Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu đối chiếu giữa các ngôn ngữ nói chung, giữa tiếng Anh và tiếng Việt nói riêng, xưa nay các nhà nghiên cứu thường đối chiếu các hiện tượng thuộc
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ LỆ DUNG
ĐỐI CHIẾU TỪ ĐỒNG NGHĨA TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT TRÊN BÌNH DIỆN NGỮ NGHĨA VÀ NGỮ DỤNG
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu
Mã số: 62.22.02.41
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM VIỆN NGÔN NGỮ HỘC VIỆN KHOA HỌC XÁC HỘI
VIỆT NAM Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Đức Tồn.TS Lâm Quang Đông
Vào hồi giờ ngày tháng năm 201
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, xu thế hội nhập thế giới đang ngày càng phát triển, việc tiếp xúc giữa các quốc gia, dân tộc, giữa các cộng đồng văn hoá – ngôn ngữ ngày càng mở rộng Như một hệ quả tất yếu, việc dạy và học tiếng Anh đã trở thành một nhu cầu khách quan cần thiết nhằm đáp ứng việc trao đổi, giao tiếp giữa các cộng đồng ngôn ngữ - văn hoá khác nhau Từ thực tế đó, nhiều công trình đối chiếu giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt đã ra đời để tìm
ra các đặc điểm tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ phục vụ cho việc giảng dạy tiếng trong nhà trường, biên soạn các loại từ điển và tài liệu phục
vụ cho việc biên phiên dịch
Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu đối chiếu giữa các ngôn ngữ nói chung, giữa tiếng Anh và tiếng Việt nói riêng, xưa nay các nhà nghiên cứu thường đối chiếu các hiện tượng thuộc bình diện ngữ âm - âm vị, ngữ pháp hoặc các trường từ vựng - ngữ nghĩa cụ thể để chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ nhằm phục vụ cho mục đích khác nhau, trong đó có việc dạy và học ngoại ngữ Riêng sự đối chiếu từ đồng nghĩa giữa các ngôn ngữ nói chung, giữa tiếng Anh và tiếng Việt nói riêng, cho đến nay hầu như chưa được thực hiện trong công trình lí luận chuyên biệt nào Đây là công việc rất khó khăn và phức tạp bởi nó đòi hỏi nhà nghiên cứu không những phải nhận ra được sự giống nhau và khác biệt ngữ nghĩa giữa các từ đồng nghĩa trong mỗi ngôn ngữ mà còn phải chỉ ra được sự giống và khác nhau giữa các từ đồng nghĩa tương ứng với nhau giữa hai ngôn ngữ được đối chiếu
Chính vì thế việc nghiên cứu đối chiếu các từ đồng nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt là một đề tài có tính cấp thiết Do vậy, luận án đặt vấn đề
nghiên cứu “Đối chiếu từ đồng nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt trên bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nói trên, luận án sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu từ đồng nghĩa và đối chiếu từ đồng nghĩa trên thế giới cũng như ở Việt Nam;
- Xác định những cơ sơ lí thuyết và phương pháp nghiên cứu liên quan đến đề tài;
Trang 4- Thu thập từ các cuốn từ điển đồng nghĩa tiếng Anh và tiếng Việt một
số dãy từ đồng nghĩa có các từ trung tâm của dãy có ý nghĩa tương đương với nhau để làm ngữ liệu đại diện phục vụ cho việc nghiên cứu đối chiếu;
- Đối chiếu các dãy từ đồng nghĩa đã được thu thập để chỉ ra những điểm giống và khác nhau của chúng về phương diện ngữ nghĩa và ngữ dụng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các từ đồng nghĩa trong tiếng Anh
và tiếng Việt
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án là phương diện ngữ nghĩa và ngữ dụng của các từ đồng nghĩa tiếng Anh trong sự đối chiếu với tiếng Việt và chỉ nghiên cứu nghĩa gốc của các từ đồng nghĩa Luận án cũng chỉ nghiên cứu các thông tin ngữ dụng đã có sẵn, được cố định hóa, từ vựng hóa của các từ đồng nghĩa
3.3 Tư liệu nghiên cứu
Chúng tôi áp dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp, lựa chọn một số dãy đồng nghĩa có từ trung tâm mang ý nghĩa tương đương nhau trong hai ngôn ngữ thuộc những từ loại khác nhau từ các cuốn từ điển từ đồng nghĩa, sổ tay dùng từ, các từ điển giải thích và từ điển đối chiếu song ngữ Anh-Việt Các dãy từ đồng nghĩa được thu thập theo cách đó được coi
là tư liệu đại diện để phục vụ cho sự phân tích đối chiếu Tuy nhiên, luận án
có sự ưu tiên đối chiếu nhiều hơn các dãy động từ và tính từ đồng nghĩa do hiện tượng đồng nghĩa xuất hiện phổ biến hơn ở hai từ loại này so với danh
từ nhờ ý nghĩa biểu niệm nổi trội của chúng như đã nêu
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận nghiên cứu duy vật biện chứng
để xem xét phân tích ngữ nghĩa và ngữ dụng của mỗi từ đồng nghĩa trong mối quan hệ hệ thống với các đơn vị khác trong mỗi dãy từ đồng nghĩa nói riêng, trong hệ thống từ vựng của mỗi ngôn ngữ nói chung, và trong mối
quan hệ với thực tế khách quan của mỗi cộng đồng bản ngữ Anh và Việt 4.2.Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây
- Phương pháp đối chiếu
Phương pháp này được sử dụng để đối chiếu các dãy từ đồng nghĩa tương đương nhau về ý nghĩa giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt nhằm tìm ra những nét tương đồng và khác biệt về ngữ nghĩa và ngữ dụng của chúng
- Phương pháp miêu tả
Trang 5Đây là phương pháp quan trọng để miêu tả hoạt động của các từ đồng nghĩa trong ngữ cảnh sử dụng nhằm chỉ ra sự giống nhau và khác nhau về ngữ nghĩa và ngữ dụng của chúng khi đối chiếu
- Phương pháp phân tích thành tố nghĩa
Phương pháp phân tích thành tố nghĩa được sử dụng để phân tích cấu trúc nghĩa của các từ đồng nghĩa nhằm xác định các nét nghĩa khu biệt của chúng, từ đó có thể chỉ ra các nét nghĩa giống và khác nhau giữa chúng
- Thủ pháp thống kê
Thủ pháp này được sử dụng để chỉ ra mức độ phổ biến qua số lượng, tần số xuất hiện của các hiện tượng ngữ nghĩa và ngữ dụng của các
từ đồng nghĩa được đối chiếu trong tiếng Anh và tiếng Việt
Ngoài ra chúng tôi còn áp dụng một số phương pháp nghiên cứu từ đồng nghĩa do Nguyễn Đức Tồn đề xuất Đó là:
- Thủ pháp dùng kết cấu đồng nhất “A là B”, đảo lại “B là A” để
xác định các đơn vị đồng nghĩa Thủ pháp này được sử dụng để loại bỏ các
từ không đồng nghĩa với từ trung tâm của dãy đồng nghĩa nhưng lại được các soạn giả từ điển đưa vào dãy đồng nghĩa, chẳng hạn, các từ chỉ cùng
chủ đề với từ trung tâm, như ao, hồ, đầm,
- Phương pháp xác lập ngữ cảnh trống để tìm sự khu biệt ngữ nghĩa
của các đơn vị đồng nghĩa
-Phương pháp nghiên cứu trường hợp được sử dụng để nghiên cứu
trên một số dãy đồng nghĩa đại diện trong tiếng Anh và tiếng Việt được chọn theo tiêu chí: có từ trung tâm của dãy đồng nghĩa với nhau ở nghĩa gốc
và có số lượng các đơn vị trong dãy đủ lớn để có thể đối chiếu chỉ ra được
sự tương đồng và khác biệt về ngữ nghĩa và ngữ dụng giữa hai ngôn ngữ theo yêu cầu của Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu đối chiếu các từ đồng nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt, do vậy đây cũng là công trình đầu tiên trong nghiên cứu ngôn ngữ học chỉ ra cụ thể những điểm giống nhau và khác nhau về ngữ nghĩa và ngữ dụng của các từ đồng nghĩa, phục vụ hữu ích cho việc dạy và học tiếng Anh và tiếng Việt như một ngoại ngữ, phục
vụ cho việc biên soạn từ điển giải thích, từ điển đối chiếu từ đồng nghĩa và
công tác biên phiên dịch giữa hai ngôn ngữ Anh –Việt Đồng thời
các kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung, làm sâu sắc thêm và phát triển lí thuyết về từ đồng nghĩa vốn còn ít được nghiên cứu ở Việt Nam Ngoài ra luận án còn có đóng góp nhất định trong việc đề xuất cách thức đối chiếu
các từ đồng nghĩa trong hai ngôn ngữ
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lí luận
Trang 6Luận án là công trình đầu tiên làm sáng tỏ được đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng của các từ đồng nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt Từ đó các kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung, làm sâu sắc thêm và phát triển lí thuyết về từ đồng nghĩa vốn còn ít được nghiên cứu ở Việt Nam Ngoài ra luận án còn có đóng góp nhất định trong việc đề xuất cách thức đối chiếu
các từ đồng nghĩa trong hai ngôn ngữ
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu của luận án giúp ích cho việc phân tích cái hay, cái đẹp về phương tiện biểu đạt của tiếng Anh và tiếng Việt; phục vụ thiết thực cho việc giảng dạy và học tập tiếng Anh trong nhà trường cũng như giúp người nước ngoài học tiếng Việt thuận lợi hơn Kết quả nghiên cứu còn có thể được sử dụng để biên soạn từ điển giải thích, từ điển từ đồng nghĩa và từ điển đối chiếu từ đồng nghĩa giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt; biên soạn tài liệu giảng dạy biên dịch và phiên dịch giữa hai ngôn ngữ Anh
và Việt
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận án gồm 4
chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 : Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài của luận án
Chương 3: Đối chiếu từ đồng nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt trên bình diện ngữ nghĩa
Chương 4: Đối chiếu từ đồng nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt trên bình diện ngữ dụng
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 DẪN NHẬP
Các từ đồng nghĩa và kết cấu ngữ pháp đồng nghĩa có ý nghĩa rất to lớn giúp chúng ta biểu hiện được tư tưởng, tình cảm của mình một cách chính xác hơn, có thể tránh được sự diễn đạt trùng lặp Chính vì vậy, từ lâu các nhà nghiên cứu đã rất quan tâm đến việc nghiên cứu hiện tượng đồng nghĩa Nhiều công trình nghiên cứu về từ đồng nghĩa trong các ngôn ngữ đã
ra đời
1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI VỀ
TỪ ĐỒNG NGHĨA
Hiện tượng từ đồng nghĩa đã được các nhà thông thái La Mã quan tâm
và chỉ ra rằng chúng không chỉ có sự giống nhau mà còn có cả những sự khác biệt nhau về ý nghĩa
Thế kỉ XVII người Pháp đã xác định được bản chất của từ đồng nghĩa, chẳng hạn, Gira (1718), B Lafaye (1857) Thế kỉ XX, Bally (1947), Henri Benac (1956) đã lần lượt xuất bản các từ điển từ đồng nghĩa, trong
Trang 7đó có bàn về khái niệm thế nào là từ đồng nghĩa
Thế kỉ XIX và XX, ở Đức cũng đã xuất bản nhiều cuốn từ điển từ đồng nghĩa, chẳng hạn, của các tác giả như: J B Mayer (1841), D Saunde (1871), J Eberhand (1910), Hoffman (1936), Herbent Gurner und G'unter Kempske (1974)
Ở Anh - Mỹ cũng có nhiều từ điển từ đồng nghĩa đã được xuất bản, thông dụng và được phổ biến hơn cả là các cuốn: "Từ điển từ đồng nghĩa và cụm từ đồng nghĩa tiếng Anh" (A dictionary of English Synonyms and Synonymous expressions) của R Soule (1938); "Từ điển từ đồng nghĩa" (Dictionary of Synonyms) của Webster được xuất bản ở Mỹ năm 1951 Thành tựu chủ yếu về từ đồng nghĩa ở phương Tây là biên soạn các từ điển từ đồng nghĩa Các công trình nghiên cứu dành riêng cho vấn đề lí thuyết từ đồng nghĩa chưa có nhiều
Thành tựu nghiên cứu về lí thuyết từ đồng nghĩa và biên soạn các từ điển từ đồng nghĩa nhiều nhất là ở nước Nga, đặc biệt là ở thời kì Xô viết, chẳng hạn, các từ điển từ đồng nghĩa của các tác giả như:P Berưnđa (1627),
D I Fônvizin (1783), P Kalaiđôvích (1818), Galich (1840), V N Kliueva (1956, in lại lần thứ 2 có sửa đổi và bổ sung năm 1961), Z E Alếchsanđrôva (1975), v.v
Bên cạnh các cuốn từ điển từ đồng nghĩa, ở Liên Xô trước đây còn có những bài viết, chuyên luận của nhiều tác giả bàn các vấn đề lí luận về từ đồng nghĩa, chẳng hạn, I I Đavưđốp (thế kỉ XIX), V K Favôrin (1953), A
B Sapir " (1955), Công trình của V A Sirotina (1970), E M Bêrêgốpskaia (1962), Ju.D Apresjan (1974), v.v
Các nhà nghiên cứu đã có được hàng loạt những quan sát đúng đắn: Các từ đồng nghĩa được định nghĩa là các từ gần gũi nhưng không đồng nhất về ý nghĩa (trong số các từ đồng nghĩa người ta đã tách riêng ra các từ gọi tên cùng một sự vật) Chúng là chỉ tố về tính chất đã phát triển,
về sự phong phú, uyển chuyển của một ngôn ngữ và để phục vụ cho sự đa dạng hóa cách biểu hiện tư tưởng Các từ đồng nghĩa khu biệt nhau về mặt phong cách, về mức độ của đặc trưng, về khả năng kết hợp với phạm vi từ nào đó Lĩnh vực từ đồng nghĩa là lĩnh vực các từ có ý nghĩa trừu tượng Tuy nhiên, những điểm này mới chỉ là những quan sát riêng lẻ chưa được luận giải đầy đủ và cũng chưa được chứng minh đủ tin cậy Còn nhiều vấn
đề chưa được nghiên cứu kĩ, thậm chí người ta còn chưa hiểu bản chất của
từ, các mối liên hệ của nó với những từ khác
Các nghiên cứu về đồng nghĩa từ vựng ở Liên Xô trước đây cho phép quy tất cả các định nghĩa về từ đồng nghĩa được đưa ra trong các công trình khoa học vào hai loại:
Loại 1 Định nghĩa các từ đồng nghĩa là những từ có âm khác nhau, gần gũi nhưng không đồng nhất về ý nghĩa
Trang 8Loại 2 Định nghĩa từ đồng nghĩa là những từ biểu thị cùng một hiện tượng của hiện thực khách quan, nhưng khác nhau về sắc thái ý nghĩa, thuộc tính phong cách, v.v
Nhiều nhà ngôn ngữ học phươngTây, chẳng hạn, Cruse, Murphy, Alston, O’grady, Radford,Palmer, Church và cộng sự, Lyons, Filippov, v.v
đã nghiên cứu về hiện tượng đồng nghĩa từ vựng, khám phá những khía cạnh phức tạp của các mối quan hệ ngữ nghĩa trong tổng thể các nghĩa của
từ và đặc biệt là cố gắng xác định từ đồng nghĩa và phân tích cách mà từ đồng nghĩa hành chức khi được thay thế vào trong các câu Các học giả phương Tây đã đi đến kết luận sự đồng nghĩa tuyệt đối là rất hiếm bởi vì khi hai từ có ngữ nghĩa giống hệt nhau thì hoặc là một trong hai từ biến mất hoặc phát triển một ý nghĩa mới
Một số nhà khoa học Phương Tây khác nghiên cứu các dãy từ đồng
nghĩa cụ thể trong tiếng Anh Chẳng hạn: Church và các cộng sự (1994); Atkins và Levin (1995);Clift (2003); Taylor (2003); Saeed và Fareh (2006);
Gesuato (2007); Cappuzzo (2010); v.v
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC VỀ TỪ ĐỒNG NGHĨA
Cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam gián tiếp đề cập ít nhiều đến từ đồng
nghĩa tiếngViệt là cuốn Tinh nghĩa Việt ngữ từ điển của Long Điền –
Nguyễn Văn Minh (Hà Nội, 1951).Từ năm 1958 đến năm 1962, vấn đề lí luận từ đồng nghĩa lần đầu được đề cập đến, tuy mới ở mức khái lược, trong
cuốn Khái luận ngôn ngữ học (1960) Việc nghiên cứu về từ đồng nghĩa
đang ngày một phát triển với các nghiên cứu ở nhiều cấp độ, từ các bài báo khoa học, luận văn thạc sĩ cho tới các luận án tiến sĩ và đề tài nghiên cứu cơ
sở và cấp Bộ Nhiều nhà nghiên cứu đã rất quan tâm đến từ đồng nghĩa, như Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Thiện Giáp, Mai Ngọc Chừ, Hoàng Trọng Phiến,
Vũ Đức Nghiệu, Đỗ Hữu Châu, v.v Đặc biệt, năm 2006, Nguyễn Đức Tồn
đã xuất bản công trình Từ đồng nghĩa tiếng Việt (tái bản năm 2010) Đây là
công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc các vấn đề liên quan đến từ đồng nghĩa trong các ngôn ngữ nói chung, trong tiếng Việt nói riêng Tác giả đã đưa ra định nghĩa về từ đồng nghĩa trong đó
có chỉ rõ các mức độ đồng nghĩa và thao tác để nhận diện các tiểu loại từ đồng nghĩa tương ứng; đề xuất cách lập dãy từ đồng nghĩa với một từ cho trước và phương pháp tìm các nét nghĩa khu biệt của các từ đồng nghĩa
1.4.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU TỪ ĐỒNG NGHĨA ANH-VIỆT
Cho đến nay, ở Việt Nam cũng như ở Anh Quốc chủ yếu mới có các công trình nghiên cứu lí luận về từ đồng nghĩa và biên soạn từ điển đồng nghĩa Hiện nay vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu đối chiếu toàn diện, có
hệ thống từ đồng nghĩa tiếng Anh và tiếng Việt trên bình diện ngữ nghĩa và
Trang 9ngữ dụng Do vậy luận án của chúng tôi là công trình đầu tiên dành cho đề tài này
thủ pháp nhận diện chúng Công trình Từ đồng nghĩa tiếng Việt của Nguyễn
Đức Tồn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc các vấn đề liên quan đến từ đồng nghĩa trong các ngôn ngữ nói chung, trong tiếng Việt nói riêng
Cho đến nay, ở Việt Nam cũng như ở Anh Quốc hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu đối chiếu toàn diện từ đồng nghĩa tiếng Anh và tiếng Việt trên bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng Do vậy luận án chúng tôi
là công trình đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này
Chương 2
CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
2.1 PHÂN BIỆT CÁC KHÁI NIỆM: HIỆN TƯỢNG ĐỒNG NGHĨA, ĐƠN VỊ TỪ VỰNG ĐỒNG NGHĨA VÀ TỪ ĐỒNG NGHĨA
Từ đồng nghĩa là trường hợp riêng quan trọng nhất nằm trong các đơn vị từ vựng đồng nghĩa và “đơn vị từ vựng đồng nghĩa, từ đồng nghĩa”
đều thuộc “hiện tượng đồng nghĩa” của ngôn ngữ
2.2 CÁC THỦ PHÁP NHẬN DIỆN TỪ ĐỒNG NGHĨA
Các thủ pháp truyền thống để nhận diện từ đồng nghĩa gồm: sử dụng ngữ cảnh hoặc dựa vào trường nghĩa Các thủ pháp này có hiệu lực hạn chế khi nhận diện các từ đồng nghĩa Do vậy, Nguyễn Đức Tồn đã đề xuất một
thủ pháp mới, đó là: Sử dụng kết cấu đồng nhất “A là B” và đảo lại “B là
A”: Hai đơn vị từ vựng nào đó xuất hiện được trong kết cấu đồng nhất này
thì là từ đồng nghĩa
2.3 QUAN NIỆM CỦA LUẬN ÁN VỀ TỪ ĐỒNG NGHĨA
Để làm việc, chúng tôi tán thành với định nghĩa về từ đồng nghĩa của
Nguyễn Đức Tồn:
“Hai đơn vị từ vựng/từ được gọi là đồng nghĩa khi chúng có vỏ ngữ
âm khác nhau biểu thị các biểu vật hoặc/ và biểu niệm giống nhau và: a/ Nếu chúng có thể xuất hiện được trong kết cấu “A là B” và đảo lại được
“B là A” mà không cần phải chỉnh lí bằng cách thêm bớt nét nghĩa gì vào một trong hai đơn vị/từ thì đó là những đơn vị từ vựng/từ cùng nghĩa b/ Nếu như để chúng có thể xuất hiện được trong kết cấu “A là B” và đảo lại được “B là A” cần có sự chỉnh lí, thêm bớt nét nghĩa nào đó vào một trong hai đơn vị/từ thì đó là những đơn vị từ vựng/từ gần nghĩa”
Trang 102.4 HIỆN TƯỢNG CHUYỂN NGHĨA CỦA TỪ VÀ TỪ ĐỒNG NGHĨA
Sự phát triển nghĩa của từ chủ yếu dựa trên hai quy luật là chuyển nghĩa ẩn dụ và chuyển nghĩa hoán dụ Trong quá trình phát triển ngữ nghĩa, các nghĩa cũ và nghĩa mới của từ có mối quan hệ với nhau theo cách nào đó Các nghĩa mới (nghĩa phái sinh) thường được nảy sinh trên cơ sở nghĩa ban đầu của từ hoặc trên cơ sở một hay vài nét nghĩa cơ bản trong cấu trúc biểu
niệm của từ Chính sự chuyển nghĩa, sự phát triển ý nghĩa của từ đã làm
nảy sinh các từ đồng nghĩa Hai từ vốn không đồng nghĩa với nhau, do phát triển thêm các nghĩa phái sinh, chúng trở nên có quan hệ đồng nghĩa
Ví dụ: do sự phát triển thêm các nghĩa phái sinh mà ăn đã trở nên đồng nghĩa với hợp, với thắng, với hưởng, v.v Trong quá trình đối chiếu các
từ đồng nghĩa giữa tiếng Anh và tiếng Việt, nhiều trường hợp các từ trong dãy đã đồng nghĩa với nghĩa gốc của từ trung tâm theo nghĩa phái sinh (x Chương 3)
2.5 TRƯỜNG TỪ VỰNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TỪ ĐỒNG NGHĨA
2.5.1 Lí thuyết trường từ vựng
Theo Đỗ Hữu Châu: “Trường từ vựng là một tập hợp các đơn vị từ vựng căn cứ vào một nét đồng nhất nào đó về nghĩa.” Một từ nhiều nghĩa có thể thuộc nhiều trường từ vựng khác nhau Điều này tạo ra hiện tượng giao thoa giữa các trường Khi nghiên cứu, chúng tôi chỉ đối chiếu các từ đa nghĩa đồng nghĩa nhau ở nghĩa gốc đầu tiên thuộc cùng một trường từ vựng
2.5.2 Dãy đồng nghĩa và vấn đề chọn từ trung tâm của dãy đồng nghĩa
Luận án xét đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ dụng của các dãy từ đồng nghĩa trong tiếng Việt và tiếng Anh cho nên chúng tôi sử dụng lí thuyết về trường
từ vựng để giải quyết vấn đề phân lập các dãy đồng nghĩa, chọn từ trung tâm của dãy đồng nghĩa Bởi các tập hợp từ đồng nghĩa thì nhất thiết cùng nằm trong một trường từ vựng, tuy nhiên, không phải bất cứ những tập hợp
từ cùng trường nào cũng là các từ đồng nghĩa Để tránh nhầm lẫn đưa cả những từ cùng chủ đề vào một dãy đồng nghĩa, đồng thời vẫn giúp thấy được mối liên hệ giữa các từ đồng nghĩa, có thể áp dụng lí thuyết trường từ vựng vào đối chiếu các dãy từ đồng nghĩa, nhất là khi các từ đồng nghĩa cần đối chiếu có số lượng khá lớn, sự giống nhau về ý nghĩa của chúng so với ý nghĩa của từ trung tâm của dãy đồng nghĩa có mức độ khác nhau thì phải tách các từ đồng nghĩa này thành các dãy khác nhau Khi đó các dãy từ đồng nghĩa được tách ra này tạo thành một “tiểu trường từ vựng đồng
nghĩa.”
Từ trung tâm của một dãy đồng nghĩa không chỉ đại diện cho mỗi
dãy từ đồng nghĩa, mà còn có thể được dùng để giải thích nghĩa cho các
từ đồng nghĩa trong dãy
Trang 11Để xác định từ trung tâm, cần chú ý có hai trường hợp: Một là, dãy đồng nghĩa chỉ có các từ cùng nghĩa, nghĩa là các từ có ý nghĩa lô gích - sự vật tính như nhau hoàn toàn, chúng chỉ khác nhau ở các sắc thái phụ về
phong cách - biểu cảm, phạm vi sử dụng, ví dụ: máy bay - phi cơ (cũ);
thuyền - ghe (đph.), mật thám – lính kín (cũ; kng), v.v Từ được chọn làm
từ trung tâm là từ gốc, ở dạng đầy đủ, có ý nghĩa trực tiếp (tức nghĩa đen)
Ví dụ: (các từ trung tâm được in nghiêng): pháo - đại bác - ca nông (cũ);
cha - bố (kng.) - thầy (đph.) - ba (đph.), tía (đph.)
Hai là, các từ trong dãy là những từ gần nghĩa
- Dãy đồng nghĩa gồm từ gốc và các từ phái sinh từ từ gốc đó (kí hiệu:A, Ab, Ac, Ad ) Từ trung tâm được chọn là từ gốc (A) do nghĩa của
nó rộng hơn, bao quát hơn cả Ví dụ: quên - quên béng - quên khuấy - quên lửng - quên lãng; rõ - rõ ràng - rõ rệt - rành - rõ rành v.v
- Khi dãy gồm các từ gần nghĩa không có chung yếu tố gốc, hoặc yếu
tố gốc chung có nghĩa hẹp hơn cả, từ toàn dân, trung tính, có ý nghĩa rộng
hơn, bao quát hơn sẽ được chọn làm "từ trung tâm".Ví dụ: máu (chất lỏng
màu đỏ chảy trong các mạch của người và động vật ), huyết ((kết hợp hạn chế) máu của người), tiết (máu của một số loài động vật dùng làm món ăn)
2.6 NGỮ NGHĨA VÀ NGỮ DỤNG CỦA TỪ
2.6.1 Ngữ nghĩa của từ
2.6.1.1 Khái niệm nghĩa từ
Để làm việc, chúng tôi theo quan điểm: nghĩa của từ là sự hiểu biết cùng với xúc cảm kèm theo xuất hiện (hay được gợi lên) trong trí óc người bản ngữ về sự vật, hiện tượng, hành động, tính chất, quan hệ mà từ biểu thị khi nghe thấy (hoặc đọc) từ ấy Ngữ nghĩa của từ luôn gồm có 3 thành tố sau đây:Thành tố 1 là sự vật/khái niệm mà từ biểu thị; Thành tố 2 là sắc thái biểu cảm - phong cách; Thành tố 3 là phạm vi sử dụng Sự đối chiếu các từ đồng nghĩa tiếng Anh và tiếng Việt được dựa theo ba thành tố này trong nghĩa của từ
2.6.1.2 Khái niệm cấu trúc tham tố của động từ
Khi đối chiếu các động từ đồng nghĩa trong hai ngôn ngữ, để phân biệt ý nghĩa các đơn vị từ vựng đồng nghĩa là động từ chúng tôi sẽ dựa vào cấu trúc tham tố của các động từ Cụ thể là cần dựa theo các tham tố sau:
diễn tố/tác tố và chu tố (hay còn gọi là trạng tố) trong cấu trúc tham tố của
động từ
2.6.2 Ngữ dụng của từ
Theo Ju D Apresjan, ngữ dụng là thái độ (hay quan hệ) của người nói đã được củng cố trong đơn vị ngôn ngữ (từ vị, phụ tố, kết cấu cú pháp) đối với: 1) hiện thực, 2) nội dung của thông báo, 3) người nghe
Các từ đồng nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt có thể được đối chiếu với nhau theo các phương diện ngữ dụng đã nêu trong định nghĩa trên
Trang 12tham tố diễn tố và chu tố (hay còn gọi là trạng tố) để tìm sự khu biệt ngữ
nghĩa của các động từ đồng nghĩa nhau
Trên bình diện ngữ dụng, các từ đồng nghĩa có thể được đối chiếu theo thái độ (hay quan hệ) của người nói đã được củng cố trong đơn vị ngôn ngữ đối với: 1) hiện thực, 2) nội dung của thông báo, 3) người nghe
Chương 3 ĐỐI CHIẾU TỪ ĐỒNG NGHĨA TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
TRÊN BÌNH DIỆN NGỮ NGHĨA 3.1 DẪN NHẬP
Trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp bằng cách lựa chọn để phân tích đối chiếu ngữ nghĩa một số dãy từ đồng nghĩa tiêu biểu mà từ trung tâm của mỗi dãy đồng nghĩa
có ý nghĩa tương ứng nhau trong tiếng Anh và tiếng Việt để rút ra những điểm tương đồng và khác biệt của các từ đồng nghĩa giữa hai ngôn ngữ được đối chiếu
3.2 ĐỐI CHIẾU NGỮ NGHĨA TỪ ĐỒNG NGHĨA TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
3.2.1 Đối chiếu các động từ đồng nghĩa
3.2.1.1 Đối chiếu ngữ nghĩa các dãy động từ đồng nghĩa:
DEFEND, PROTECT, SHIELD, GUARD, SAFEGUARD và
a) BẢO VỆ, GIỮ GÌN,GÌN GIỮ, CHE CHỞ, BẢO HỘ
b) ĐỀ PHÒNG, PHÒNG NGỪA, PHÒNG THỦ, CANH, GÁC, CANH GÁC, CANH GIỮ, CANH PHÒNG
a) BẢO VỆ, GIỮ GÌN,GÌN GIỮ, CHE CHỞ, BẢO HỘ
b) ĐỀ PHÒNG, PHÒNG NGỪA, PHÒNG THỦ, CANH, GÁC, CANH GÁC, CANH GIỮ, CANH PHÒNG
Sự phân tích đối chiếu các dãy từ đồng nghĩa trên cho kết quả là các động từ đồng nghĩa trong tiếng Anh cũng như tiếng Việt có sự khu biệt nghĩa tinh tế theo đủ tất cả các tham tố của động từ: chủ thể hành động (nói chung hay chỉ nói về lực lượng vũ trang), trạng thái của chủ thể (luôn luôn
có mặt túc trực tại vị trí cần bảo vệ hay không), phương tiện để bảo vệ (có
vũ khí / phương tiện hay không); Đối tượng cần được bảo vệ là con người,
Trang 13hay tài sản, vị trí, đất đai….; Đối tượng gây hại cần phòng tránh là loại nào ( sự xâm phạm, tổn thất, mất mát, sự bất trắc hay cái xấu nói chung…) Tuy nhiên, sự hiện thực hóa nét nghĩa khác biệt được thể hiện qua các tham tố trên trong mỗi ngôn ngữ có sự khác nhau, do đó, ý nghĩa của mỗi động từ trong hai ngôn ngữ bên cạnh những nét nghĩa trùng nhau vẫn cũng có nét nghĩa khác nhau Đặc biệt, tiếng Việt có nhiều từ đồng nghĩa hơn tiếng Anh (13 so với 5) nên giữa các từ có sự phân biệt ngữ nghĩa cụ thể và tinh
tế hơn so với tiếng Anh Do vậy, một từ tiếng Anh thường có nghĩa rộng và khái quát hơn nên thường tương đương với ý nghĩa của cả hai hoặc trên hai
từ đồng nghĩa tiếng Việt
3.2.1.2 Đối chiếu ngữ nghĩa các dãy động từ đồng nghĩa:
CARRY , BEAR, CONVEY, TRANSPORT, TRANSMIT và
a) MANG, ĐEM, XÁCH, BÊ, BƯNG
b) ĐEO, VÁC, GÁNH, KHIÊNG, KHUÂN, QUẨY, ĐỘI
c) CHỞ, TẢI, CHUYÊN CHỞ, VẬN CHUYỂN, CHUYỂN VẬN, VẬN TẢI
Kết quả phân tích, đối chiếu cho thấy dãy từ đồng nghĩa tiếng Anh cùng có ý niệm chung “làm cho đối tượng di chuyển bằng cách có nó trên mình và chuyển dời cùng với nó tới nơi khác” có số lượng đơn vị từ vựng ít hơn rất nhiều so với các dãy từ đồng nghĩa tiếng Việt tương ứng (SS A: 5 từ; V: 18 từ) Các từ đồng nghĩa tiếng Việt có sự phân biệt ngữ nghĩa chi tiết, cụ thể hơn rất nhiều so với các từ tiếng Anh, trong đó có nhiều từ chỉ hành động vận chuyển mang tính thủ công Các dãy từ đồng nghĩa trên khác
nhau theo các tham tố diễn tố (1,2) và chu tố (3,4,5) sau đây
1 Chủ thể hành động vận chuyển: một người (vác, xách) hay nhiều người (khiêng);
2 Loại đối tượng được vận chuyển: người, động vật hay đồ vật, vật có
trọng lượng nhỏ/ bình thường hay nặng, cồng kềnh, ví dụ: vật nhẹ (xách, bưng), vật nặng hoặc cồng kềnh ( bê, vác);
3 Phương tiện vận chuyển: bằng tay (dãy a); bằng vai hoặc lưng và có thể
có kèm theo bằng dụng cụ nào đó (như đòn, quang gánh…) (dãy b); bằng phương tiện vận tải (dãy c);
4 Phương thức hay cách thức vận chuyển (thể hiện ở nghĩa các từ trong
từng dãy), ví dụ: mang đi bằng một tay để buông thẳng xuống (xách); mang
(thường là vật nặng) bằng hai tay đưa ra phía trước, không nhấc cao lên
(bê); mang bằng hai tay đưa ngang tầm ngực hoặc bụng (bưng)…;
5 Khoảng cách vận chuyển : gần (bưng, bê) hay xa (vận chuyển, chuyên chở)
Từ điển tiếng Anh mới nêu các từ đồng nghĩa tiếng Anh khác nhau theo ba tham tố sau đây: 1 Tính chất của vật hay đối tượng được vận