

Một số nghiên cứu cho thấy STOPP xác định được nhiều PIM hơn so với tiêu chuẩn Beers [31,39,46,79,81] Ngược lại, một số nghiên cứu khác chỉ ra sử dụng tiêu chuẩn Beers giúp xác định tỷ lệ PIM cao hơn so với STOPP [17,28,33] Nhìn chung, các PIM hay gặp nhất theo hai tiêu chuẩn Beers và STOPP trong các nghiên cứu là các benzodiazepin và NSAID Trong khi đó PPO phổ biến nhất theo tiêu chuẩn START là

bổ sung canxi và vitamin D cho bệnh nhân loãng xương

Trang 23

Bảng 1.2 Các nghiên cứu đánh giá PIP sử dụng Beers và STOPP/ START

Nghiên cứu

(Năm) Quốc gia

Các cơ sở chăm sóc ban đầu

et al (2014)

Tây Ban

BZD, chống loạn thần, Sulfonylure, NSAID 35,4%

ASA, canxi/vi D, ACEi, statin [31]

Bệnh viện

Gallagher et

al (2011)

6 nước châu Âu 30,4%

BZD, TCA, kháng cholinergic, CCB 51,3%

BZD, an thần kinh,

Canxi/vit D, statin, ACEi, APT

ACEi, wafarin, statin, canxi/vit D [81]

Trang 24

Bảng 1.2 Các nghiên cứu đánh giá PIP sử dụng Beers và STOPP/ START (tiếp)

Nghiên cứu

(Năm) Quốc gia

Di Giorgio C

Metoclopramid, amiodaron, NSAID 27%

BB, BZD, trùng lặp

Metformin, ACEi, statin [33] Liu C.L et al

Ghi chú: “-“: không được báo cáo, 1st GAH: kháng histamin thế hệ 1, ACEi: ức chế men chuyển, APT: liệu pháp kháng kết tập tiểu cầu, ASA: aspirin, BB: chẹn beta-adrenergic, BZD: benzodiazepin, CCB: chẹn kênh calci, NSAID: chống

viêm phi steroid, PPI: thuốc chẹn bơm proton, vit D: vitamin D,

Trang 25

Các nghiên cứu cũng chỉ ra sử dụng đồng thời nhiều thuốc (số lượng thuốc khác nhau trong các nghiên cứu khác nhau) liên quan đáng kể đến khả năng gặp PIM [39,74,81,86] và tình trạng mắc đồng thời nhiều bệnh là yếu tố nguy cơ gặp các PPO ở người cao tuổi [39,81]

Nhiều nghiên cứu chỉ ra mối liên quan giữa các PIM và ADE Theo nghiên cứu của Hamilton H năm 2011 thực hiện trên 600 bệnh nhân cao tuổi tại thời điểm nhập viện ở Ailen cho thấy 51,7% các ADE liên quan đến các PIM theo tiêu chuẩn STOPP

và 20,4% liên quan đến các PIM theo tiêu chuẩn Beers Kết quả cũng chứng minh nguy cơ xảy ra ADE nghiêm trọng có thể phòng tránh được tăng lên có ý nghĩa khi các PIM theo STOPP được kê đơn (OR: 1,847; 95%CI: 1,506 - 2,264; p< 0,001), nhưng không tăng lên có ý nghĩa với các PIM theo tiêu chuẩn Beers [46] Tương tự, theo nghiên cứu của Cahir C khi đánh giá mối liên quan giữa PIM và ADE trên những người trên 70 tuổi ngoài cộng đồng ở Ailen cũng cho thấy những bện nhân được kê đơn ≥ 2 PIM theo tiêu chuẩn STOPP có nguy cơ gặp ADE tăng gấp 2 lần (OR: 2,21; p< 0,05) [21] Một nghiên cứu thực hiện trên hơn một trăm nghìn bệnh nhân tại Mỹ gần đây chỉ ra các PIM xác định theo cả 2 tiêu chuẩn Beers và STOPP đều làm tăng có

ý nghĩa nguy cơ gặp ADE [19]

1.3.2 Tại Việt Nam

Tính đến nay, mới có hai nghiên cứu sử dụng tiêu chuẩn Beers và STOPP/ START để đánh giá PIP được công bố ở Việt Nam

Một nghiên cứu tiến cứu được thực hiện tại bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cuba Đồng Hới tỉnh Quảng Bình bởi tác giả Nguyễn Ngọc Đoan Trang năm 2014 sử dụng tiêu chuẩn Beers 2012 và STOPP/ START phiên bản 1 để xác định PIM và PPO

ở bệnh nhân nội trú trên 60 tuổi Kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân gặp ít nhất một PIM theo tiêu chuẩn Beers và STOPP lần lượt là 80,7% và 16,5% và tỷ lệ bệnh nhân gặp ít nhất một PPO là 18,4% theo tiêu chuẩn START Trong đó, các PIM thường gặp theo tiêu chuẩn Beers 2012 là các benzodizepin tác dụng kéo dài (diazepam) và các thuốc giãn mạch (amlodipin, nifedipin, isosorbid, nitroglycerin) Theo STOPP, các PIM phổ biến là các thuốc kháng histamin thế hệ 1, benzodiazepin và NSAID Các PPO thường gặp theo START là metformin, statin và các thuốc chống kết tập tiểu cầu Trong

Trang 26

nghiên cứu này, không có yếu tố nào được xác định là có ảnh hưởng đến khả năng gặp PIM theo tiêu chuẩn STOPP/START phiên bản 1 và Beers 2012 [6]

Một nghiên cứu khác của tác giả Nguyễn Thị Thu Hương năm 2016 tiến hành xác định PIM theo tiêu chuẩn STOPP phiên bản 2 trên đối tượng bệnh nhân ngoại trú trên 60 tuổi tại bệnh viện Hữu nghị Theo đó, tỷ lệ PIM xác định được theo STOPP là 19,4% và các PIM phổ biến bao gồm: thuốc kháng histamin thế hệ 1 (clopheniramin), thuốc điều trị tăng huyết áp tác dụng trên hệ thần kinh trung ương (methyldopa) và các PPI (omeprazol, pantoprazol) Nghiên cứu chỉ ra tuổi cao (> 75 tuổi) và sử dụng đồng thời nhiều thuốc (> 5 thuốc) liên quan có ý nghĩa thống kê đến khả năng gặp PIM [3]

Cả hai nghiên cứu trên đều không xác định mối liên quan giữa các thuốc có khả năng không phù hợp (PIM) và biến cố bất lợi liên quan đến thuốc (ADE)

Trang 27

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các bệnh nhân trên 65 tuổi, nhập viện vào các khoa lâm sàng thuộc bệnh viện Lão khoa Trung Ương trong thời gian nghiên cứu thỏa mãn tiêu chuẩn:

+ Thời gian nằm viện ít nhất là 24h;

+ Được kê đơn ít nhất là 01 thuốc

Đối với những bệnh nhân phải chuyển khoa trong thời gian điều trị, quy ước bệnh nhân sẽ được thu thập vào khoa có thời gian điều trị dài hơn

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành theo phương pháp quan sát, tiến cứu

2.2.2 Thu thập dữ liệu

Chúng tôi tiến hành thu thập bệnh nhân từ 15/10/2016 đến hết 15/03/2017

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập theo Phiếu thu thập thông tin (Phụ lục 1) thông qua ghi chép bệnh án và phỏng vấn bệnh nhân, người nhà bệnh nhân Các thông tin được thu thập cụ thể như sau:

- Các thông tin từ phỏng vấn bệnh nhân/ người nhà bệnh nhân:

+ Khai thác tiền sử dùng thuốc, tiền sử bệnh, tiền sử bị ngã

+ Đánh giá chức năng nhận thức (MMSE), hoạt động sống hàng ngày (ADL) và khai thác các thông tin cần thiết khác

- Theo dõi các ADE trên bệnh nhân:

+ Các ADE được thu thập từ bệnh án và thông qua phỏng vấn bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và bác sĩ, điều dưỡng

+ Thông tin về ADE được ghi vào Phiếu thu thập thông tin (Phụ lục 1)

Trang 28

Quy trình nghiên cứu

Hình 2.1 Sơ đồ quy trình nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu

Thu thập thông tin vào Phiếu thu thập

thông tin

* Đặc điểm bệnh nhân: tuổi, giới, thời

gian điều trị, tiền sử bệnh, tiền sử ngã, chẩn đoán, CLS, chức năng nhận thức (MMSE), hoạt động sống hàng ngày (ADL)

* Phân tích đặc điểm và tần suất các PIM

và PPO theo tiêu chuẩn Beers và STOPP

* Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng xuất hiện các PIP

* Phân tích mối liên quan giữa các PIP và ADE

* Đặc điểm về thuốc sử dụng: tiền sử

dùng thuốc, số lượng (tỉ lệ) thuốc/ nhóm thuốc, số thuốc trung bình/ đơn, thuốc/ nhóm thuốc sử dụng nhiều nhất

* Ghi nhận ADE trên BN

Thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn

Trang 29

2.2.3 Phương pháp và tiêu chuẩn áp dụng trong nghiên cứu

2.2.3.1 Phân tích PIP theo tiêu chuẩn Beers và STOPP/ START

* Đánh giá các đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

- Chức năng thận: Đánh giá chức năng thận của bệnh nhân dựa trên mức lọc cầu thận (GFR) (tính theo công thức CKD-EPI 2009) Chức năng thận của bệnh nhân được phân loại theo phân loại bệnh thận mạn của KDIGO 2012 căn cứ vào mức lọc cầu thận GFR (Bảng 2.1) [34]

Bảng 2.1 Phân loại mức lọc cầu thận theo KDIGO 2012

Phân loại GFR GFR (ml/min/1.73 m2) Mức độ

- Hoạt động sống hàng ngày (ADL): Đánh giá mức độ độc lập hay phụ thuộc của bệnh nhân trên các hoạt động cơ bản hàng ngày Thang ADL gồm 6 hoạt động: ăn uống, vệ sinh, mặc quần áo, chăm sóc bản thân, di chuyển và tắm rửa tương đương 6 điểm (Phụ lục 4) Bệnh nhân độc lập hoàn toàn khi có điểm ADL = 6, phụ thuộc ít nhất một hoạt động khi điểm ADL ≤ 5 [55]

- Bệnh lý được phân loại theo ICD 10

- Chỉ số bệnh mắc kèm Charlson (CCI): các bệnh mắc kèm được tính điểm theo Phụ lục 4 [27]

- Các thuốc trong nghiên cứu được phân loại theo mã ATC của WHO

Trang 30

* Xác định các PIP bằng tiêu chuẩn Beers và STOPP/ START

Các kê đơn có khả năng không phù hợp (PIP) trong nghiên cứu bao gồm các thuốc

có khả năng không phù hợp (PIM) và các thiếu sót tiềm tàng trong kê đơn (PPO) Trong đó, các thuốc có khả năng không phù hợp (PIM) được xác định bằng tiêu chuẩn Beers phiên bản năm 2015 [10] và tiêu chuẩn STOPP phiên bản 2 [72] Các thiếu sót tiềm tàng trong kê đơn (PPO) được xác định bởi tiêu chuẩn START phiên bản 2 [72] Đối với tiêu chuẩn Beers năm 2015, theo sự đồng thuận của các bác sĩ và nhóm

nghiên cứu, chúng tôi không áp dụng bảng các thuốc sử dụng thận trọng ở người cao tuổi (bảng 4) để đánh giá PIM Các bảng được áp dụng trong nghiên cứu bao gồm: các PIM tránh sử dụng ở người cao tuổi (bảng 2), các PIM tránh sử dụng trong một số bệnh/ hội chứng ở người cao tuổi (bảng 3), các cặp thuốc có tương tác cần tránh sử dụng ở người cao tuổi (bảng 5) và các PIM nên tránh hoặc giảm liều tùy theo chức năng thận (bảng 6) để xác định PIM với số tiêu chí có thể áp dụng tại bệnh viện là 42

trên tổng 83 tiêu chí

Đối với tiêu chuẩn STOPP phiên bản 2, số tiêu chí có thể áp dụng trong nghiên

cứu là 73 trên 80 tiêu chí Với các thuốc làm tăng nguy cơ ngã trên bệnh nhân cao tuổi

(phần K), chúng tôi cụ thể hóa đối tượng áp dụng của hai tiêu chí benzodiazepin (K1)

và các thuốc an thần kinh (K2) là bệnh nhân có tiền sử ngã ít nhất một lần trong 3 tháng trước khi nhập viện

Để đánh giá các thiếu sót tiềm tàng trong kê đơn, chúng tôi áp dụng tất cả các tiêu chí của tiêu chuẩn START phiên bản 2 trong nghiên cứu

* Đánh giá sự đồng thuận giữa các tiêu chuẩn

Sự đồng thuận giữa các tiêu chuẩn ở đây có nghĩa là sử dụng tiêu chuẩn Beers

2015 và tiêu chuẩn STOPP phiên bản 2 để cùng xác định PIM trên bệnh nhân nghiên cứu và mức độ đồng thuận được kiểm định thông qua hệ số kappa (Ƙ) Chúng tôi quy ước ý nghĩa của hệ số kappa trong việc đánh giá sự đồng thuận giữa hai tiêu chuẩn được trình bày trong bảng 2.2 tương tự như một số nghiên cứu đã áp dụng [18,68]

Trang 31

Bảng 2.2 Ý nghĩa hệ số kappa

< 0,2 Tương đồng rất kém 0,2 – 0,4 Tương đồng kém 0,4 – 0,6 Tương đồng trung bình 0,61 – 0,8 Tương đồng tốt

0,81 – 1 Tương đồng rất tốt

* Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng gặp các PIP

Sử dụng phương pháp phân tích hồi quy logistics đa biến để phân tích các yếu

tố ảnh hưởng đến khả năng gặp các PIP trên bệnh nhân Các biến dự kiến đưa vào phân tích bao gồm: tuổi, giới, chỉ số bệnh mắc kèm Charlson, số lượng thuốc sử dụng trong thời gian điều trị của bệnh nhân

2.2.3.2 Phân tích mối liên quan giữa PIM và ADE

* Đặc điểm các ADE trong nghiên cứu

- ADE được theo dõi trong quá trình sử dụng thuốc của bệnh nhân thông qua khai thác từ bệnh án và phỏng vấn bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và nhân viên y tế (bác sĩ, điều dưỡng) Một ADE được xác định khi bất kỳ một tổn thương xảy ra trên bệnh nhân trong quá trình điều trị bằng thuốc [47]

- Các tài liệu sau được sử dụng để xác định các thuốc nghi ngờ gây ADE:

+ Dược thư Quốc gia Việt Nam [1];

+ Tờ hướng dẫn sử dụng của biệt dược gốc (cùng hoạt chất với thuốc nghi ngờ) hoặc tóm tắt thông tin sản phẩm (SPC) của Anh, Mỹ

Với các ADE được nghi ngờ liên quan đến các PIM, mối quan hệ nhân quả được xác định bằng thang Naranjo ADE được xác định là có liên quan đến PIM khi được kết luận ở mức “chắc chắn” hoặc “có khả năng” hoặc “có thể”

- Phân loại mức độ nghiêm trọng của ADE theo 4 mức như sau:

+ Nhẹ: không cần điều trị, giải độc và không kéo dài thời gian nằm viện

Trang 32

+ Trung bình: cần có thay đổi trong điều trị, cần điều trị đặc hiệu hoặc kéo dài thời gian nằm viện ít nhất 1 ngày

+ Nặng: có thể đe dọa tính mạng, gây bệnh lâu dài hoặc cần chăm sóc tích cực + Tử vong: trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến tử vong của bệnh nhân [65]

* Phân tích mối liên quan giữa các PIM và ADE

Dùng kiểm định Chi-Square để phân tích mối liên quan giữa các PIM và ADE

PIM và ADE được xác định là có liên quan có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05

 Các tiêu chuẩn phụ sử dụng trong nghiên cứu (phụ lục 4)

- Đánh giá nguy cơ chảy máu theo thang HAS-BLED [57] (Phụ lục 4)

- Thang đánh giá mức độ đau VAS và PAINAD (Phụ lục 4)

- Mức độ lọc cầu thận (GFR)

Dựa vào chỉ số creatinin huyết thanh (lấy từ kết quả xét nghiệm gần nhất với thời điểm bệnh nhân bắt đầu sử dụng thuốc đánh giá) tính mức độ lọc cầu thận theo

công thức của CKD-EPI 2009 [61]:

GFR = 141 x min (Scr/k,1)α x max (Scr/k,1)-1,209 x 0,993Tuổi

x 1,018 (nếu là nữ) x 1,159 (nếu là người da đen) Trong đó: Scr: nồng độ creatinin huyết thanh Tuổi tính theo năm

k = 0,7 với nữ; = 0,9 với nam

α = -0,329 với nữ; = -0,411 với nam min = giá trị nhỏ nhất của Scr/k và 1;

max = giá trị lớn nhất của Scr/k và 1

- Độ thanh thải creatinin (ClCr)

Độ thanh thải creatinin huyết thanh (ClCr) được tính theo công thức Gault như sau:

( )

- Liều đầy đủ (liều chuẩn) của các PPI

Liều đầy đủ của các PPI trong điều trị viêm loét dạ dày tá tràng không biến chứng hoặc viêm trợt thực quản căn cứ theo liều khuyến cáo trong Dược thư quốc gia năm 2015 [1]

Trang 33

2.3 Chỉ tiêu nghiên cứu

2.3.1 Phân tích các PIP theo tiêu chuẩn Beers và STOPP/ START

2.3.1.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

- Số đơn thuốc trên bệnh nhân trong thời gian nằm viện

- Số lượng thuốc sử dụng trong một đơn

- Số lượng thuốc bệnh nhân sử dụng trong cả đợt điều trị

- Các nhóm thuốc sử dụng nhiều nhất

2.3.1.2 Phân tích các PIM và PPO theo tiêu chuẩn Beers và STOPP/ START

* Xác định các PIP bằng tiêu chuẩn Beers và STOPP/ START

- Số PIP: được xác định khi bệnh nhân gặp ít nhất 1 PIM theo Beers hoặc STOPP hoặc ít nhất 1 PPO theo START

- Tần suất và đặc điểm các PIM theo tiêu chuẩn Beers và tiêu chuẩn STOPP

- Tần suất và đặc điểm các PPO theo tiêu chuẩn START

* Đánh giá sự đồng thuận giữa các tiêu chuẩn

- Số bệnh nhân có PIM xác định theo các tiêu chuẩn Beers và STOPP

- Số bệnh nhân có PIM theo Beers nhưng không có PIM theo STOPP

- Số bệnh nhân có PIM theo STOPP nhưng không có PIM theo Beers

- Mức độ đồng thuận theo hệ số kappa

* Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng gặp các PIP

Mối liên quan giữa tuổi, giới, chỉ số bệnh mắc kèm Charlson và số lượng thuốc

sử dụng trong thời gian nằm viện đến khả năng xuất hiện các PIP trên bệnh nhân

2.3.2 Phân tích mối liên quan giữa PIM và ADE

2.3.2.1 Đặc điểm các ADE trong nghiên cứu

- Đặc điểm và tần suất các ADE trên bệnh nhân nghiên cứu

Trang 34

- Tỷ lệ ADE ở nhóm bệnh nhân có PIP và không có PIP

2.3.2.2 Phân tích mối liên quan giữa các PIM và ADE

Mối liên quan giữa các PIM và nguy cơ gặp ADE trên bệnh nhân nghiên cứu

2.4 Phương pháp xử lý số liệu

Dữ liệu thu thập được xử lý trên phần mềm SPSS 22.0 và Microsoft Excel Thống kê mô tả: các biến liên tục được biểu diễn bằng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn nếu có phân phối chuẩn, trung vị và khoảng tứ phân vị nếu có phân phối không chuẩn Các biến không liên tục được mô tả theo tỷ lệ phần trăm

Kiểm định thống kê: so sánh 2 tỷ lệ bằng test χ2 Sự khác biệt giữa 2 tỷ lệ được coi là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05

Đánh giá sự tương đồng giữa hai tiêu chuẩn bằng hệ số kappa

Sử dụng phương pháp phân tích hồi quy logistics đa biến để phân tích các yếu

tố ảnh hưởng đến khả năng gặp PIP Các kết quả phân tích hồi quy được thể hiện ở OR với 95% khoảng tin cậy Ảnh hưởng của các yếu tố được xem là có ý nghĩa thống kê

khi p < 0,05 Dùng kiểm định Chi-Square để phân tích mối liên quan giữa các thuốc

khả năng không phù hợp (PIP) và biến cố bất lợi liên quan đến thuốc (ADE) PIM và ADE liên quan có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05

Trang 35

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Phân tích PIP theo các tiêu chuẩn Beers và tiêu chuẩn STOPP/ START

3.1.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Nghiên cứu thu được 227 bệnh nhân tại 05 khoa lâm sàng trong thời gian từ 15/10/2016 đến 15/03/2017 Số lượng bệnh nhân trong mỗi khoa được trình bày trong bảng 3.1

Bảng 3.1 Số lượng bệnh nhân của các khoa lâm sàng

Nhận xét: Kết quả trong bảng 3.2 cho thấy:

- Tuổi trung bình của bệnh nhân là 78,2 ± 7,4 dao động từ 65 đến 97 Tỷ lệ giữa

các nhóm tuổi chênh lệch không quá lớn, trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm tuổi

75 – 84 (41,7%) và tỷ lệ thấp nhất là nhóm trên 85 tuổi (20,3%)

- Tỷ lệ bệnh nhân nam (55,9%) nhiều hơn bệnh nhân nữ (44,1%)

- Thời gian điều trị của bệnh nhân dao động từ 2 đến 35 ngày, trung vị là 11 ngày Trong đó, 46,3% bệnh nhân có thời gian nằm viện dưới 11 ngày

- Phần lớn bệnh nhân (62,1%) có suy giảm chức năng thận, chủ yếu ở mức độ nhẹ (44,5%)

- Tỷ lệ bệnh nhân phải phụ thuộc ít nhất một hoạt động sống hàng ngày là 55,9%, cao hơn ở nhóm bệnh nhân hoạt động độc lập (44,1%)

Trang 36

- Bệnh nhân không có có suy giảm nhận thức chiếm tỷ lệ cao (74,4%)

- Phần lớn bệnh nhân (89,0%) không bị ngã trước khi nhập viện

Bảng 3.2 Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu (N= 227)

Đặc điểm Số lƣợng (tỷ lệ%) Trung bình ± SD Tuổi

Trang 37

Bảng 3.3 Đặc điểm bệnh lý của bệnh nhân nghiên cứu (N=227)

Hội chứng tiền đình Alzheimer

64,8

30,4 26,4 12,8 12,3 10,6 10,1 9,3 7,5 6,6

Nhận xét:

Kết quả trong bảng 3.3 cho thấy:

- Nhóm bệnh nhân có chỉ số bệnh mắc kèm CCI từ 1 đến 2 chiếm tỷ lệ cao nhất (52,0%) và thấp nhất ở nhóm có CCI ≥ 3 (21,6%)

- Số bệnh lý trung bình của bệnh nhân là 2,8 ± 1,1, dao động từ 1 đến 6 bệnh Trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm bệnh nhân có 2 bệnh (35,2%), 3 bệnh (30,0%)

và thấp nhất là nhóm có trên 5 bệnh (7,9%)

Trang 38

- Các bệnh lý phổ biến hầu hết là các bệnh mạn tính, trong đó tăng huyết áp (64,8%), nhồi máu não (30,4%), đái tháo đường (26,4%) là các bệnh chiếm tỷ lệ cao

- BN không dùng thuốc trước khi nhập viện

- BN dùng thuốc trước khi nhập viện

+ Không rõ thông tin về thuốc

+ Thuốc điều trị tăng huyết áp

+ Thuốc điều trị đái tháo đường

Số đơn thuốc trên một BN

Trang 39

Nhận xét:

- Đa số bệnh nhân nghiên cứu đều sử dụng thuốc trước khi nhập viện (84,6%) Tuy nhiên, hơn một nửa số bệnh nhân (44,3%) không rõ thông tin về thuốc sử dụng và các thuốc khai thác được nhiều nhất là thuốc điều trị tăng huyết áp

- Tổng số đơn thuốc thu được từ 227 bệnh nhân là 923 đơn Trung bình một bệnh nhân được kê 4 đơn thuốc trong thời gian điều trị Số đơn thuốc dao động từ 1 đến 11

- Một đơn trung bình có 6,3 thuốc được kê, số lượng thuốc dao động từ 1 đến 17 trong mỗi đơn Trong đó, chiếm tỷ lệ cao nhất là các đơn thuốc được kê từ 6 – 10 thuốc (56,7%) và số đơn thuốc được kê trên 10 thuốc chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ (3,9%)

- Trung bình, mỗi bệnh nhân được kê đơn 9,4 ± 3,3 thuốc trong cả đợt điều trị Trong đó, nhóm bệnh nhân sử dụng từ 6 đến 10 thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất (51,5%)

* Các thuốc/ nhóm thuốc sử dụng nhiều nhất:

Tổng số lượt thuốc được kê đơn của 227 bệnh nhân trong thời gian nằm viện là 2.131 liên quan đến 158 hoạt chất Các thuốc và nhóm thuốc được kê đơn nhiều nhất được trình bày trong hình 3.1

Hình 3.1 Các thuốc/ nhóm thuốc được kê đơn nhiều nhất

Thuốc điều trị các bệnh tắc nghẽn đường thở (R03)

Thuốc tác dụng lên hệ Renin-Angiotensin (C09)

Thuốc giảm đau trung ương (N02)

Thuốc hưng thần (N06) Thuốc điều trị đái tháo đường (A10) Thuốc điều trị chóng mặt (N07) Chế phẩm bổ sung Ca, K, Mg (A12) Thuốc chống loạn thần (N05) Thuốc ức chế bơm proton (A02) Vitamin, dịch nuôi dưỡng (A01)

Tần suất kê đơn (số lượt kê đơn/ số bệnh nhân)

Trang 40

Nhận xét:

Nhóm thuốc được kê đơn nhiều nhất là các vitamin và dịch nuôi dưỡng với 87,7% bệnh nhân sử dụng, tiếp theo là thuốc ức chế bơm proton (PPI) chiếm 67,0% Đáng chú ý là các thuốc chống loạn thần – nhóm thuốc liên quan đến PIM theo tiêu

chuẩn Beers và STOPP cũng chiếm tỷ lệ khá lớn (55,1%)

3.1.2 Phân tích PIM và PPO theo tiêu chuẩn Beers và tiêu chuẩn STOPP/

START

Tỷ lệ các PIP xác định theo tiêu chuẩn Beers 2015 và tiêu chuẩn STOPP/

START phiên bản 2 trên bệnh nhân nghiên cứu được trình bày trong hình 3.2

Hình 3.2: Phân bố tỷ lệ bệnh nhân gặp các PIP theo các tiêu chuẩn

Ngày đăng: 19/10/2017, 12:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Nguyễn Thị Thu Hương (2016), Đánh giá thực trạng kê đơn trên bệnh nhân ngoại trú cao tuổi tại bệnh viện Hữu nghị, Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ dược học, Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng kê đơn trên bệnh nhân ngoại trú cao tuổi tại bệnh viện Hữu nghị
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hương
Năm: 2016
5. Hồ Thị Kim Thanh (2016), "Đánh giá ảnh hưởng của quá trình nằm viện đến hoạt động hàng ngày của người cao tuổi", Tạp chí nghiên cứu Y học, 100 (2), pp 164- 170 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá ảnh hưởng của quá trình nằm viện đến hoạt động hàng ngày của người cao tuổi
Tác giả: Hồ Thị Kim Thanh
Năm: 2016
6. Nguyễn Ngọc Đoan Trang (2014), Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc trên bệnh nhân cao tuổi tại bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cuba Đồng Hới tỉnh Quảng Bình, Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ dược học, Đại học Dược Hà Nội.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc trên bệnh nhân cao tuổi tại bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cuba Đồng Hới tỉnh Quảng Bình
Tác giả: Nguyễn Ngọc Đoan Trang
Năm: 2014
7. Airagnes G., Pelissolo A., Lavallee M. et al. (2016), "Benzodiazepine Misuse in the Elderly: Risk Factors, Consequences, and Management", Curr Psychiatry Rep, 18, pp 89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Benzodiazepine Misuse in the Elderly: Risk Factors, Consequences, and Management
Tác giả: Airagnes G., Pelissolo A., Lavallee M. et al
Năm: 2016
8. Alonso-Coello P., Bellmunt S., Mcgorrian C. et al. (2012), "Antithrombotic therapy in peripheral artery disease: Antithrombotic Therapy and Prevention of Thrombosis, 9th ed: American College of Chest Physicians Evidence-Based Clinical Practice Guidelines", Chest, 141, pp e669S-90S Sách, tạp chí
Tiêu đề: Antithrombotic therapy in peripheral artery disease: Antithrombotic Therapy and Prevention of Thrombosis, 9th ed: American College of Chest Physicians Evidence-Based Clinical Practice Guidelines
Tác giả: Alonso-Coello P., Bellmunt S., Mcgorrian C. et al
Năm: 2012
9. Amarenco P. &amp; Labreuche J. (2009), "Lipid management in the prevention of stroke: review and updated meta-analysis of statins for stroke prevention", Lancet Neurol, 8, pp 453-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lipid management in the prevention of stroke: review and updated meta-analysis of statins for stroke prevention
Tác giả: Amarenco P. &amp; Labreuche J
Năm: 2009
10. American Geriatrics Society 2015 Beers Criteria Update Expert Panel (2015), "American Geriatrics Society 2015 Updated Beers Criteria for Potentially Inappropriate Medication Use in Older Adults", J Am Geriatr Soc, 63, pp 2227-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American Geriatrics Society 2015 Updated Beers Criteria for Potentially Inappropriate Medication Use in Older Adults
Tác giả: American Geriatrics Society 2015 Beers Criteria Update Expert Panel
Năm: 2015
11. American Geriatrics Society Beers Criteria Update Expert Panel (2012), "American Geriatrics Society updated Beers Criteria for potentially inappropriate medication use in older adults", J Am Geriatr Soc, 60, pp 616-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American Geriatrics Society updated Beers Criteria for potentially inappropriate medication use in older adults
Tác giả: American Geriatrics Society Beers Criteria Update Expert Panel
Năm: 2012
12. Barenholtz Levy H. &amp; Marcus E. L. (2016), "Potentially Inappropriate Medications in Older Adults: Why the Revised Criteria Matter", Ann Pharmacother, 50, pp 599-603 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Potentially Inappropriate Medications in Older Adults: Why the Revised Criteria Matter
Tác giả: Barenholtz Levy H. &amp; Marcus E. L
Năm: 2016
13. Barry P. J., Gallagher P., Ryan C. et al. (2007), "START (screening tool to alert doctors to the right treatment)--an evidence-based screening tool to detect prescribing omissions in elderly patients", Age Ageing, 36, pp 632-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: START (screening tool to alert doctors to the right treatment)--an evidence-based screening tool to detect prescribing omissions in elderly patients
Tác giả: Barry P. J., Gallagher P., Ryan C. et al
Năm: 2007
14. Basger B. J., Chen T. F. &amp; Moles R. J. (2008), "Inappropriate medication use and prescribing indicators in elderly Australians: development of a prescribing indicators tool", Drugs Aging, 25, pp 777-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inappropriate medication use and prescribing indicators in elderly Australians: development of a prescribing indicators tool
Tác giả: Basger B. J., Chen T. F. &amp; Moles R. J
Năm: 2008
15. Basger B. J., Chen T. F. &amp; Moles R. J. (2012), "Validation of prescribing appropriateness criteria for older Australians using the RAND/UCLA appropriateness method", BMJ Open, 2, pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Validation of prescribing appropriateness criteria for older Australians using the RAND/UCLA appropriateness method
Tác giả: Basger B. J., Chen T. F. &amp; Moles R. J
Năm: 2012
16. Bischoff-Ferrari H. A., Willett W. C., Orav E. J. et al. (2012), "A pooled analysis of vitamin D dose requirements for fracture prevention", N Engl J Med, 367, pp 40-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A pooled analysis of vitamin D dose requirements for fracture prevention
Tác giả: Bischoff-Ferrari H. A., Willett W. C., Orav E. J. et al
Năm: 2012
17. Blanco-Reina E., Ariza-Zafra G., Ocana-Riola R. et al. (2014), "2012 American Geriatrics Society Beers criteria: enhanced applicability for detecting potentially inappropriate medications in European older adults? A comparison with the Screening Tool of Older Person's Potentially Inappropriate Prescriptions", J Am Geriatr Soc, 62, pp 1217-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2012 American Geriatrics Society Beers criteria: enhanced applicability for detecting potentially inappropriate medications in European older adults? A comparison with the Screening Tool of Older Person's Potentially Inappropriate Prescriptions
Tác giả: Blanco-Reina E., Ariza-Zafra G., Ocana-Riola R. et al
Năm: 2014
18. Blanco-Reina E., Garcia-Merino M. R., Ocana-Riola R. et al. (2016), "Assessing Potentially Inappropriate Prescribing in Community-Dwelling Older Patients Using the Updated Version of STOPP-START Criteria: A Comparison of Profiles and Prevalences with Respect to the Original Version", PLoS One, 11, pp e0167586 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessing Potentially Inappropriate Prescribing in Community-Dwelling Older Patients Using the Updated Version of STOPP-START Criteria: A Comparison of Profiles and Prevalences with Respect to the Original Version
Tác giả: Blanco-Reina E., Garcia-Merino M. R., Ocana-Riola R. et al
Năm: 2016
19. Brown J. D., Hutchison L. C., Li C. et al. (2016), "Predictive Validity of the Beers and Screening Tool of Older Persons' Potentially Inappropriate Prescriptions (STOPP) Criteria to Detect Adverse Drug Events, Hospitalizations, and Emergency Department Visits in the United States", J Am Geriatr Soc, 64, pp 22- 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Predictive Validity of the Beers and Screening Tool of Older Persons' Potentially Inappropriate Prescriptions (STOPP) Criteria to Detect Adverse Drug Events, Hospitalizations, and Emergency Department Visits in the United States
Tác giả: Brown J. D., Hutchison L. C., Li C. et al
Năm: 2016
20. Budnitz D. S., Lovegrove M. C., Shehab N. et al. (2011), "Emergency hospitalizations for adverse drug events in older Americans", N Engl J Med, 365, pp 2002-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Emergency hospitalizations for adverse drug events in older Americans
Tác giả: Budnitz D. S., Lovegrove M. C., Shehab N. et al
Năm: 2011
21. Cahir C., Bennett K., Teljeur C. et al. (2014), "Potentially inappropriate prescribing and adverse health outcomes in community dwelling older patients", Br J Clin Pharmacol, 77, pp 201-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Potentially inappropriate prescribing and adverse health outcomes in community dwelling older patients
Tác giả: Cahir C., Bennett K., Teljeur C. et al
Năm: 2014
22. Cahir C., Fahey T., Teeling M. et al. (2010), "Potentially inappropriate prescribing and cost outcomes for older people: a national population study", Br J Clin Pharmacol, 69, pp 543-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Potentially inappropriate prescribing and cost outcomes for older people: a national population study
Tác giả: Cahir C., Fahey T., Teeling M. et al
Năm: 2010
4. Quỹ Dân Số Liên Hợp Quốc (Unfpa) (2011), "Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam: Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách (http://vietnam.unfpa.org/vi/publications)&#34 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w