Đánh giá tình hình sản xuất và giải pháp phát triển cây chè trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tài liệu, giáo án...
Trang 1“Trong thời gian qua, huyện Tân Uyên đã phát triển vùng nguyên liệu
chè rộng lớn trên 1000 ha Diện tích năng suất và sản lượng chè có sự biến đổi qua các năm
Băng 4.3: Kết quả sẵn xuất kín
(2009— 2011)
Năm Điện tích (ha) Năng Sản Sản Giá trị Tổng | Chè | Chè | Chè suất lượng lượng (jđồng) ign ¡kinh kiến hoang (GUha) ĐúpMơÏ chè khô đích doanh thiết ơi hóa (ấn) | (ấn)
2009| 1.232 | 980 | 145 | 107 | 89.90 | 8,963 | 1.9946
2010 | 1.120 | 886 | 135 | 99 | 88,79 | 8.745 | 1.986,1
2011 | 1.208 | 987 | 126 | 95 | 90 | 9.738 | 2.1786
th doanh chè của huyện qua 3 năm
Phòng Nông nghiệp và PTNT luyện Tân Lyên) địa bản huyện đã có sự thay đổi suất và sản lượng Tuy nhiên năm 2010 lại có sự suy
ắt và sản lượng Sở dĩ có sự thay đổi này
là do năm 2009 huyện Tân Uyên được tách ra từ huyện Than Uyên, để xây dựng các trụ sở, cơ quan và các công trình khác như đường giao thông, chợ, nhà ở cuối năm 2009 huyện đã phá bỏ hơn 100 ha chè chủ yếu là những cđiện tích chè cho năng suất cao và ôn định thuộc quản lí của Công ty Cổ phần trả Than Uyên Do đó, năm 2010 diện tích chè trên địa bàn huyện có sự suy giảm tir 1.232 ha năm 2009 xuống còn 1.120 ha, năng suất chè giảm từ 89.90 ta/ha xudng con 88,79 tạlha, sản lượng chẻ giảm tir 8.963 ~ 8.745 tấn chẻ búp, tuoi Sản lượng chè búp tươi năm 2010 thấp hơn năm 2009 là 218 tắn nhưng giá trì của chẻ năm 2010 vẫn cao hơn năm 2009 là 2,015 tỉ đồng do giá bán năm 2010 eao hơn năm 2009, Tuy nhiên đến năm 2011 do được quan tâm và chú trọng đầu tư ngành chè đã có sự cải thiện đáng kể, sản lượng chè búp tươi dat 9.738 tin tăng 11.36, giá trì ngành chè tăng 13,18% so với năm 2010, Diện tích chè được đầu tư có hiệu quả (năng suất trên 10 tắnha) chỉ chiếm khoảng 51% tổng diện tích, chủ yếu là chè của Công ty Cổ phần trà Than Uyên khoảng 561 ha Diện tích có năng suất từ 5 ~ 9 tấn ha khoảng 331
(eu
Từ năm 2009 ~ 2011 nginh ché
theo hướng tăng về nãi
Trang 2
ha Diện tích có năng suất dưới 5 tắnha là 95 ha — chẻ hoang hóa (hẳu hết diện tích này không được chủ trọng đầu tư dẫn đến chè kém phát triển, mật đội không đảm bảo) Phát triển chè chưa tương xứng với tiềm năng của huyện
‘Vige khai thác các tim năng để phát triển vùng nguyên liệu chè, tạo việc làm
và thu nhập ôn định cho nhân dân trong vùng, đồng thời đáp ứng nhu câu nguyên liệu cho chế biển chất lượng cao là hết sức cẳn thiết
Đo thích hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhường và có năng suất cao nên điện tích chè của huyện chủ yếu được trồng giống chè Shan tuyết (khoảng 1.100 ha) Ngoài ra còn một số diện tích chè khác như chè Thanh Tâm, chè Kim Tuyên, chè lẫn chè trung du
Hiện nay trên địa bản các xã được quy hoạch vùng chè của huyện có khoảng gẵn 100 ha chè mắt khoảng, hoang hoá Diện tích này có thể được cải tạo trồng tái canh bằng chè Shan Ngoài ra, qua khảo sát thực tẾ có khoảng,
130 ha đất trồng, đất nương có thể chuyển đổi trồng chè mới bằng các giống chè mới
Bảng 4.4: Tình hình sản xuất chè của huyện trong năm 2011
— Phânlaạï—— Khoa trấn Thuộc Đồng Khoa Ta | DT
1 |cheKinhdoanh | l34 575 33 - 102 | 48 | 95 | 987
II Chèkiếnhhiếtơ | 32) 12) bản 7 | 45 | 17 | 13 | 126 HHỊ Chèhoang hóa 3 [i] 2 |ai | o | ss | 95
Phan theo chủ quản lý
1 |chédoctquiniy| 0 | 5322| (chè kinh doanh) 0 | 22 | 0 |0 | 561
I |Ché do nhân dân l69 | 36 | 42 | 149 | 65 | 166 | 647
quản l ‘Che kinh doanh — | 134, 43 | 33 | 73 | 48 Chè kiến thiết cơ| 32 | 12 ie 45 17 126 26
bán
(Nguồn: Báo cáo tông kết ngành chè năm 2011 của huyện Tân Lyên)
Trang 3Thị trấn Tân Uyên là khu vực có diện tích chè lớn nhất, đây cũng là cđiện tích cho năng suất và sản lượng cao nhất, có 575 ha ché kinh doanh trong,
đó có 532 ha chè của Công ty Cổ phẩn trà Than Uyên Xã Phúc khoa là xã có tiêm năng phát tiễn cả về diện tích và năng suất, hiện tại xã có 134 ha chè kinh doanh đứng sau điện tích chè của thị trin nhưng hằu hết chè của xã là chè trồng mới (chủ yếu là chẻ từ 8 ~ 12 năm) có khả năng cho sản lượng và năng suất cao vào những năm tới, ngoài ra xã còn có nguồn nhân lực dôi dao, nhân dân có phong trio trong chè và có nhiễu cơ sở chế biến là điều kiện thuận lợi để nhân dân mở rông sản xuất
“Xã Trung Đồng và xã phúc khoa là bai xã có diện tích tương đối lớn nhưng cho năng suất và sản lượng thấp do hai xã này có diện tích chè hoang, hóa lớn, xã Trung Đông là 31 ha, xã Pắc Ta là 58 ha, đây là hai xã giáp nhau
có diện tích chè hoang hóa lớn như vậy là do tại xã Đắc ta có mỏ quặng những, năm gẫn đây người dân tập trung khai thác quặng không chú trọng đầu tư vào cây chẻ, mặt khác hậu quả của việc khai thác không hợp lí dẫn đến 6 nhiễm môi trường, xói mòn đất là nguyên nhân dẫn đến diện tích chè hoang hóa ở hai xã này
422 Tĩnh hình sản xuất chè thuộc vàng chè tập trung
'Vũng chè tập trung thuộc dự án vùng nguyên liệu tập trung, hiện nay đã
có trên 500 ha chè kinh doanh do Công ty Cổ phần Trà Than Uyên với tiên thân là Nông trường Quân đội được thành lập vào năm 1959 quản lý.Cây chè giúp người nông dân cải thiện đời sống, từng bước thoát nghèo, nhất là đổi với một huyện miễn núi như huyện Tân Uyên
“Công ty CP trà Than Uyén đóng trên địa bàn huyện được thành lập và đã phát triển gan 50 năm Vùng chè của Công ty được đầu tư chăm sóc theo quy trình kỹ thuật cho năng suất cao, chất lượng tối Sản phẩm chè của Công ty được
«quan lý chặt chế vẻ chất lượng, có thương hiệu uy tín lâu năm trên thị trường Diện tích chè thuộc Công ty Cổ phẩn trà Than Uyên là 561 ha, trong đó thị trắn Tân Uyên chiếm diện tích lớn 532 ha, còn lại 29 ha thuộc xã Trung Đồng Năng suất trung bình đạt khẳng 15 tắn'ba/năm, năng suất cao nhất đạt
222 tắn 'ha/năm nhưng chiếm tỉ lệ tắt ít, tuy nhiên năng suất chè của vũng chè thuộc Công ty Cổ phản tra Than Uyên có nguy cơ giảm trong những năm tới
Trang 4cdo cây chè đã bị già hóa (rên 30 năm) Để hạn chế được việc suy giảm năng, suất chè trong những năm tới, Công ty Cổ phần trả Than Uyên đã và dang có những biện pháp đầu tư chăm sóc cho chè theo định mức do Công ty quy định
và người dân phải thực hiện
Bang 4.5: Chỉ phí sản xuất cho 1 ha chè kinh doanh của Công ty Cổ phần
trà Than Uyên năm 2011
Số | Đơngiá | Thànhtiển TTỈ Nộidangcôngvệc | ĐVT lu Í (gng) | qiờng)
13 |Thuê máy dốn máy | 1 | 1500000, 1300000
2.1 (Thu hoạch hiện trong năm Kg | 6691 1.700|_11.374.700
(Nguôn: Phòng kế hoạch Công ty Có phân trà Than Uyên) Chí phí sản xuất cho 1 ha chè lớn nhưng người sản xuất được Công
ty đầu tư phân bón, thuốc BVTV sau đó sẽ trừ vào sản phẩm của những tháng ới
Trang 5
Bang 4.6: Thu nhập bình quân cho 1 lao động sẵn xuất trên 1 ha chè
Khốilượng | Đơn Thành tên
Khoi lượng đạt được 15.000
Lợi nhuận
‘Thu nhập tháng
(Nguồn: Phòng kế hoạch Công ty Có phân trà Than yên)
“Chỉ phí sản xuất cho 1 ha chè/năm tương đối lớn, tuy nhiên nhờ dat được năng suất và sàn lượng cao nên người lao động vẫn có thu nhập tường
đối ao so với các ngành sn xuất nông nghiệp kháe trên dia ban hu
42.3 Tình hình sản xuất chè thuộc vùng chè phân tán
“Tổng diện chè của người dân trên địa bàn huyện là 647 ha chủ yếu là giống chè Shan, có một số ít là giống chè Kim Tuyên nhưng là chè mới trồng,
tử năm 2007 đến nay khoảng gân 30 ha điện tích đã cho thu hoạch năng suất vẫn cồn thấp
Chè do người dân quản lý mặc dù diện tích lớn song sin lượng còn thấp chưa phát huy được hết hiệu quả, nguyên nhân do dẫu tư thâm canh chưa đáp ứng .được yêu cầu kỹ thuật, một số diện tích chè ở xã ắc Ta, Mường Khoa có nguy cơ
bị bỏ hoang hoá Việc quản lý vùng chè theo quy chế cỏn gặp những khó khăn, do người dân sin xuất nhỏ lẻ, ít được tập huấn về kỹ thuật sin xuất nên khó kiểm soát
về chất lượng chè
Để nghiên cứu thực trạng sản xuất chè của các hộ dân trên địa bàn huyện Tân Uyên, tôi đã tiền hành điều tra khảo sát 50 hộ trồng chè trên địa bản 3 xã, thị trấn có diện tích chè lớn nhất huyện bao gồm: thị trần Tân Uyên,
xã Phú Khoa và xã Trung Đồng
Trang 6
a
3.3.1 Đặc diễm chung của hộ trồng chè
~ Nguôn nhân lực của hộ
Bảng 4.7: Tình hình nhân lực cũa các hộ điều tra năm 2012
Kết quả tổng hợp cho thấy, độ tuổi bình quân của chủ hộ là 40.94 tuổi
ầu hết ở độ tuổi này các chủ hộ đã ồn định vẻ cơ sở vật chất, cỏ vốn sống và
số năm kinh nghiệm nhất định trong lĩnh vực trồng trọt Đây là một thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh chè của hộ Tuy nhiên trình độ học vấn của hộ còn thấp, số năm di hoe bình quân của chủ hộ là 8,02, chủ yếu là học cấp II không có người học cao đẳng, đại học Trình độ văn hóa có ảnh hưởng đến vige quyết định sản xuất, chịu trách nhiệm sản xuất và lựa chọn hình thức sản xuất trong mỗi gia đình Những chủ hộ được học tốt hơn, nhận thức cao hơn,
do vậy họ có khả năng tiệp cận những tiền bộ khoa học kỹ thuật mới tốt hơn cũng như khả năng quản lý va tim ra các phương án sản xuất có hiệu quả hơn 'Như vậy trình độ văn hóa sẽ ảnh hưởng ít nhiễu đến hiệu quả sản xuất chè của
mỗi hộ
Số nhân khẩu và lao động của hộ tương cân bằng, gắn như Ì người nuối một người, số lao động của hộ là 2,44 người, đây là nguồn lao động ổn định,
«dam bảo cho sản xuất chế
~ Cơ cầu đất nông nghiệp của hộ
Đất đai là một tư liệu sản xuất hết sức quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp đặc biệt là các hộ thuẫn nông, thu nhập của hộ dựa vào nông nghiệp là chính Tỉnh hình sử dụng đất đai của hộ được thể hiện qua bảng sau:
Trang 7a Bảng 4.8: Co cầu sử dụng đất của hộ năm 2011
| a đấu thầu | (ha) >
Ting nk wis ay | nay | age |
5 Diện tích đất lâm nghiệp 004 | 052 | 086 |3077
"Bảng trên cho thấy chề là cây trồng chính của hộ, bình quân mỗi hộ có 0,69 ha chè chiếm 37,91% trong tổng diện tích đất nông nghiệp của hộ, lúa là cây nông nghiệp truyễn thống nhưng chỉ chiếm 11.54 diện tích đất nông, nghiệp Thực tế cho thấy những hộ trồng chè thường chú trọng vào sản xuất chè, những điện tích đất lúa cho năng suất kém, đem lại hiệu quả kinh tế thấp
họ sẽ chuyển sang trông chè Hộ chủ yếu sử dụng đất của hộ để sản xuất
thuê mướn đất sản xuất, điểu đó chứng tỏ hộ chưa có khả năng và mạnh dạn
mở rộng sản xuất
n: tổng hợp từ
Trang 8
4
2 Tình hình sản xuất chè của hộ
“Chè là cây trồng chính của hộ đo đó chẻ có diện ích lớn nhất trong điện tích đất nông nghiệp của hộ và chè mang lại sản lượng và giá trị lớn nhất so với lúa và ngô là hai cây trồng truyền thống của ngành sản suất nông nghiệp,
cụ thể như sau:
Bảng 4.9: Diện tích, năng suất, sẵn lượng, giá bán một số loại cây trồng
của hộ
(ANguân: tẳng họp từ số iệu điều tra năm 2012)
Dựa vào bảng trên ta thấy hộ có diện tích trồng chè gắp 3.2 Kin diện tích trồng lia, gp 62 lan diện tích trồng ngô và giá trị sản xuất của cây chẻ gấp, gần 4 lần giá trị sản xuất của cây lúa và gấp hơn 11,2 lẫn cây ngô Điễu đó, chứng tỏ chề là cây trồng quan trọng, là nguồn thu nhập chính của hộ Do đó cây chè được chú trọng đâu tư phát triển,
Giống chè mà hộ trồng chủ yếu là chè Tuyết Shan, giống được mua từ: Céng ty Cé phan trà Than Uyên, hộ có thể mua hạt hoặc mua cây con từ vườn ươm của Công ty Người dân trồng chè dựa vào kinh nghiệm trồng trọt hoặc học tập lẫn nhau trong quá trình sản xuất Để đạt được kết quả sản xuất, kinh doanh hộ phải đầu tư cho sản xuất một lượng nhất định, đặc biệt là sản xuất chè đòi hỏi phải có kế hoạch và đầu tư liên tục
"Đi sâu vào nghiên cứu tình hình đầu tư cho sản xuất chè của hộ, kết quả thu được cho thấy chi phí sản xuất chè của hộ được thể hiện như sau
Trang 9Bing 4.10; Chi phi san xuật bình quân cho tha chè của hộ trong năm 2011
DVT: 10004
14 | Chi phi khde (van chuyển, dụng ou ) 1165
(Nguồn: tổng hợp từ số liệu điều tra năm 2012)
Trang 104
Nhin chung người dân đã có sự đầu tư cho sản xuất, tuy nhiên mức đầu
tự cho vật tư vẫn còn thấp là 9.618.000 đông 'ha/năm, chỉ phí chơ chăm sóc và thủ hoạch cao lên tới 13.374.000 đồng/ha/năm,
Phân bón và thuốc BVTV là yêu tổ quan trọng có tác động trực tiếp tới năng suất chè của hộ Bón phân là một trong những biện pháp chủ yếu làm ting chất dinh dưỡng cho đất, nếu đâu tư một lượng phân bón hợp lý trong, mỗi giai đoạn phát triển của cây chẻ, ngoài tác dụng bảo vệ đất nó còn làm cho cây chè sinh trưởng tốt, cho năng suất cao hơn Sử dụng thuốc BVTV có tác dùng phòng, trừ bệnh hại và duy trì năng suất, sản lượng của cây trồng
‘Tuy nhiên đo mye tiêu về lợi nhuận đã khiến cho các hộ sử dụng thuốc BVTV không đúng quy định cả vẻ số lượng và thời gian cho phép Điều nảy gây ảnh hưởng không tốt tới chất lượng chè thành phâm làm giảm uy tía, chất lượng chè, đồng thời tác động xấu tới môi trường sinh thái, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của chính người lao động
Đầu tư là khâu quan trong, quyết định trực tiếp kết quả sản xuất Để tính được hiệu quả kinh tế thì phải tính đẩy đủ chính xác mức đâu tư chỉ phí sho một điện tích chè cụ thể, Điều nảy đồi hỏi người làm chè phải biết tính toán xem xét để quyết định mức đâu tư thật hợp lý, với mức chỉ phí thấp nhất
có thể được Tránh lãng phí, đã tư không hiệu quả, song vấn dâm bảo năng, suất và sản lượng tối ưu Đây thực sự là một bài toán khó đổi với người sản xuất, yêu câu họ phải tính toán thật cụ thể, kỹ lưỡng thì mới có thể đạt hiệu quả cao nhất
(Qua khảo sắt, điều tra 50 hộ trồng chè thì không có hộ nào có máy chế biển chè, các hộ đều bản sản phim là chè búp tươi cho Công ty Cổ phản tra
“Than Uyên và các cơ sở chế biển trong địa ban huyệt
Tuy giá thu mua của Công ty chẻ thấp hơn so với giá thụ mua của các
sơ sở chế biến trên địa bàn huyện nhưng người dẫn vẫn đăng ký bán cho Công ty với sản lượng nhiều hơn Nguyên nhân là do Công ty Cổ phẩn trả
“Than Uyên ứng trước phân bón và thuốc BVTV cho người sản xuất, ngoài ra con có tiễn bù giá nếu Công ty bán được sản phẩm với giá cao hơn vào địp cuối năm và tiên thưởng cho những hộ có sản lượng lớn