Đảng và Nhà nước Việt Nam nhất quán chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện được chủ trương này đòi hỏi các cấp chính quyền phải có đội ngũ cán bộ công chức có trình độ chuyên môn, năng lực quản lý đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện mới. Đối với chính quyền cơ sở, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao trình độ, năng lực thực thi công việc của cán bộ công chức đáp ứng ngày càng cao yêu cầu công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị ở các địa phương, hoàn thành thắng lợi mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Xã, phường là đơn vị hành chính Nhà nước cấp cơ sở, hàng ngày tiếp xúc, giải quyết công việc trực tiếp với công dân; trực tiếp tiếp nhận, chấp hành và thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, công tác quản lý hành chính Nhà nước ở cơ sở có chất lượng hay không bắt đầu từ đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Cấp xã là cấp gần gũi nhân dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi” 29, tr.169. Vì vậy, để chính quyền cấp xã thực hiện và phát huy tốt vị trí và vai trò của mình trong thực tiễn, điều này phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ CBCC xã, phường như trong Nghị quyết Trung ương III (khóa VIII) đã từng khẳng định: “Cơ sở xã, phường, thị trấn mạnh hay yếu là một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn… Họ chính là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành”. Để có thể làm được những việc này, đội ngũ cán bộ công chức cấp xã cần có những hiểu biết nhất định về pháp luật và kỹ năng áp dụng pháp luật, kỹ năng xử lý và giải quyết tình huống mới có thể giải quyết được công việc và biến cố xảy ra trong thực tiễn quản lý hành chính cơ sở. Việc nâng cao chất lượng nguồn lực, nâng cao khả năng giải quyết công việc, trình độ chuyên môn và thái độ, hành vi, tác phong trong tiếp xúc, ứng xử của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đối với nhân dân là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa hết sức quan trọng cả trước mắt, cũng như lâu dài trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.Trong những năm qua, mặc dù việc xây dựng, nâng cao chất lượng cán bộ nói chung và cán bộ, công chức cấp xã, phường nói riêng trên địa bàn thị xã Hoàng Mai đã được quan tâm; số lượng và chất lượng cán bộ ở cấp xã có trình độ về các mặt nói chung đã có những chuyển biến tích cực, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ và xu thế phát triển của thị xã. Phần lớn cán bộ, công chức ở cấp xã, phường không được quy hoạch, đào tạo bài bản; việc bố trí, sử dụng còn nhiều bất cập. Đội ngũ cán bộ cấp xã làm việc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, phương pháp làm việc chưa khoa học; trình độ, phương pháp quản lý còn hạn chế điều đó đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương.Công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức của nước ta nói chung và của Thị xã Hoàng Mai nói riêng trong những năm qua, bên cạnh những kết quả đã đạt được đang còn có những hạn chế, thiếu sót cần phải tiếp tục nghiên cứu điều chỉnh bổ sung về đối tượng, chương trình, nội dung, chế độ chính sách, cơ sở vật chất kỹ thuật, giảng viên, cả về cơ cấu đào tạo ở trong nước và nước ngoài; giải quyết mối quan hệ giữa đào tạo, bồi dưỡng với sử dụng... Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã ở thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An làm luận văn thạc sĩ Kinh tế chính trị là xuất phát từ yêu cầu thực tế của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức (ĐT, BDCBCC) và mong muốn góp thêm ý kiến vào lĩnh vực công tác quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Đảng và Nhà nước Việt Nam nhất quán chủ trương phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa Để thực hiện được chủ trương này đòi hỏi cáccấp chính quyền phải có đội ngũ cán bộ công chức có trình độ chuyên môn, nănglực quản lý đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện mới
Đối với chính quyền cơ sở, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chứcđóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao trình độ, năng lực thực thi công việccủa cán bộ công chức đáp ứng ngày càng cao yêu cầu công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổchức thực hiện nhiệm vụ chính trị ở các địa phương, hoàn thành thắng lợi mục tiêucông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Xã, phường là đơn vị hành chính Nhà nước cấp cơ sở, hàng ngày tiếp xúc,giải quyết công việc trực tiếp với công dân; trực tiếp tiếp nhận, chấp hành và thựchiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Vì vậy, côngtác quản lý hành chính Nhà nước ở cơ sở có chất lượng hay không bắt đầu từ độingũ cán bộ, công chức cấp xã
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Cấp xã là cấp gần gũi nhân dân nhất, lànền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi” [29,tr.169] Vì vậy, để chính quyền cấp xã thực hiện và phát huy tốt vị trí và vai trò củamình trong thực tiễn, điều này phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ CBCC xã, phườngnhư trong Nghị quyết Trung ương III (khóa VIII) đã từng khẳng định: “Cơ sở xã,phường, thị trấn mạnh hay yếu là một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lượngđội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn… Họ chính là những người đem chính sách củaĐảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành” Để có thể làmđược những việc này, đội ngũ cán bộ công chức cấp xã cần có những hiểu biết nhấtđịnh về pháp luật và kỹ năng áp dụng pháp luật, kỹ năng xử lý và giải quyết tình
Trang 2huống mới có thể giải quyết được công việc và biến cố xảy ra trong thực tiễn quản
lý hành chính cơ sở Việc nâng cao chất lượng nguồn lực, nâng cao khả năng giảiquyết công việc, trình độ chuyên môn và thái độ, hành vi, tác phong trong tiếp xúc,ứng xử của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đối với nhân dân là nhiệm vụ thườngxuyên, có ý nghĩa hết sức quan trọng cả trước mắt, cũng như lâu dài trong điều kiệntoàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Trong những năm qua, mặc dù việc xây dựng, nâng cao chất lượng cán bộnói chung và cán bộ, công chức cấp xã, phường nói riêng trên địa bàn thị xã HoàngMai đã được quan tâm; số lượng và chất lượng cán bộ ở cấp xã có trình độ về cácmặt nói chung đã có những chuyển biến tích cực, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng yêucầu, nhiệm vụ và xu thế phát triển của thị xã Phần lớn cán bộ, công chức ở cấp xã,phường không được quy hoạch, đào tạo bài bản; việc bố trí, sử dụng còn nhiều bấtcập Đội ngũ cán bộ cấp xã làm việc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, phương pháplàm việc chưa khoa học; trình độ, phương pháp quản lý còn hạn chế điều đó đã ảnhhưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức của nước ta nói chung và củaThị xã Hoàng Mai nói riêng trong những năm qua, bên cạnh những kết quả đã đạtđược đang còn có những hạn chế, thiếu sót cần phải tiếp tục nghiên cứu điều chỉnh
bổ sung về đối tượng, chương trình, nội dung, chế độ chính sách, cơ sở vật chất kỹthuật, giảng viên, cả về cơ cấu đào tạo ở trong nước và nước ngoài; giải quyết mốiquan hệ giữa đào tạo, bồi dưỡng với sử dụng Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài:
“Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã ở thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An" làm luận
văn thạc sĩ Kinh tế chính trị là xuất phát từ yêu cầu thực tế của công tác đào tạo,bồi dưỡng cán bộ, công chức (ĐT, BDCBCC) và mong muốn góp thêm ý kiến vàolĩnh vực công tác quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trang 3Việc nghiên cứu, khảo sát về đội ngũ cán bộ, công chức; xây dựng đội ngũcán bộ, công chức và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức được nhiều nhà khoahọc, nhiều cán bộ quản lý quan tâm nghiên cứu, như:
Nguyễn Đức Vân (2003), Nâng cao chất lượng cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước có qui mô lớn Luận án tiến sỹ, Trường Đại học Kinh
tế quốc dân Luận văn của tác giả đề cập đến thực trạng của đội ngũ cán bộ quản lý,
từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện đội ngũ cán bộ quản lý trong thời kỳCNH, HĐH hiện nay
Phạm Thành Minh (2010), Nâng cao chất lượng cán bộ quản lý tại văn phòng Cục Đăng kiểm Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, trường Đại học Kinh tế quốc
dân Luận văn của tác giả đã phân tích, đánh giá đội ngũ công chức Việt Nam,phân tích những nguyên nhân dẫn tới những hạn chế về năng lực đội ngũ công chứcQuản lý Nhà nước (QLNN) và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực độingũ công chức QLNN, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ CNH, HĐH đất nước trong giaiđoạn hiện nay và trong những năm tới
Phạm Thị Thanh Nhàn (2012), “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh” Luận văn thạc sỹ khoa học chính trị, Học viện Chính trị Hành chính Quốc
gia Hồ Chí Minh Luận văn của tác giả đề cập đến thực trạng của đội ngũ cán bộlãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện đội ngũcán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở trong thời kỳ CNH, HĐH hiện nay
Tống Tuấn Long (2012), “Giải pháp nâng cao trình độ chuyên môn cho cán
bộ Tài chính cấp xã tại tỉnh Hà Tĩnh” Luận văn thạc sỹ kinh tế Đại học Nông
nghiệp Hà Nội Luận văn của tác giả đề cập đến chất lượng cán bộ Tài chính cấp cơ
sở, đưa ra những hạn chế hay gặp phải của đội ngũ cán bộ Tài chính hiện nay Từ
đó đề xuất những giải pháp để nâng cao trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu phát
Trang 4triển kinh tế xã hội thời kỳ mới.
Vũ Thị Diệp (2012), “Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh Hải Dương” Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh, Đại học
Nông nghiệp Hà Nội Luận văn của tác giả đề cập đến chất lượng đội ngũ cán bộ,công chức cấp xã của tỉnh Hải Dương, nêu được những thực trạng và nguyên nhândẫn đến sự yếu kém của đội ngũ Công chức về trình độ chuyên môn, nghiệp vụcũng như các kỹ năng xử lý công việc Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nângcao chất lượng đội ngũ Công chức cấp xã trong tình hình hiện nay
Lê Thị Lương (2015), Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã, phường ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An” Luận văn thạc sỹ, trường Đại học Vinh.
Tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phườngtrên địa bàn thành phố Vinh, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ,công chức xã, phường
Nhưng nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã
ở thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An thì chưa có công trình nào nghiên cứu trùng với
Trang 5- Đề xuất mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả đàotạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã ở thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã ở thị
xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Chủ yếu ở phạm vi thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An, có thamkhảo kinh nghiệm của một số địa phương khác
- Thời gian: Từ năm 2013 đến 2015
- Nội dung: Luận văn sẽ tập trung vào các nội dung đánh giá thực trạng côngtác đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, trình độ lãnh đạo, quản lý của cán bộ cơ sở
và đề ra các giải pháp về công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng cán bộcấp xã trên địa bàn thị xã Hoàng Mai
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận.
Luận văn dựa trên lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,các quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,công chức cấp cơ sở
5.2 Phương pháp nghiên cứu.
Để làm rõ nội dung trong đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh đối chiếu
- Phương pháp điều tra, khảo sát
* Nguồn số liệu:
- Số liệu thứ cấp: Lấy số liệu từ các báo cáo tổng kết, đề án, các bài
Trang 6báo, tạp chí, thống kê của các cơ quan Đảng và cơ quan quản lý nhà nước ởtrong nước, trong tỉnh Nghệ An, ở thị xã Hoàng Mai và một số địa phương khác.
- Số liệu sơ cấp: Từ kết quả điều tra khảo sát của tác giả
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ cấp xã trong nền kinh tế thị trường ở nước ta
Đánh giá đúng thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã ở thị xãHoàng Mai, tỉnh Nghệ An thời gian qua
Đề xuất mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đào tạo,bồi dưỡng cán bộ cấp xã ở thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An trong thời gian tới
Kết quả của luận văn được dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác đào tạo,bồi dưỡng, quản lý, sử dụng, bố trí cán bộ cấp xã ở thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An
và cho việc nghiên cứu, giảng dạy tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị Thị xã
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luậnvăn gồm 3 chương như sau:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
cấp xã
- Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã ở thị xã
Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ cấp xã, ở thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An, trong giai đoạn hiện nay
Trang 7B NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÀO TẠO,
BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CẤP XÃ 1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Cán bộ cấp xã
“Cán bộ” theo giải thích trong Từ điển Tiếng Việt là người làm công tácnghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước [22, tr.105] Theo cách giải thíchnày, người đọc có thể cho rằng cán bộ là “ người của nhà nước” và làm những côngviệc cho Nhà nước Còn những người làm trong các tổ chức khác thì không đượccoi là cán bộ
Theo điều 1 (Pháp lệnh Cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003): Cán bộ, công
chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế, bao gồm:Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhànước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; ở tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) Những người được tuyển dụng,
bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện Những người đượctuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thườngxuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện Những ngườiđược tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụthường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chứcchính trị - xã hội Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳtrong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, Phó bí thư Đảng
Trang 8uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã).
Theo khoản 1, Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức Việt Nam (2008) quy định:Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chứcdanh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, nhà nước, tổ chứcchính trị - xã hội ở trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương( gọi chung làcấp tỉnh); ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh ( gọi chung là cấp huyện),trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Khoản 3, điều 4, Luật cán bộ công chức năm 2008 nêu rõ: Cán bộ xã,
phường, thị trấn là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ choThường trực Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy,người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội
Điều 3, Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009, quy định cán bộ cấp
xã có các chức vụ: Bí thư và Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch và Phó chủ tịch HĐND;Chủ tịch và Phó chủ tịch UBND; Chủ tịch MTTQ; Bí thư Đoàn thanh niên Cộngsản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt nam; Chủ tịch Hội cựu chiếnbinh, Chủ tịch Hội nông dân
1.1.2 Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã
Đào tạo, bồi dưỡng là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý pháttriển nguồn nhân lực của các cơ quan, tổ chức nhà nước nhằm mục tiêu xây dựng
và phát triển đội ngũ CBCC thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ, trung thành vớiNhà nước và tận tuỵ với công việc phục vụ nhân dân Quá trình ĐTBD bao giờcũng phải tiến hành trên cơ sở xác định nhu cầu ĐTBD của từng cơ quan, đơn vị,từng vị trí công việc, đồng thời, phải dựa trên sự phân tích những “khoảng trống”
về năng lực thực hiện công việc của đội ngũ CBCC
Trang 9Đào tạo, theo định nghĩa chung nhất là quá trình tác động đến con người, làmcho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, một cách có
hệ thống để họ có thể thích nghi với và khả năng nhận một sự phân công lao độngnhất định, đóng góp phần công sức của mình vào sự phát triển xã hội nói chung Đó
là quá trình làm cho người ta trở thành có năng lực theo những tiêu chuẩn, đòi hỏinhất định, là quá trình trang bị những kiến thức, kỹ năng mới Thời gian đào tạotương đối dài (từ 1 năm học trở lên) và có bằng cấp, chứng chỉ
Bồi dưỡng là quá trình tác động đến con người làm cho người đó “tăng thêmnăng lực hoặc phẩm chất”, là quá trình nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức,
kỹ năng nghề nghiệp một cách thường xuyên, là tăng cường năng lực nói chungtrên cơ sở kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo Bồi dưỡng đảm đương nhiệm vụ cậpnhật, trang bị thêm những kiến thức, kỹ năng, thái độ cho công chức để họ thựchiện tốt hơn, hiệu quả hơn nhiệm vụ được giao
Như vậy, đào tạo được xem như là một quá trình làm cho người ta “trở thànhngười có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”, và bồi dưỡng được xác định làquá trình làm cho người ta “tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất” Việc tách bạchkhái niệm đào tạo và bồi dưỡng riêng rẽ chỉ để tiện cho việc phân tích điểm giống
và khác nhau giữa đào tạo và bồi dưỡng Một định nghĩa chung cho đào tạo, bồidưỡng cán bộ có thể được hiểu như là quá trình làm biến đổi hành vi con người mộtcách có hệ thống thông qua việc học tập, việc học tập này có được là kết quả củagiáo dục, hướng dẫn, phát triển, và lĩnh hội kinh nghiệm theo một cách bài bản, có
kế hoạch Như vậy, đào tạo, bồi dưỡng chính là việc tổ chức những cơ hội cho cán
bộ học tập, rèn luyện nhằm giúp đối tượng đạt được mục tiêu của mình bằng việctăng cường năng lực, làm gia tăng giá trị của nguồn lực cơ bản quan trọng nhất làcon người, là CBCC làm việc trong tổ chức
Trang 10Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là quá trình tổ chức những cơ hội học tập cho họnhằm trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc để họ thựchiện công việc được giao tốt hơn, hiệu quả hơn
Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có thể hiểu là kết quả đầu ra của quátrình ĐTBD và được thể hiện cụ thể ở kiến thức, kỹ năng, thái độ (phẩm chất, giátrị nhân cách, trách nhiệm với công vụ) hay năng lực của cán bộ sau khi tốt nghiệpkhóa học tương ứng với mục tiêu, chương trình của từng khóa ĐTBD Quan niệm
về chất lượng ĐTBD cán bộ không chỉ dừng ở kết quả quá trình đào bồi dưỡng màcòn phải tính đến mức độ phù hợp và thích ứng của học viên đã hoàn thành khóahọc với năng lực thực thi công vụ tại các vị trí làm việc cụ thể ở các cơ quan hànhchính nhà nước và khả năng phát triển của bản thân Tuy nhiên, cần nhấn mạnhrằng chất lượng ĐTBD trước hết phải là của quá trình đào tạo và được thể hiệntrong hoạt động công vụ của người đã học xong chương trình của khóa đào tạo.Quá trình thích ứng với môi trường làm việc, vị trí làm việc không chỉ phụ thuộcvào chất lượng đào tạo mà còn phụ thuộc vào yếu tố khác như chế độ , chính sách,quản lý, sử dụng và bố trí công việc của nhà nước và đơn vị, thủ trưởng cơ quan sửdụng công chức
1.2 Vai trò của công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với việc nâng cao chất lượng cán bộ cấp xã
1.2.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
1.2.1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Vận dụng quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, Chủ tịch Hồ ChíMinh đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nước.Người coi cán bộ như là “cái gốc” của mọi công việc, là cái “dây chuyền” của bộmáy; nếu dây chuyền không tốt, không chạy, thì động cơ dù tốt, dù chạy thì toàn bộ
Trang 11máy cũng bị tê liệt Người chủ trương phát triển đội ngũ cán bộ, công chức hànhchính nhà nước thông qua quy chế tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện,quản lý sử dụng có hệ thống, bài bản, toàn diện và chuyên sâu Đào tạo bồi dưỡngcán bộ là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt của công tác cán bộ, là yêu cầu kháchquan trong xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Xây dựngđội ngũ cán bộ có số lượng hợp lý, cơ cấu đồng bộ, chất lượng cao kết hợp với đàotạo, bồi dưỡng, tự đào tạo bồi dưỡng là yếu tố quan trọng trong công tác cán bộ.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Người lãnh đạo muốn biết mình,tốt nhất là phải có thái độ và cách làm việc thật sự dân chủ, để mọi người xungquanh mạnh dạn, thẳng thắn nói những ưu, khuyết điểm của mình Người lãnh đạothật sự dân chủ, ý kiến của cán bộ được thật sự tôn trọng, thì khối đoàn kết nội bộđược củng cố, những sáng kiến được nảy nở, công việc nhất định sẽ được hoànthành tốt đẹp Người nói: “Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ vớinhau Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến Những sángkiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái và người kháccũng học theo Càng dân chủ thì càng có nhiều sáng kiến Sáng kiến chỉ ra đời khingười đó tâm huyết, hăng hái làm việc trong một môi trường dân chủ” [5, tr.23]
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì muốn có cán bộ tốt thì Đảng phải làm tốtcông tác huấn luyện cán bộ, “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” [5,tr.506]
Theo Người, huấn luyện cán bộ phải toàn diện, đồng thời phải chuyên sâu và
có phương pháp khoa học Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã rất coi trọngcông tác cán bộ và nhất là việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo nội dung tư tưởngcủa Chủ tịch Hồ Chí Minh
Về phẩm chất đạo đức, tư cách cán bộ
Trang 12Sinh thời, Người từng nói đạo đức cách mạng là gốc của người cán bộ Cán
bộ phải suốt đời phấn đấu hi sinh cho lý tưởng của Đảng, phải đặt quyền lợi củaĐảng, của Tổ quốc lên trên hết và trước hết Người nói: Đảng không phải là một tổchức “làm quan phát tài” Cán bộ cách mạng không phải là “làm quan cách mạng”,
“không phải để thăng quan tiến chức” Không phải làm cán bộ để “đè đầu cưỡi cổdân chúng như thời thực dân, phong kiến” Người cán bộ phải tận tụy với sự nghiệpcách mạng, phải trung thành với Đảng, với Tổ quốc, phải hết lòng hết sức phục vụcách mạng, phục vụ nhân dân Việc gì có lợi cho dân dù nhỏ cũng gắng sức làm,việc gì có hại cho dân, dù nhỏ cũng hết sức tránh Người cán bộ phải có một đời tưtrong sáng, phải là tấm gương sáng trong cuộc sống
Trong cuốn “Đường cách mệnh”, Người chỉ rõ “tư cách một người cáchmệnh” là: Tự mình phải: “Cần kiệm Hòa mà không tư Cả quyết sửa chữa lỗimình Cẩn thận mà không nhút nhát Hay hỏi Nhẫn nại Hay nghiên cứu xem xét
Vị công vô tư Không hiếu danh, không kiêu ngạo Nói thì phải làm Giữ chủ nghĩacho vững Hy sinh Ít lòng ham muốn về vật chất Bí mật” [2, tr.260]
Về năng lực chuyên môn
Cán bộ phải có năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương,chính sách của Đảng, Nhà nước và đoàn thể nhân dân Cán bộ đảng viên phải luônluôn học tập để không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt Đặc biệt, nâng cao lýluận, nâng cao khả năng tổng kết thực tiễn, phải mổ xẻ, xem xét, so sánh thật kỹcàng thực tế nước ta với nước khác Kinh nghiệm cho thấy rằng, không có đượckhả năng tổng kết kinh nghiệm, tổng kết thực tiễn thì không thể có lý luận chânchính Việc nâng cao trình độ lý luận phụ thuộc vào trình độ tổng kết thực tiễn.Muốn nâng cao trình độ lý luận thì phải học chủ nghĩa Mác - Lênin, bởi vì phântích và tổng kết thực tiễn cũng phải dựa trên phương pháp biện chứng duy vật vàchủ nghĩa Mác - Lênin Phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin; học tập
Trang 13lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng lậptrường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết tốt những vấn đề thực tế trongcông tác cách mạng của chúng ta.
Về phương pháp, cách thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện cán bộ là rất quantrọng, thậm chí là “công việc gốc của Đảng”, phải được tiến hành thường xuyên.Phải xác định rõ mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ với các yếu tố cơ bản: họcthức, đạo đức cách mạng, tác phong và năng lực công tác (như các yêu cầu đối vớicán bộ nêu trên) Nhưng tùy từng giai đoạn cách mạng, tùy vào tình hình cụ thể màNgười đặt ra mục đích, nhiệm vụ để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
Người nhấn mạnh: Học để hành, nghĩa là để làm việc chứ không phải là để
có bằng cấp, để cho oai và để có chức này chức nọ Việc giảng dạy, học tập, đàotạo, huấn luyện phải gắn liền với nghiên cứu công việc thực tế, kinh nghiệm thực
tế, “kinh nghiệm và thực tế phải đi cùng nhau”, “lý luận cùng thực hành phải luônluôn đi liền với nhau” Người cho rằng: cán bộ đảng viên phải học tập lý luận Mác
- Lênin, học tập đường lối, chính sách của Đảng, đồng thời phải học văn hóa, kỹthuật nghiệp vụ, “làm việc gì học việc đấy”, tức là cán bộ làm ở lĩnh vực gì, phụtrách ở ngành nghề gì đều phải học cho thành thạo công việc ở lĩnh vực đó
1.2.1.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách, pháp luật của nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước là một vấn đề quan trọngtrong sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước, là một yêu cầu cấp thiết đối vớicông cuộc cải cách hành chính nhà nước nhằm xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhànước Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII đãxác định: “Xây dựng đội ngũ CBCC có phẩm chất và năng lực là yếu tố quyết địnhchất lượng của bộ máy nhà nước” Đối với công tác ĐTBD, Nghị quyết đã xác định
Trang 14rõ: CBCC nhà nước “cần phải được ĐTBD kiến thức toàn diện, trước hết về đườnglối chính trị, về quản lý nhà nước, quản lý kinh tế-xã hội”
Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của công tác ĐTBDcán bộ trong việc thực hiện Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH Báocáo Chính trị của Đại hội xác định: “Xây dựng và thực hiện nghiêm các cơ chế,chính sách phát hiện, tuyển chọn, ĐTBD cán bộ; trọng dụng những người có đức,
có tài Nâng cao chất lượng công tác ĐTBD cán bộ, khắc phục tình trạng chạy theobằng cấp.”[tr 14]
Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, ngày 12/8/2011, Thủ tướng Chính phủ đãban hành Quyết định số 1374/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch ĐTBD CBCC giai đoạn2011-2015 với mục tiêu xây dựng đội ngũ CBCC chuyên nghiệp, vững vàng vềchính trị, tinh thông nghiệp vụ có đủ năng lực xây dựng hệ thống chính trị, nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tiên tiến, hiện đại
Nghị quyết Đại hội XII của Đảng cũng đã xác định mục tiêu xây dựng độingũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực và phẩm chất, ngangtầm nhiệm vụ Trong đó, đặt ra yêu cầu kịp thời phát hiện các nhân tố mới, có triểnvọng, bồi dưỡng và đào tạo hợp lý, không để lãng phí cán bộ, không để chảy máuchất xám, sao cho ngày càng có nhiều cán bộ chiến lược tốt, cán bộ chiến lược giỏi,trung thực, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có bản lĩnh sáng tạo, đổimới, bứt phá để phát triển Cải cách căn bản chính sách tiền lương, bảo đảm đãingộ xứng đáng với cống hiến của mỗi người, tạo cơ hội, môi trường, điều kiện chocán bộ phát triển
1.2.2 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII vềchiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã xác
Trang 15định: cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vậnmệnh của Đảng, của đất nước và là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng
Văn kiện Đại hội XI của Đảng xác định “Phát triển nhanh nguồn nhân lực,nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàndiện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với pháttriển và ứng dụng khoa học, công nghệ” [tr.14]
Đại hội xác định phát triển nguồn nhân lực là một trong ba khâu đột pháchiến lược trong sự phát triển đất nước trong giai đoạn hội nhập quốc tế Đội ngũCBCC là lực lượng tinh túy của nguồn nhân lực quốc gia Trình độ, năng lực, phẩmchất của đội ngũ này có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển nhanh hay chậm,bền vững hay không bền vững của đất nước Như vậy, Đảng và Nhà nước đặt côngtác ĐTBD CBCC vào vị trí có tầm quan trọng và có ý nghĩa quyết định trong sựthành công của sự nghiệp đổi mới, của công cuộc cải cách hành chính nhà nước.Mục tiêu của ĐTBD CBCC là nhằm tăng cường, củng cố kiến thức và năng lựccông tác cho đội ngũ CBCC có đủ trình độ, phẩm chất để thực hiện nghĩa vụ và bổnphận của CBCC Chú trọng đến yếu tố con người, đầu tư vào giáo dục - đào tạo cóvai trò quan trọng, là con đường dẫn đến thành công đối với sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước Con người là yếu tố cách mạng nhất, năng động vàquyết định nhất trong lực lượng sản xuất Con người không phải là con người trừutượng, mà phải là con người có tri thức khoa học, có kinh nghiệm sản xuất và kỹnăng lao động Con người như thế không thể tự nhiên sinh ra, mà phải qua quátrình ĐTBD, rèn luyện lâu dài mới có được
Công tác đào tạo – bồi dưỡng CBCC là một vấn đề quan trọng của công táccán bộ Vấn đề này đã, đang và sẽ tiếp tục được Đảng, Nhà nước quan tâm, nhất làkhi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO, vị thế của Việt Namtrên trường quốc tế ngày càng được nâng cao thì nó càng trở nên cần thiết
Trang 16Như vậy, công tác xây dựng một đội ngũ CBCC năng động, nhạy bén, linhhoạt, có khả năng thích nghi với môi trường làm việc trong thời kỳ CNH, HĐH,khả năng giải quyết công việc hiệu quả, nhanh gọn, là yếu tố quan trọng, góp phầnthúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của Thị xã Hoàng Mai.
1.3 Nội dung, hình thức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã và các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã
1.3.1 Nội dung đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã
1.3.1.1 Đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị
Đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị nhằm thường xuyên xây dựng đội
ngũ CBCC có lập trường chính trị vững vàng, thái độ chính trị đúng đắn, phẩmchất tư tưởng tốt Nội dung đào tạo bồi đưỡng lý luận chính trị bao gồm:
+ Trang bị các kiến thức về lý luận chính trị theo tiêu chuẩn quy định chocác chức danh cán bộ, ngạch công chức và chức danh lãnh đạo quản lý
+ Tổ chức phổ biến các văn kiện, nghị quyết của Đảng; bồi dưỡng cập nhật,nâng cao trình độ lý luận theo quy định của cơ quan có thẩm quyền
Đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên là nhiệm vụ quantrọng của Đảng trong mọi giai đoạn cách mạng Thông qua đào tạo, bồi dưỡng nângcao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên, góp phần khắc phục suy thoái
về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; nâng cao ý thức tự giác tu dưỡng đạo đứccách mạng, khắc phục chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, gópphần xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo là những người kiên định lập trường tưtưởng chính trị, có năng lực tổ chức, tập hợp, động viên, giáo dục, thuyết phục quầnchúng, có năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện tốt các chủ trương
về công tác cán bộ Trên thực tế, cán bộ, đảng viên sau khi được bồi dưỡng lý luậnchính trị khi trở về với vị trí công tác của mình đã nâng cao nhận thức, quan điểmlập trường, nhất là việc vận dụng có hiệu quả kiến thức đã học vào thực tiễn công
Trang 17tác Biết phân tích, đánh giá tình hình một cách đúng đắn, sát thực, vận dụng và cụthể hóa đối với công việc đảm nhận Từ đó tạo nên sự chuyển biến trong lãnh đạo,chỉ đạo cũng như tuyên truyền, giáo dục, vận động và tổ chức thực hiện nhiệm vụ ở
cơ sở một cách hợp lý, hiệu quả, góp phần thúc đẩy kinh tế, xã hội; xây dựng hệthống chính trị của Đảng ngày càng vững mạnh
1.3.1.2 Đào tạo, bồi dưỡng về quản lý nhà nước
Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về hành chính nhà nước và quản lý nhà nước(QLNN) trong nền kinh tế thị trường nhằm xây dựng đội ngũ công chức vữngmạnh, tăng cường khả năng thích ứng của công chức trước yêu cầu của nhiệm vụmới, trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản về kinh tế thị trường và vai trò củaNhà nước trong cơ chế mới Nội dung đào tạo bồi dưỡng kiến thức, kỹ năngQLNN bao gồm:
+ Trang bị kiến thức, kỹ năng QLNN theo chương trình quy định cho côngchức các ngạch và theo chức vụ lãnh đạo, quản lý;
+ Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng QLNN chuyên ngành và tương ứng với các
vị trí làm việc theo chế độ bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu hàng năm;
+ Bồi dưỡng văn hóa công sở;
Chương tŕnh đào tạo, bồi dưỡng gồm: bồi dưỡng cập nhật kiến thức mới;bồi dưỡng các kiến thức và kỹ năng cho cán sự, chuyên viên, chuyên viên chính,chuyên viên cao cấp; đào tạo trung cấp, đại học, sau đại học
Cán bộ cấp xã có vai trò rất quan trọng trong việc hoạch định, triển khai và
tổ chức thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước; quyết định sự thành công haythất bại của đường lối, chính sách do cơ quan, tổ chức vạch ra Đội ngũ cán bộ trựctiếp triển khai, tổ chức thực hiện các chính sách, kế hoạch của cơ quan, tổ chức; cácmục tiêu quốc gia; thực hiện các giao tiếp (trao đổi, tiếp nhận thông tin, ) giữa các
cơ quan nhà nước với nhau và với doanh nghiệp và người dân Vì vậy, đội ngũ cán
Trang 18bộ, công chức phải được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng về năng lực công tác, kỹnăng nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm và ý thức phục vụ nhân dân Đổi mới, nângcao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức làmột nhiệm vụ quan trọng được xác định trong Chương trình tổng thể cải cách hànhchính nhà nước giai đoạn 2011-2020 Đào tạo, bồi dưỡng nhằm xây dựng được độingũ cán bộ, công chức thực sự có năng lực, biết giải quyết các vấn đề được giaotrên nguyên tắc kết quả, hiệu quả và chất lượng.
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩaquan trọng, góp phần tích cực trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, năng lựccông tác, chất lượng và hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức, viên chức; hướngtới mục tiêu là tạo được sự thay đổi về chất trong thực thi nhiệm vụ chuyên môn.Đào tạo, bồi dưỡng tập trung trang bị những kiến thức, kỹ năng, thái độ thực hiệncông việc cho cán bộ, công chức, viên chức; trong đó, cung cấp những kiến thức, lýluận cơ bản, trang bị kỹ năng, cách thức hoạt động thực thi công việc, giáo dục thái
độ thực hiện công việc thể hiện sự nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm của người cán
Trang 19Hiện nay, CBCC cấp xã khi trước khi được bầu bổ nhiệm vào ngạch hoặcchức danh nào đó, họ đã được đào tạo ở một trình độ nhất định Vì vậy, cần nắmchắc trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ đã được đào tạo để lựa chọnđối tượng đi đào tạo, bồi dưỡng phù hợp.
1.3.1.4 Đào tạo, bồi dưỡng về ngoại ngữ, tin học, hội nhập kinh tế quốc tế
và các kiến thức bổ trợ khác
Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước nói chung, của hệ thống hành chínhnói riêng được quyết định bởi phẩm chất năng lực và kết quả công tác của đội ngũCB,CC nhà nước Đối với cán bộ, công chức cơ sở, phẩm chất của đội ngũ CB,CCnói chung, và đối với đội ngũ cán bộ nói riêng, ngoài khả năng và tinh thần tự họctập, lại phụ thuộc rất nhiều vào công tác ĐT,BD thường xuyên kiến thức và kỹnăng thực hành cho họ Trong điều kiện đội ngũ CB,CC nhà nước ở nước ta hiệnnay đa số đã được đào tạo trong thời kỳ của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp,chưa được chuẩn hoá theo tiêu chuẩn chức danh, chưa đáp ứng được đầy đủ yêucầu nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xâydựng nền kinh tế thị trường, mở cửa để hội nhập với khu vực và quốc tế, đặc biệt
là trong điều kiện khoa học công nghệ và thông tin phát triển như vũ bão, thâmnhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, việc ứng dụng những thành tựukhoa học công nghệ tin học vào hiện đại hoá nền hành chính, công tác ĐT,BDCB,CC trở nên cần thiết hơn bao giờ hết Để thực hiện có hiệu quả mục tiêu hộinhập, cán bộ, công chức cần được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ khả nănggiao tiếp về ngoại ngữ và thành thạo về tin học để đáp ứng yêu cầu cải cách hànhchính và xu thế phát triển, hội nhập của thị xã
Xác định mục tiêu đào tạo là việc xác định các kết quả cần đạt được củachương trình đào tạo Các mục tiêu phải nêu một cách rõ ràng và chính xác Điều
Trang 20này có nghĩa là mục tiêu chung của một chương trình đào tạo phải nêu được cả kếtquả thực hiện công việc và các tiêu chuẩn thực hiện.
Mục tiêu đào tạo của CBCC cấp xã là góp phần xây dựng đội ngũ CBCCcấp xã chuyên nghiệp, vững vàng về chính trị, tinh thông nghiệp vụ có đủ nănglực xây dựng hệ thống chính trị, nhà nước pháp quyền XHCN tiên tiến, hiện đại
1.3.2 Hình thức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã
1.3.2.1 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã tại các cơ sở đào tạo trong nước và nước ngoài
Ngày nay, cùng với xu thế hội nhập và hợp tác quốc tế được mở rộng trênnhiều lĩnh vực, việc kết hợp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã tại các cơ sởđào tạo trong nước và nước ngoài cần phải được nghiên cứu, triển khai, đánh giámột cách nghiêm túc, rút kinh nghiệm để thực hiện có hiệu quả
Việc hợp tác đào tạo cán bộ công chức nói chung và các bộ cấp xã nói riêng
là vấn đề có tầm quan trọng chiến lược, với nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp không
ít khó khăn; nhất là khó khăn về ngôn ngữ (tiếng Anh) và cao hơn là sự không đồngnhất về chính trị, ý thức hệ Để triển khai có hiệu quả nội dung này, Đảng và Nhànước ta cần xây dựng một chiến lược hợp tác đào tạo phù hợp với mục tiêu, yêucầu, nhiệm vụ phát triển đất nước trong thời kỳ mới, đảm bảo quy mô ngành nghề,lĩnh vực đào tạo với từng nước Đồng thời, tăng cường đầu tư kinh phí đào tạo,khắc phục rào cản về ngôn ngữ, đặc biệt là tiếng Anh cho đội ngũ cán bộ, côngchức; trong đó, chú trọng tập trung bồi dưỡng tạo nguồn dài hạn thông qua quyhoạch vào lực lượng mũi nhọn là cán bộ trẻ Kết hợp bồi dưỡng ngoại ngữ với bồidưỡng về trình độ lý luận chính trị, cũng như hiểu biết về truyền thống văn hóa,phong tục, tập quán các nước mà cán bộ ta đến học
Ngoài ra, cần tăng cường công tác giáo dục tư tưởng cho đội ngũ cán bộđược cử đi học về ý thức, trách nhiệm trong việc học tập, nâng cao trình độ về mọi
Trang 21mặt; xác định học tập ở nước ngoài là một nhiệm vụ nặng nề nhưng vinh dự, vìđược Đảng, Nhà nước tin cậy giao cho Từ đó xây dựng động cơ học tập đúng đắn,tập trung tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật, cách thức quản lý của nước bạn để vềứng dụng trong thực tế Đồng thời, đánh giá khách quan kết quả, chất lượng học tậpcủa cán bộ ở nước ngoài để có hướng sử dụng đúng với thực chất trình độ, năng lực
và kết quả đào tạo Căn cứ vào từng ngành, nghề đào tạo để bố trí, sắp xếp cán bộhợp lý sau khi kết thúc khóa học Có thể nói, việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ởtrong nước và ở nước ngoài là bộ phận không thể thiếu của công tác đào tạo cán bộ,nhất là trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay
1.3.2.2 Đào tạo, bồi dưỡng trong thực tiễn
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong thời gian qua vẫn còn có nhữnghạn chế cần được quan tâm như việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở một số nơi chưađồng bộ giữa số lượng, chất lượng và cơ cấu chưa sát với quy hoạch, chưa gắn vớinhu cầu sử dụng cán bộ của cơ quan, đơn vị; trong đào tạo còn nặng nề về lýthuyết, kiến thức thực tiễn chưa nhiều, nhất là kiến thức quản lý chuyên ngành, lĩnhvực, các kỹ năng lãnh đạo, quản lý, kỹ năng hành chính, thái độ ứng xử, làm việc Trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành của một bộ phận cán bộ, nhất là cơ
sở vẫn còn gặp khó khăn, hạn chế, nhất là năng lực triển khai thực hiện nhiệm vụ
cụ thể; khả năng tập hợp, vận động quần chúng chưa đáp ứng được yêu cầu; kỹnăng thực hành, xử lý tình huống ở một số đồng chí còn yếu…
Vì vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã cần quan tâm gắngiữa đào tạo lý luận và nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, quan tâm cải tiến nội dungchương trình giảng dạy theo hướng thiết thực hơn, trong đó chú trọng bám sát yêucầu của thực tiễn đặt ra để trang bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết với phươngchâm “học đi đôi với hành” phát huy năng lực tư duy, vận dụng sáng tạo nhữngkiến thức lý luận để giải quyết các vấn đề của thực tiễn đời sống đặt ra
Trang 22Đẩy mạnh công tác luân chuyển cán bộ, đưa cán bộ, nhất là cán bộ trẻ đi thực
tế ở cơ sở, địa phương để bồi dưỡng, rèn luyện Đây là cách làm đem lại hiệu quảcao, là phương pháp hữu hiệu để giáo dục, rèn luyện cán bộ Thực tế thời gian qua,Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm đến công tác luân chuyển, đưa cán bộ, đảngviên đi thực tế tại địa phương, cơ sở, từ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cấp trung ươngđến cán bộ ở các địa phương Nhiều cán bộ ở Trung ương được luân chuyển về địaphương và ngược lại, nhiều cán bộ địa phương được luân chuyển lên Trung ương.Nhiều ban, bộ, ngành, các tỉnh, thành ủy cho đến cấp huyện đều thực hiện chủtrương luân chuyển, đưa cán bộ đi thực tế cơ sở Mặc dù quá trình luân chuyển cán
bộ, đưa đi thực tế tại cơ sở còn có nhiều ý kiến khác nhau và không phải ai, cán bộnào đi luân chuyển, thực tế cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ Tuy nhiên, cái được vẫnnhiều hơn Trong quá trình luân chuyển, cán bộ được trải nghiệm, rèn luyện thực tế
Từ quá trình này, chúng ta đã phát hiện, đào tạo được nhiều cán bộ tốt cho Đảng
Do vậy, trong thời gian tới, để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảngviên, gắn lý thuyết với thực tế, cần đẩy mạnh thực hiện chủ trương luân chuyển,đưa cán bộ đi thực tế, làm việc tại cơ sở, địa phương
Ngoài ra, việc đào tạo, bồi dưỡng phải dựa trên cơ sở quy hoạch, phải xácđịnh rõ nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của từng bộ phận, từng chức danh để tiến hànhcác loại hình đào tạo, bồi dưỡng phù hợp Tăng cường các loại hình bồi dưỡng, cậpnhật kiến thức, kĩ năng cho từng chức danh, từng loại hình cán bộ định kỳ hàngnăm Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức đào tạo, bồi dưỡngcho đội ngũ cán bộ, công chức; chú ý bồi dưỡng kiến thức kỹ năng nghiệp vụ vàkinh nghiệm giải quyết tình huống cụ thể Đổi mới phương pháp, hình thức tổ chứcđào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạocủa học viên; tăng cường các hoạt động hội thảo, trao đổi kinh nghiệm, chọn môhình nghiên cứu, tổng kết thực tiễn ở cơ sở
Trang 231.3.2.3 Tự đào tạo để nâng cao trình độ và năng lực thực thi công việc
Tự đào tạo để nâng cao trình độ, kinh nghiệm và năng lực thực thi công vụ
Tự đào tạo, bồi dưỡng có vai trò rất quan trọng trong suốt quá trình hoạt động củamỗi CBCC Đây là quá trình cán bộ, công chức tự nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi,đúc rút kinh nghiệm qua thực tế công việc để nhận thức, năng cao trình độ và nănglực thực thi công việc của mình
Có thể nói, quá trình tự đào tạo để nâng cao trình độ và năng lực công việc
là hình thức đào tạo quan trọng trong thời đại công nghệ số, sự bùng nổ của côngnghệ thông tin, thực hiện mục tiêu xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời Hiệnnay, xu thế phát triển của xã hội, nhiều chủ trương, chính sách của đảng và nhànước đã và đang được bổ sung, thay đổi, nhiều kiến thức chuyên môn, nghiệp vụcần phải được cán bộ công chức cập nhật mới, hay xử lý các tình huống, công việc
cụ thể Vì vậy, trong suốt quá trình tham gia công tác của mỗi CBCC cấp xã, đòihỏi mỗi cán bộ, công chức cấp xã phải không ngừng học tập để nâng cao trình độquản lý, chuyên môn nghiệp vụ, để giải quyết công việc hiệu quả, nếu không sẽ bịtụt hậu, không đáp ứng yêu cầu công việc
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã
1.3.3.1 Nhiệm vụ, công vụ được giao, điều kiện làm việc của đội ngũ cán bộ cấp xã
Hoạt động đào tạo CBCC cấp xã chịu ảnh hưởng bởi những yêu cầu củangành, địa phương Tuy nhiên, mỗi ngành, mỗi địa phương lại có những yêu cầu,đòi hỏi khác nhau đối với các đào tạo Ở những địa phương mà trình độ CBCCcòn yếu, chưa đạt chuẩn theo các quy định của Nhà nước thì nhu cầu đào tạo cao
Ở các ngành, các địa phương trình độ CBCC đã đạt chuẩn thì yêu cầu đào tạo bồidưỡng thấp hơn, chủ yếu là các hoạt động đào tạo mang tính nâng cao và chuyên
Trang 24sâu Vì vậy, yêu cầu của các ngành, các địa phương cũng là yếu tố tác động tớiđào tạo bồi dưỡng CBCC cấp xã.
1.3.3.2 Môi trường xã hội, điều kiện cơ sở vật chất
Những nguồn lực dành cho đào tạo bồi dưỡng CBCC cấp xã bao gồm: cácthể chế, chính sách của Đảng và Nhà nước; kinh phí; điều kiện về cơ sở vật chất Chế độ, chính sách đào tạo CBCC cấp xã là tổng thể các quan điểm, cácnguyên tắc và các quy định thể hiện trong các văn bản của Đảng, Nhà nước nhằmđiều chỉnh hoạt động đào tạo bồi dưỡng CBCC, những quyền lợi và nghĩa vụ củaCBCC khi tham gia đào tạo bồi dưỡng, phù hợp với hoàn cảnh khách quan vànhững mục tiêu của Đảng, Nhà nước trong mỗi thời kỳ lịch sử Chính sách củaĐảng và Nhà nước, là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới hoạt động đào tạo bồidưỡng CBCC Các chính sách ưu tiên, động viên, khuyến khích sẽ thúc đẩy cáchoạt động đào tạo bồi dưỡng Do đó, cũng thúc đẩy CBCC cấp xã tích cực thamgia học tập để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực công tác.Ngoài ra còn một số các chính sách mang tính chất bắt buộc phải tham gia cácchương trình đào tạo bồi dưỡng theo quy định Trong Luật CBCC đã quy định:CBCC phải thường xuyên rèn luyện phẩm chất đạo đức, học tập nâng cao trình độ
và năng lực công tác để thực hiện tốt nhiệm vụ, công vụ được giao Chính sách củaĐảng và pháp luật của Nhà nước về đào tạo CBCC còn quy định về việc phải thamgia các chương trình bồi dưỡng định kỳ hằng năm Do đó, bắt buộc các cơ quan,các địa phương phải tổ chức đào tạo bồi dưỡng và CBCC phải tham gia
- Các chính sách hỗ trợ của cơ quan, đoàn thể đối với CBCC cấp xã thamgia học tập, bồi dưỡng Chúng ta đều biết con người với tư cách là một sinh vậtcao cấp có ý thức; mọi hoạt động đều có mục đích và bao giờ cũng có một độnglực tương ứng nhằm thúc đẩy hoạt động để thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần
Vì vậy, thường xuyên chăm lo tới lợi ích vật chất (hỗ trợ tiền ăn ở, tiền đi lại, tiền
Trang 25học phí ) và lợi ích tinh thần (biểu dương, khen thưởng khi đạt được kết quả caotrong quá trình học tập ), có chính sách đãi ngộ phù hợp.
- Nguồn ngân sách dành cho đào tạo, bồi dưỡng:
+ Ngân sách Nhà nước cấp: Nguồn ngân sách cấp trước đây thực hiện theoThông tư 79/2005/TT-BTC của Bộ Tài chính Từ năm 2010, việc quản lý và sửdụng kinh phí đào tạo bồi dưỡng được thực hiện theo Thông tư 139/2010/TT-BTCtheo đó việc cấp ngân sách không tính theo định suất mà cấp theo khối lượng, kếhoạch đào tạo bồi dưỡng Ở Nghệ An, kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đượcthực hiện theo Quyết định 51 QĐ - UBND ngày 13 tháng 9 năm 2013 của UBNDtỉnh Nghệ An
+ Nguồn đóng góp của học viên: Thông thường ngân sách Nhà nước cấp chỉ
đủ trang trải những hoạt động chính của quá trình đào tạo, vì vậy để đảm bảonguồn tài chính cho đào tạo, các cơ sở đào tạo (là những đơn vị sự nghiệp công
tự chủ 1 phần tài chính) được phép thu thêm 1 khoản đóng góp của học viên
+ Nguồn hỗ trợ của các chương trình, dự án: Các chương trình, dự án (nhất
là dự án nước ngoài) thường bao gồm hợp phần (tiểu hợp phần) đào tạo và theo đó
có một khoản kinh phí được chi cho đào tạo Khoản kinh phí này sẽ do dự án chinếu dự án tự tổ chức các chương trình đào tạo, hoặc chuyển cho cơ sở đào tạo nếuhợp phần đào tạo hợp đồng với các trường để thực hiện
Điều kiện cơ sở vật chất (trường, lớp) là yếu tố cần thiết có tác động tíchcực hoặc hạn chế tới đào tạo CBCC Cơ sở vật chất tốt là điều kiện thuận lợi chođào tạo, bồi dưỡng và ngược lại nếu trường, lớp không tốt, hoặc không có thì hạnchế rất lớn đối với các hoạt động đào tạo Thậm chí có thể không thực hiện đượccác hoạt động đào tạo bồi dưỡng
1.3.3.3 Vai trò đội ngũ giảng viên trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã
Trang 26Trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng CBCC, giảng viên là yếu tố rất quan trọng,làm nhiệm vụ cầu nối truyền tải kiến thức tới người học, hướng dẫn phương pháp,nội dung kiến thức giúp cho người học nhanh hiểu biết, rút ngắn được thời giannhận thức Có được đội ngũ giảng viên có trình độ cao, phẩm chất và năng lực tốt làmột yếu tố tích cực tác động tốt tới đào tạo, bồi dưỡng CBCC.
1.3.3.4 Chính sách, thể chế của Nhà nước
Chính sách đào tạo đối với CBCC cơ sở là hệ thống các văn bản qui địnhmục đích và hoạt động của công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ CBCC cơ sở, trướchết dựa trên nguyên tắc mà Hiến pháp đã ban hành, thông qua các qui định cụ thểcho từng loại đối tượng để xây dựng thành một hệ thống các tiêu chí, tiêu chuẩn,quyết định nhiệm vụ, quyền hạn cũng như lợi ích của từng đối tượng
Bên cạnh đó, quan điểm, chủ trương, đường lối của các cấp lãnh đạo cũng
là yếu tố ảnh hướng đến đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Ngay những nămđầu tiên của chính quyền cách mạng, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ sự cần thiết phải đàotạo, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ CBCC nói chung, CBCC cấp xã nói riêng thực
sự có năng lực đáp ứng yêu cầu, tính chất mới của công việc trong một xã hội mới
và phải thực sự là công bộc của dân, Người đã khẳng định: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém"
[19, tr.487]
Từ những quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chủtrương của Đảng, các ngành, các địa phương đã cụ thể hóa thành các chính sách,các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo CBCC cấp xã
Chính sách đào tạo bồi dưỡng CBCC cấp xã là tổng thể những quy địnhpháp lý có tính nhất quán, thể hiện thái độ, quan điểm của Nhà nước trong việckhuyến khích hoặc hạn chế hoạt động này trong lĩnh vực QLNN về CBCC
Trang 27Chính sách CBCC nói chung trong đó có chính sách về đào tạo CBCC cấp xã
là tổng thể các quan điểm, các nguyên tắc và các quy định thể hiện trong các vănbản của Đảng, Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị nhằm điều chỉnhhoạt động đào tạo bồi dưỡng, những quyền lợi và nghĩa vụ của đội ngũ cán bộ, phùhợp với hoàn cảnh khách quan và những mục tiêu của Đảng, Nhà nước trong mỗithời kỳ lịch sử
Trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 –
2010 (được ban hành kèm theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001của Thủ tướng Chính phủ) đã xác định: xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũCBCC là một trong bảy chương trình hành động có ý nghĩa quan trọng góp phầnxây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp,từng bước hiện đại, hoạt động có hiệu lực hiệu quả Bước sang giai đoạn 2006 -
2010, nhằm phát huy các kết quả đạt được, chuyển hướng mục tiêu và khắc phụcnhững tồn tại của công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC, ngày 15 tháng 2 năm 2006,Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 40/2006/QĐ-TTg về việc phêduyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCC giai đoạn 2006 – 2010 Theo đó, Thủtướng yêu cầu: “Thực hiện đào tạo, bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm và đào tạo, bồidưỡng cho cán bộ lãnh đạo quản lý đương chức; đảm bảo đến năm 2010, 100%công chức lãnh đạo cấp vụ, cấp sở, cấp huyện được trang bị kỹ năng lãnh đạo,quản lý và kỹ năng phối hợp xử lý các vấn đề có tính chất liên ngành” Đến nay,
để phù hợp với các yêu cầu của CNH-HĐH, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh
tế quốc tế, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1374/QĐ-TTg ngày12/8/2011 về việc phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCC nói chung, trong
đó có quy định kế hoạch đào tạo CBCC cấp xã giai đoạn 2011 – 2015
Các chính sách về hoạt động đào tạo CBCC cấp xã trong thời gian qua đãthể hiện sự đúng đắn và hợp lý Vì thế, đã có những tác động tích cực đối với hoạt
Trang 28động đào tạo CBCC cấp xã Các chính sách về đào tạo có ảnh hưởng đến các mặtcủa hoạt động đào tạo bồi dưỡng CBCC cấp xã.
1.3.3.5 Nhu cầu hoàn thiện bản thân, năng lực của đội ngũ cán bộ cấp xã
Nhận thức của đội ngũ CBCC cấp xã đối với đào tạo bồi dưỡng là yếu tố cơbản và quyết định tới các kết quả của hoạt động đào tạo bồi dưỡng Bởi đó là yếu
tố chủ quan, yếu tố nội tại bên trong của mỗi người Nhận thức đúng là tiền đề, làkim chỉ nam cho những hành động, việc làm đúng đắn, khoa học và ngược lại Nếumỗi CBCC cấp xã đều nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của việc đào tạo, nó
có tác dụng nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc của bảnthân, học tập là để phục vụ chính họ trong việc nâng cao chất lượng hoạt độngcông vụ, họ sẽ có ý thức trong việc tự rèn luyện, trau dồi kiến thức, học hỏi, thamgia các khóa đào tạo, bồi dưỡng một cách tích cực, ham mê và có hiệu quả
Để hoàn thành tốt được nhiệm vụ, công vụ thì CBCC cấp xã phải có đủtrình độ, năng lực và vận dụng vào thực thi công việc; mặt khác nhiệm vụ, công vụluôn đòi hỏi phải hoàn thành tốt hơn, luôn biến đổi, thay đổi theo hoàn cảnh, điềukiện, phương tiện, từ đó đòi hỏi họ phải không ngừng học tập nhằm có những nănglực mới, kỹ năng, khả năng thích ứng để thực thi tốt nhiệm vụ Nếu CBCC cấp xãxác định nhiệm vụ học tập là để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, bổsung, cập nhật kịp thời những kiến thức mới nhằm hoàn thành một cách tốt nhấtnhiệm vụ trong thời gian tới Như vậy, họ sẽ có thái độ tích cực khi tham gia cáckhóa đào tạo bồi dưỡng Hoạt động đào tạo bồi dưỡng CBCC cũng đạt được kếtquả tốt Đào tạo bồi dưỡng CBCC cấp xã của cơ quan cũng đạt được mục tiêu và
kế hoạch đã đề ra
Ngược lại, nếu đội ngũ CBCC cấp xã cho rằng việc đi đào tạo, bồi dưỡngchủ yếu là đối phó, học cho qua để chuẩn hóa bằng cấp chuyên môn theo tiêuchuẩn chức danh công chức hoặc để được đề đạt, bổ nhiệm, được chuyển ngạch
Trang 29cao hơn, thậm chí học để “đánh bóng” tên tuổi của mình chứ chưa thực sự có mụcđích học để nâng cao trình độ, phục vụ cho công việc chuyên môn Họ sẽ có thái
độ thờ ơ khi tham gia các khóa đào tạo bồi dưỡng Như vậy, sẽ gây nên tình trạnglãng phí do đào tạo bồi dưỡng gây nên Phải tốn nhiều thời gian, kinh phí để cửCBCC cấp xã tham gia đào tạo nhưng kết quả là sau khóa học họ chẳng biết gì,năng lực làm việc của CBCC không được cải thiện Mục tiêu và kết quả của hoạtđộng đào tạo bồi dưỡng sẽ không đạt được
Trong nền kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa, nội dung, tính chấtcông việc có nhiều thay đổi; việc bám sát chương trình và tiêu chuẩn CBCC quốc
tế và khu vực đạt chuẩn quốc tế đặt ra là rất cấp thiết Trong quá trình đào tạo, bồidưỡng tại trường, lớp, ngoài tăng cường trang bị lý thuyết thì rèn luyện kỹ năngthực hành, kỹ năng giao tiếp, ứng xử trong công tác đối với CBCC là yêu cầu rấtcần thiết CBCC không thể thỏa mãn với một số kiến thức mà mình đã được đàotạo, mà phải tiến hành tự đào tạo, đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên Phải đổimới chương trình, nội dung để đào tạo, bổ sung nâng cao trình độ, năng lực choCBCC không chỉ ở một lĩnh vực mà một vài lĩnh vực có liên quan với nhau, thậmchí khác nhau
Để thực hiện mục tiêu: “Xây dựng đội ngũ công chức hành chính nhà nước
có số lượng và cơ cấu phù hợp với yêu cầu thực tiễn, từng bước tiến tới chuyên nghiệp, hiện đại” [9, tr.12] thì điều kiện tiên quyết là phải coi đào tạo, bồi dưỡng
đội ngũ CBCC là khâu đột phá trong cải cách bộ máy nhà nước
Điều đó chứng tỏ công tác đào tạo là công việc vô cùng quan trọng, là mộttrong những vấn đề có ý nghĩa quyết định đến việc xây dựng đội ngũ CBCC cấp
xã chuyên nghiệp, có phẩm chấtc thự, năng lực thực thi công vụ tốt Xã hội càngphát triển cao bao nhiêu thì sự đòi hỏi về năng lực chuyên môn trình độ, kỹ năng,kinh nghiệm quản lý càng cao bấy nhiêu Như vậy, có thể thấy rằng: đào tạo nâng
Trang 30cao kiến thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm và kỹ năng quản lýcho đội ngũ cán bộ cấp xã không phải là một yêu cầu mang tính lịch sử, chỉ tồn tạitrong quá trình chuyển đổi, nhất thời mà là một yêu cầu đòi hỏi phải được thựchiện thường xuyên, liên tục.
Một trong những nội dung quan trọng của chiến lược CBCC là đào tạo cán
bộ lãnh đạo cấp cơ sở đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ Thấy được tầm quan trọng củađào tạo CBCC, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng chăm lo xây dựng, có kếhoạch đào tạo CBCC Đây là một hoạt động nhằm trang bị và nâng cao kiến thức,năng lực cho đội ngũ CBCC nhằm hướng tới xây dựng một đội ngũ CBCC cấp xãchuyên nghiệp, có đủ phẩm chất năng lực để làm tốt công việc mà Đảng và Nhànước giao
1.4 Kinh nghiệm của một số địa phương trong tỉnh Nghệ An về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã và bài học đối với thị xã Hoàng Mai
1.4.1 Kinh nghiệm của huyện Nghĩa Đàn
Sau chia tách huyện Nghĩa Đàn để thành lập Thị xã Thái Hoà (từ 5/2008), độingũ cán bộ của các cơ quan Đảng, MTTQ và các đoàn thể cấp huyện vừa thiếu về
số lượng vừa yếu về chất lượng đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác và hiệu quảhoạt động của các cơ quan Cán bộ của cơ quan Đảng và Trung tâm Bồi dưỡngChính trị thị xã chỉ có 19/35 biên chế, khối đoàn thể có 14/30 biên chế được giao.Trước tình hình đó, huyện uỷ Nghĩa Đàn đã xác định công tác cán bộ là nhiệm vụcần được quan tâm hàng đầu Huyện uỷ Nghĩa Đàn đã điều động 7 đồng chí cán bộchủ chốt cấp xã có đủ điều kiện, tiêu chuẩn về công tác tại cơ quan Huyện uỷ theoQuy định 1051 ngày 30/8/2008 của Tỉnh uỷ về tuyển dụng, điều động cán bộ Cáccán bộ này được huyện cơ cấu giữ các chức vụ cấp phó các ban, ngành, đoàn thể.Đồng thời xây dựng kế hoạch và tuyển dụng 21 cán bộ mới vào các vị trí công táckhác theo hình thức thi tuyển công khai Đến nay, trong số cán bộ này, nhiều người
Trang 31đã trưởng thành phát huy năng lực được Huyện uỷ bổ nhiệm giữ các vị trí quantrọng như Phó Chánh Văn phòng Huyện uỷ, Phó Chủ tịch Hội Nông dân, Phó Bíthư Huyện đoàn, Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ huyện…Theo đồng chí Vũ Ngọc Thảo -Trưởng Ban Tổ chức Huyện ủy Nghĩa Đàn: “Công tác cán bộ huyện Nghĩa Đàn cónhiều đổi mới Việc đánh giá, xây dựng, quy hoạch và tạo nguồn cán bộ kế cậnđược rà soát, điều chỉnh, bổ sung kịp thời Việc luân chuyển, bổ nhiệm, điều độngcán bộ trong các ban, ngành ngày càng hợp lý, phát huy được sở trường công tác,năng lực chuyên môn; phân công công tác đúng người, đúng việc một cách chặtchẽ không có ý kiến phản hồi trái chiều trong dư luận Trên cơ sở công tác quyhoạch, Đảng bộ tạo điều kiện cho cán bộ tham gia bồi dưỡng chính trị, chuyên mônnghiệp vụ trước mắt và lâu dài Phần lớn số cán bộ được bổ nhiệm, luân chuyểnđều phát huy tốt, góp phần củng cố tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của hệthống chính trị Nhờ làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng cán quy hoạch, đào tạo,
bổ nhiệm cán bộ nên sau 5 năm chia tách, trong điều kiện còn nhiều khó khăn,nhưng đội ngũ cán bộ của huyện Nghĩa Đàn đã được chuẩn hóa, đi vào hoạt động
nền nếp, đáp ứng được yêu cầu phát triển KT - XH của địa phương
Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở từng bước đáp ứng yêu cầu lãnhđạo, quản lý thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở Hầu hết CBCC xã đã có trình độchuyên môn đại học, cao đẳng; có trình độ lý luận chính trị trung cấp trở lên; cótrình độ đại học và trung cấp về quản lý Nhà nước; có kiến thức tin học và ngoạingữ Mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, 100% số cán bộ chủ chốt xã, phường, thịtrấn có trình độ chuyên môn trung cấp trở lên, trong đó 80-90% có trình độ chuyênmôn đại học, 100% trưởng các đoàn thể và công chức cấp xã có trình độ chuyênmôn từ trung cấp trở lên, 90% có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên
1.4.2 Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Trang 32Quỳnh Lưu là huyện đồng bằng ven biển thuộc tỉnh Nghệ An, sau khi chiatác thị xã Hoàng Mai, hiện nay, huyện Quỳnh Lưu có 33 đơn vị hành chính cấp xã.Trước năm 2005, cán bộ chủ chốt cấp xã của huyện chủ yếu là cán bộ hưu trí, bộđội phục viên được vận động tiếp tục tham gia công tác tại cơ sở Các chức danhcán bộ chuyên trách Mặt trận Tổ quốc và Trưởng các đoàn thể cấp xã hầu hếtkhông được qua đào tạo bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ; công chức chuyênmôn thường là những người đã có kinh nghiệm công tác được bố trí các chức danhchuyên môn: Tài chính kế toán, Địa chính xây dựng, Tư pháp hộ tịch, văn hóa….
Do đó, chất lượng cán bộ, công chức cơ sở thời kỳ trước năm 2005 của huyệnchuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế, bố trí chuyên môn chưa phù hợp với chứcdanh đảm nhiệm, dẫn đến hiệu quả không cao trong thực hiện nhiệm vụ
Thực hiện Nghị định số 121/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 21/10/2003
về chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn Huyện QuỳnhLưu đã tuyển dụng mới và bổ sung được 388 công chức cấp xã có trình độ chuyênmôn từ trung cấp trở lên
Đối với các chức danh chủ chốt và trưởng các đoàn thể cấp xã đã đượcHuyện ủy, UBND huyện quan tâm hướng dẫn thực hiện quy hoạch cán bộ, mục tiêunhiệm kỳ Đại hội Đảng và Hội đồng nhân dân tiếp theo số lượng cán bộ chủ chốt
cơ bản có đủ trình độ chính trị và chuyên môn nghiệp vụ từ trung cấp trở lên, dầnthay thế những người là hưu trí, bộ đội phục viên bằng cán bộ trẻ, có năng lực đểlãnh đạo quản lý ở cơ sở Để thực hiện tốt việc chuẩn hóa đội ngũ cán bộ cấp xã,Ban Thường vụ Huyện ủy đã giao Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện liên kết mởcác lớp đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức cấp xã theo hệ đàotạo vừa học vừa làm
UBND huyện đã tham mưu cho Huyện ủy ban hành Nghị quyết về nâng caochất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở Kết quả, đến hết năm 2013, cán bộ chủ
Trang 33chốt các xã trên địa bàn huyện đạt 95% có trình độ chuyên môn từ trung cấp trởlên; các chức danh Trưởng các đoàn thể có trình độ đạt chuẩn là 61%; công chứcchuyên môn đạt chuẩn 100%.
Trình độ QLNN: Hầu hết các chức danh chủ chốt đều đã qua bồi dưỡngQLNN về chính quyền cơ sở, ngoài ra căn cứ vào quy hoạch cán bộ, Huyện ủy,UBND huyện còn quan tâm cử một số chức danh chủ chốt các xã tham gia học cáclớp QLNN theo ngạch công chức
Thực hiện Quyết định số 26/2004/QĐ-UB của UBND tỉnh về thu hút người
có trình độ Đại học các ngành kinh tế - kỹ thuật về công tác tại các xã, thị trấnnhằm tạo nguồn cho địa phương UBND huyện đã tham mưu thu hút được 12 cán
bộ về công tác tại các xã, thị trấn trên địa bàn, đến nay những người được thu hút
về các xã đã phát huy được năng lực của mình, có một số người đã giữ các chứcdanh chủ chốt ở xã
Nhìn chung, công tác quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ
cơ sở được Huyện ủy, UBND huyện quan tâm thực hiện Công tác đào tạo, bồidưỡng, quy hoạch, bố trí và luân chuyển cán bộ từ huyện đến cơ sở đã tạo nênnhiều chuyển biến trong công tác lãnh đạo điều hành ở cơ sở, làm cho hệ thốngchính trị ở cơ sở ngày càng vững mạnh, tạo niềm tin của nhân dân đối với sự lãnhđạo của Đảng
1.4.3 Bài học kinh nghiệm đối với thị xã Hoàng Mai
- Làm tốt công tác quy hoạch cán bộ, công tác đào tạo, bồi dưỡng đáp ứngyêu cầu công tác quy hoạch cán bộ và yêu cầu trong thời kỳ đổi mới là việc làm hếtsức quan trọng trong giai đoạn hiện nay Trong quá trình lãnh đạo, Ban Chấp hànhĐảng bộ thị xã, Ban Thường vụ Thị ủy vừa giữ vững nguyên tắc trong tổ chức xâydựng đảng, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa bám sát thực tiễn thị xã, pháthuy dân chủ trong Đảng, trong nhân dân để có cách làm sáng tạo, hiệu quả Nâng
Trang 34cao vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể chính trị- xã hội
về nhiệm vụ quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức Đây là yếu
tố quan trọng hàng đầu để thực hiện thắng lợi mục tiêu kinh tế- xã hội, quốc phòng
an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trật tổ quốc và các đoàn thể;quán triệt trong cấp ủy, lãnh đạo các cấp và đội ngũ cán bộ, công chức về mục đích,yêu cầu của công tác đào tạo, bồi dưỡng trong tình hình mới để tăng tính chủ động,trách nhiệm và tự giác trong công tác này Để nâng cao chất lượng đào tạo, bồidưỡng phải đổi mới về phương thức, nội dung, chương trình đào tạo; cụ thể hóachương trình cho từng đối tượng các bộ, công chức, từng vị trí công việc cụ thể vàtừng nhóm đối tượng tương ứng với từng ngành, từng cơ quan đơn vị Đối với cán
bộ, công chức ngoài nội dung trên còn phải được trang bị các kỹ năng làm việctheo nhóm, đàm phán, soạn thảo văn bản, ngoại ngữ, trình độ công nghệ thôngtin…
Bên cạnh đào tạo, bồi dưỡng thì việc tham khảo thực tế các địa phương lớn
để học hỏi kinh nghiệm là yêu cầu quan trọng để thị xã Hoàng Mai có những quyếtsách đúng đắn trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức nói chung vàcông tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã nói riêng Đồng thời, tăngcường đầu tư cơ sở, vật chất, xây dựng đội ngũ giảng viên chất lượng cao cho cáctrường học, trung tâm đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đàotạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức các cấp Kinh nghiệm của huyện Quỳnh Lưu chothấy, việc thực hiện các giải pháp đồng bộ trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, quyhoạch và đào tạo cán bộ dài hạn là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng độingũ CBCC cấp xã, thị trấn Để làm được điều này đòi hỏi cấp ủy Đảng cơ sở cầnxây dựng kế hoạch cụ thể để tạo nguồn cán bộ chủ chốt, nguồn các chức danhtrưởng các Đoàn thể, kế hoạch nâng cao chất lượng cho đội ngũ CBCC và lãnh đạochỉ đạo các cấp, các ngành liên quan tổ chức thực hiện kế hoạch
Trang 35- Thực hiện tốt tuyển dụng công chức, ưu tiên những người có trình độ cao(thạc sỹ, sinh viên tốt nghiệp đại học loại giỏi) thực hiện chính sách thu hút, khuyếnkhích người có trình độ cao về công tác ở cấp xã Xây dựng và công khai tiêu chítuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ ở từng lĩnh vực, từng vị trí tạo ra động lực phấn đấuvươn lên của cán bộ, công chức trong quá trình thực thi nhiệm vụ; phát huy nănglực chuyên môn của cán bộ, công chức Để thực hiện tốt vấn đề này, Thị xã HoàngMai đã ban hành quy chế tuyển dụng, xây dựng cơ chế và chính sách một cách kịp
thời và có tính hiệu quả: Xuất phát từ vị trí, tầm quan trọng và thực trạng của công chức xã, xuất phát từ yêu cầu cải cách hành chính, Thị ủy, UBND thị xã đã thực
hiện chính sách thu hút sinh viên tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng và trunghọc chuyên về đảm nhận các chức danh chuyên môn, nghiệp vụ ở các xã, phường.Chính sách này là một bước đột phá để từng bước thay đổi chất lượng của côngchức cấp xã Chính vì thế, đội ngũ và trình độ công chức cấp xã, phường ở thị xãHoàng Mai đã và đang được nâng lên, hạn chế được kinh phí đào tạo nâng cao trình
độ, mặt khác người được thu hút có trình độ cao thường tiếp cận công việc nhanh
và thực hiện có hiệu quả
- Thực hiện việc luân chuyển và chuyển đổi vị trí công tác cũng là biện pháptác động trực tiếp đến chất lượng CBCC cấp xã Chỉ thực hiện tuyển dụng khi yêucầu công việc cần tuyển đúng chuyên môn cho vị trí đó Ưu tiên tuyển dụng người
có hộ khẩu trên địa bàn thị xã Hoàng Mai Bố trí đúng chắc chắn sự thực hiện côngviệc của CBCC sẽ tốt hơn và khâu quản trị nguồn nhân lực tại đơn vị hành chính
cấp cơ sở sẽ có hiệu quả hơn Coi trọng công tác đánh giá cán bộ, công chức cấp cơ
sở hàng năm và định kỳ Đánh giá cán bộ, công chức phải đảm bảo tính kháchquan, công bằng và khoa học, qua đó để khen thưởng, nâng lương, đề bạt kịp thời.Đánh giá đúng cán bộ, công chức là cơ sở để quy hoạch, tạo nguồn cán bộ chotương lai, và để bố trí công tác một cách hợp lý
Trang 36Kết luận chương 1
Cấp xã là nơi sát dân nhất, nơi tiếp nhận và chuyển tải mọi đường lối, chủtrương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với từng người từng nhà,từng dòng họ… đồng thời là nơi báo cáo, phản ánh kết quả và phản hồi lên cấp trênnhững tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để cấp trên kịp thời bổ sung, hoàn thiệncác chủ trương chính sách Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã nhằm đápứng yêu cầu công cuộc đổi mới hiện nay là yêu cầu cấp thiết
Thực tiễn chứng minh rằng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụngcán bộ cấp xã là kết quả của sự phối hợp giữa công tác tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo,
và bồi dưỡng cán bộ phải là một quá trình phối hợp chặt chẽ, nhất quán Nếu tách riêngcông tác đào tạo, bồi dưỡng thì không thể đánh giá hết được hiệu quả đào tạo
Để thực hiện tốt hơn công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã, cần chú ýđồng bộ các khâu: Tuyển chọn, quy hoạch, nội dung chương trình, phương phápđào tạo bồi dưỡng Có thêm chính sách cần thiết để khuyến khích những người dạy
và người học
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CẤP XÃ Ở
Thị xã Hoàng Mai nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Nam Thanh - BắcNghệ; là cửa ngõ phía Bắc của tỉnh Nghệ An, có hệ thống giao thông đa dạng, kếtnối các vùng miền, có tiềm năng liên kết vùng để phát triển kinh tế, xã hội; đường
bộ, đường sắt, đường biển gồm: đường Quốc lộ 1A, đường nhánh tiếp nối đường
Hồ Chí Minh (quốc lộ 48C) chạy từ Nghi Sơn - Đông Hồi đi Nghĩa Đàn, thị xãThái Hoà; đường sắt Bắc - Nam, đường sông (sông Mai Giang, lạch Cờn) và cócảng biển Đông Hồi đã được Bộ Giao thông vận tải phê duyệt, cách cảng biển nướcsâu Nghi Sơn 12 km, cách sân bay Vinh 70km Đây là những điều kiện thuận lợi đểtrở thành đầu mối phát triển, mở rộng quan hệ kinh tế và giao lưu với các vùngkhác trong tỉnh, trong nước và nước ngoài Ngày 18/9/2014, Ban Thường vụ Tỉnh
ủy Nghệ An đã ban hành Nghị quyết số 11 về xây dựng phát triển thị xã Hoàng Maiđến năm 2020 và những năm tiếp theo Nghị quyết định hướng xây dựng thị xãHoàng Mai phát triển theo hướng đô thị với tính chất đô thị công nghiệp, thương
Trang 38mại, dịch vụ và du lịch Đến năm 2020, thị xã cơ bản trở thành đô thị loại III, vàđược công nhận đô thị loại III trước năm 2025.
2.1.2 Tình hình kinh tế, văn hóa – xã hội
Thị xã Hoàng Mai được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày01/7/2013 Sau 4 năm hoạt động, tình hình kinh tế - văn hóa, xã hội của thị xãHoàng Mai đã có bước phát triển nhanh chóng Tốc độ tăng trưởng kinh tế bìnhquân trong 4 năm 2013 - 2016, đạt 12% Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theohướng tích cực với tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm chủ yếu
Nhiều dự án có quy mô lớn đã được khởi công, hoàn thành và đưa vào sửdụng như: Nhà máy Tôn Hoa Sen quy mô vốn đầu tư 7.000 tỷ đồng, Nhà máy mayVinatex quy mô 1000 công nhân, Nhà máy sản xuất băng y tế chống vi rút xâmnhập, Tổ hợp khách sạn dịch vụ Mường Thanh Hoàng Mai, Nhà máy nước sạch thị
xã Hoàng Mai; đang triển khai dự án Nhà máy Nhiệt điện Quỳnh Lập 1.200 MWvới tổng mức đầu tư 1,8 tỷ đô la Hiện nay, thị xã có trên 100 dự án đăng ký đầu tưvào địa bàn, với tổng vốn đăng ký trên 1000 tỷ đồng
Ngành Dịch vụ - Thương mại tăng trưởng tốt, quy mô, mạng lưới, sản phẩmdịch vụ được mở rộng và đa dạng hơn, phản ánh bộ mặt đô thị ngày càng phát triển.Dịch vụ vận tải phát triển nhanh, có trên 500 xe ô tô tải Hoạt động du lịch pháttriển với quy mô ngày càng lớn, đa dạng Ngành du lịch của thị xã những năm quacũng đạt được nhiều kết quả tích cực, số lượng khách du lịch tăng từ 2,5 vạn lượtnăm 2014 lên 5,5 vạn lượt năm 2015 và gần 10 vạn lượt năm 2016, doanh thu dulịch hàng năm đạt trên 40 tỷ đồng
Ngành nông, lâm, ngư nghiệp duy trì được sự ổn định về quy mô sản xuất,đồng thời tập trung nâng cao giá trị sản phẩm hàng hóa Năng suất, sản lượng một
số cây trồng vật nuôi tăng khá; mô hình nuôi tôm giống tại Quỳnh Liên cho kết quả
Trang 39tốt Đã xây dựng được 2 mô hình cánh đồng mẫu lớn tại xã Quỳnh Trang, QuỳnhVinh, 10 mô hình áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ.
Công tác Giáo dục – đào tạo có những chuyển biến tốt Nhất là nhữngchuyển biến rõ rệt về chất lượng, tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình năm học
và đậu tốt nghiệp năm 2015 tăng bình quân trên 1,5% Số học sinh tham gia và đạtgiải tại các kỳ thi học sinh giỏi cấp TH và THCS nằm trong tốp đầu của tỉnh Côngtác phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi cơ bản hoàn thành; Hoàn thành đạt chuẩn quốcgia thêm 2 trường, đạt tỷ lệ 53,66% Thành lập mới 01 trường THPT công lậpHoàng Mai 2; 2 trường Mầm non tư thục( MN Long Thành và trường MN tư thụcThanh Xuân)
Thiết chế văn hóa, thông tin, thể thao có chuyển biến tích cực Tỷ lệ “Giađình văn hoá” đạt 79%; làng văn hóa 55%; 127/132 thôn, khối có nhà văn hoá gắnvới sân chơi, bãi tập; 8/10 xã, phường cơ bản hoàn thiện thiết chế VHTT-TT đạtchuẩn, 10 di tích được xếp hạng; có 33,5% người tập luyện TDTT thường xuyên;nâng cao chất lượng hoạt động của đài truyền thanh – truyền hình thị xã và hệthống truyền thanh cơ sở Các lễ hội truyền thống được duy trì, quản lý theo hướngtốt hơn Thực hiện có hiệu quả việc quản lý, bảo tồn, phát huy các di sản văn hóagắn với phát triển du lịch
Công tác giải quyết việc làm đạt nhiều kết quả tốt, hàng năm tạo việc làmcho trên 1.500 lao động; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 62%, trong đó đào tạonghề đạt 57% Các chế độ, chính sách cho người có công, các đối tượng bảo trợ xãhội luôn được đảm bảo theo quy định Công tác giảm nghèo được các cấp, cácngành thường xuyên quan tâm, bình quân tỷ lệ hộ nghèo giảm 2,1%/năm, tỷ lệ hộ
nghèo còn 6,5% (tiêu chí cũ 3,5%);vượt mục tiêu Nghị quyết Đảng bộ thị xã khóa I
đề ra (dưới 5,0%)
Trang 40Chất lượng công tác y tế dự phòng và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân đangtừng bước được nâng lên Thị xã là đơn vị thứ 2 của tỉnh xây dựng 10/10 xã,phường đạt chuẩn quốc gia về y tế; 100% trạm y tế xã, phường có bác sỹ tăngcường Trung tâm y tế thị xã đã thực hiện việc khám bệnh BHYT Mạng lưới y tếtrên địa bàn thị xã bước đầu đảm bảo nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân Côngtác Dân số - KHHGĐ được quan tâm chỉ đạo, tập trung mục tiêu giảm dần tỷ lệsinh con thứ ba trở lên và nâng cao chất lượng dân số Tỷ lệ sinh con thứ ba hàngnăm giảm bình quân 2%, từ mức 29,8% năm 2014 giảm xuống còn 24% năm 2016.
Như vậy, KT-XH thị xã Hoàng Mai phát triển sẽ tác động tích cực đến nângcao chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức của thị xã thông qua chủ trương,chính sách của Đảng và chính quyền địa phương
2.1.3 Công tác xây dựng đảng, hệ thống chính trị
Đảng bộ thị xã Hoàng Mai được thành lập theo Quyết định 4262, ngày 13tháng 6 năm 2013, trên cơ sở chuyển giao 17 tổ chức cơ sở đảng từ Đảng bộ huyệnQuỳnh Lưu, với 2906 đảng viên Hiện nay, Đảng bộ thị xã có 32 tổ chức cơ sở đảng(gồm 10 đảng bộ xã, phường, 5 đảng bộ cơ quan và 17 chi bộ trực thuộc) với 3.562đảng viên
Công tác xây dựng đảng, hệ thống chính trị được Thị ủy Hoàng Mai quantâm, chỉ đạo và đạt được những kết quả tốt Trong đó, đã làm tốt công tác tư tưởng,tạo sự động thuận, thống nhất trong cán bộ, đảng viên và nhân dân trong thực hiệncác nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh Công tác tư tưởng
đã bám sát nhiệm vụ chính trị của thị xã; góp phần quan trọng trong công tác xâydựng đảng về chính trị, tư tưởng Có những đổi mới, sáng tạo trong việc quán triệt,triển khai thực hiện các Nghị quyết, kết luận của Đảng các cấp Công tác tuyêntruyền, nhất là tuyên truyền miệng và hoạt động của đội ngũ báo cáo viên được chútrọng, chất lượng được nâng lên Thị xã đã có riêng Bản tin Hoàng Mai phát hành