1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Phân tích sự cần thiết và vai trò của CFO trong doanh nghiệp hiên nay

32 307 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 191 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRẢ LỜI: * Phân tích vai trò của tài chính doanh nghiệp: Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các h

Trang 1

TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

Phần 1: Tự luận

Câu hỏi: Phân tích vai trò và mục tiêu của tài chính doanh nghiệp Anh/chị cho nhận

xét về vai trò của CFO (giám đốc tài chính) trong các doanh nghiệp Sự cần thiết của chức danh này trong các doanh nghiệp Việt Nam.

Phần 2: Trắc nghiệm

Câu hỏi: Hãy lựa chọn câu trả lời đúng nhất bằng cách khoanh tròn vào phương án

mà Anh/Chị lựa chọn Mẫu câu hỏi chỉ có một đáp án đúng

Question: Analyze the role and objectives of corporate finance Him / her to comment on the role of the

CFO (chief financial officer) in the enterprise the necessity of this title in enterprises of Vietnam

Part 2: Test

Please choose the most correct answer by circling the plan on which his / her choice Sample question has

only one correct answer

Trang 2

MỤC LỤC

* Nhận xét về vai trò của CFO (giám đốc tài chính) trong các doanh nghiệp. 5

* Sự cần thiết của chức danh CFO (giám đốc tài chính) trong các doanh nghiệp Việt

TABLE OF CONTENT

TABLE OF CONTENT 2

RESEARCH OF CONTENT 3

PART 1: FOREWORD 3

1 Analysis of the role of corporate finance: 3

2 Commenting on the role of the CFO (chief financial officer) in the enterprises 5

3 The necessity of titles CFO (chief financial officer) businesses in Vietnam 7

PART 2: TEST 9

LIST OF REFERENCES 17

Phần 1: Tự luận

Câu hỏi: Phân tích vai trò và mục tiêu của tài chính doanh nghiệp Anh/chị cho nhận

xét về vai trò của CFO (giám đốc tài chính) trong các doanh nghiệp Sự cần thiết của chức danh này trong các doanh nghiệp Việt Nam.

TRẢ LỜI:

* Phân tích vai trò của tài chính doanh nghiệp:

Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản

Trang 3

phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội.

- Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân: Tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp là điều kiện cơ bản quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, nó do Nhà nước khẳng định và xác định Việc khẳng định tư cách pháp nhân của doanh nghiệp với tư cách là một thực thể kinh tế, một mặt nó được nhà nước bảo hộ với các hoạt động sản xuất kinh doanh, mặt khác nó phải có trách nhiệm đối với người tiêu dùng, nghĩa vụ đóng góp với nhà nước, trách nhiệm đối với xã hội Đòi hỏi doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản công

nợ khi phá sản hay giải thể.

- Doanh nghiệp là một tổ chức sống trong một thể sống (nền kinh tế quốc dân) gắn liền với địa phương nơi nó tồn tại.

- Doanh nghiệp là một tổ chức sống vì lẽ nó có quá trình hình thành từ một ý chí và bản lĩnh của người sáng lập (tư nhân, tập thể hay Nhà nước); quá trình phát triển thậm chí có khi tiêu vong, phá sản hoặc bị một doanh nghiệp khác thôn tính Vì vậy cuộc sống của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chất lượng quản lý của những người tạo ra nó.

- Doanh nghiệp ra đời và tồn tại luôn luôn gắn liền với một vị trí của một địa phương nhất định, sự phát triển cũng như suy giảm của nó ảnh hưởng đến địa phương đó.

- Doanh nghiệp là một tổ chức kinh doanh nhằm mục đích sinh lời, được pháp luật thừa nhận, được phép kinh doanh trên một số lĩnh vực nhất định, có từ một chủ sở hữu trở lên

và chủ sở hữu phải đảm bảo trước pháp luật bằng toàn bộ tài sản của mình, có tên riêng, có trụ

sở giao dịch ổn định Trong nền kinh tế thị trường các loại hình doanh nghiệp phát triển một cách đa dạng, phong phú Có nhiều cách tiếp cận về doanh nghiệp Nếu xét trên một góc độ cung cầu vốn trong nền kinh tế thì doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp tài chính kinh doanh tiền tệ và doanh nghiệp phi tài chính kinh doanh hàng hoá dịch vụ thông thường Nếu dựa vào quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất thì doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và công ty cổ phần Nếu dựa vào hình thức pháp lý tổ chức của doanh nghệp thì doanh nghiệp được phân chia thành doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

và doanh nghiệp tư nhân Dù là cách phân chia nào thì đối với một doanh nghiệp khi tiến hành

Trang 4

hoạt động kinh doanh đều phải sử dụng tài chính doanh nghiệp để thực hiện mục tiêu kinh doanh Để tiến hành hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có những yếu tố cần thiết là

tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động, đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định Muốn vậy doanh nghiệp phải hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Trong quá trình đó, phát sinh và hình thành các luồng tiền tệ gắn liền với các hoạt động đầu tư và hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp Các luồng tiền tệ bao hàm các luồng tiền tệ đi vào và các luồng tiền tệ đi ra khỏi doanh nghiệp, tạo thành sự vận động của các luồng tài chính doanh nghiệp Bên trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế, các quan hệ này được gọi là các quan hệ tài chính và bao gồm các quan hệ như:

- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể khác thể hiện trong việc góp vốn, vay vốn, cho vay vốn…, trong việc thanh toán cho việc mua hoặc bán tài sản, vật tư, hàng hoá, dịch vụ…

- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với người lao động trong doanh nghiệp: trả lương, thưởng, phạt vật chất.

- Quan hệ giữa các bộ phận trong doanh nghiệp như thanh toán giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, phân phối lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp, hình thành và sử dụng quỹ của doanh nghiệp.

- Quan hệ tài chính nảy sinh trong các hoạt động xã hội của doanh nghiệp như tài trợ cho các tổ chức xã hội, các quỹ từ thiện, thể dục, thể thao, văn hoá…

- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp nước ngoài như liên doanh liên kết với doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam, thanh toán xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ…Từ các dạng quan hệ tài chính trên có thể kết luận tài chính doanh nghiệp xét về nội dung vật chất là quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp được tạo lập, sử dụng cho mục đích kinh doanh của doanh nghiệp, xét về thực chất là những quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế xã hội trong và ngoài nước.

Từ đó, có thể khái quát tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt tới mục tiêu của doanh nghiệp.

Trang 5

* Nhận xét về vai trò của CFO (giám đốc tài chính) trong các doanh nghiệp.

Giám đốc tài chính, hay còn gọi là CFO, luôn được biết đến là những người chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý và kiểm soát rủi ro tài chính, lên kế hoạch tài chính và báo cáo lên các cấp quản lý cao hơn trong doanh nghiệp Tuy nhiên, hiện nay vai trò của CFO không còn giới hạn trong những công việc kể trên nữa mà vai trò của CFO đã thay đổi từ việc cung cấp góc nhìn "gương phản chiếu" sang vai trò của một nhà tư vấn chiến lược, lèo lái doanh nghiệp vượt qua những thời khắc khó khăn và định hướng đi tương lai cho doanh nghiệp.

CFO hiện nay đang làm việc trong một môi trường đầy biến động và cạnh tranh, đòi hỏi sự thay đổi hầu như hàng ngày để có thể dẫn dắt doanh nghiệp đi đúng hướng Hiện nay vai trò của CFO đã vượt qua ranh giới của các vai trò truyền thống ở trên và được bổ sung thêm các vai trò mới của, hiện đại cụ thể như sau:

- Vai trò Quản lý: Kế toán, kiểm soát, quản lý rủi ro, và bảo toàn tài sản là những

nhiệm vụ chính của nhóm quản lý, họ phải đảm bảo doanh nghiệp phải tuân thủ với các chuẩn mực báo cáo tài chính và kiểm soát các yêu cầu khác nhau.

- Vai trò Điều hành: Hiệu quả và mức độ dịch vụ là những lĩnh vực trọng tâm của

nhóm điều hành, người phải liên tục cân bằng chi phí một cách linh hoạt và mức độ dịch vụ trong việc chịu trách nhiệm tài chính của doanh nghiệp, và áp dụng các mô hình hoạt động tài chính khi cần thiết.

- Vai trò Chiến lược: Là Nhà chiến lược giúp vạch ra con đường tương lai cho doanh

nghiệp để tăng cường hiệu suất kinh doanh và giá trị cho cổ đông, đồng thời cung cấp góc nhìn tài chính để đột phá và gia tăng lợi nhuận.

- Vai trò Xúc tác:

+ Nhóm xúc tác là đại diện của sự thay đổi để đạt được sự hòa hợp trong chiến lược kinh doanh và phục vụ như là đối tác kinh doanh với những người ra quyết định khác, bao gồm cả trưởng phòng, giám đốc thông tin, và quản lý bán hàng/marketing.

+ Vai trò của nhóm Quản lý và Điều hành là kiểm soát và tăng cường hiệu suất, thiên

về vai trò truyền thống của CFO, trong khi nhóm Xúc tác và Chiến lược đại diện cho "quân

sư chiến lược" đối với các thành viên khác trong công ty.

Bên cạnh những giá trị truyền thống trong chức năng tài chính mà nhóm Quản lý và Điều hành đại diện; hiện nay, CFO đóng vai trò quan trọng hơn với tư cách là người Xúc tác

Trang 6

và Chiến lược cho những thành viên khác trong ban quản trị (C-suite) Họ giúp doanh nghiệp đảm bảo mọi kế hoạch đều đi đúng hướng, mọi chiến lược đều được hỗ trợ bởi các phân tích đáng tin cậy và mọi hoạt động đều đạt đến mức độ đã định.

Vấn đề này dẫn đến thắc mắc: "Điều gì đã thúc đẩy sự thay đổi này?" Câu trả lời cho thấy một cái nhìn sâu sắc hơn về những mục tiêu cần đạt được của CFO trong thời đại mới Mặc dù có rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình chung, nhưng chủ yếu vẫn là việc thiếu sự ổn định của các CFO.

Vậy, tại sao lại là thiếu sự ổn định?

Nguyên nhân thúc đẩy sự thiếu ổn định của CFO

Nguyên nhân đầu tiên là sự giảm sút về tự tin của CFO do mối lo ngại liên tục về tình hình kinh tế Tại Anh và Bắc Mỹ, mức độ lạc quan của CFO hạ đáng kể, với sự tự tin bị giới hạn về khả năng duy trì doanh nghiệp trong năm tới Ở Trung Đông và Châu Á-Thái Bình Dương, tình hình có khả quan hơn một chút Tuy nhiên tỷ lệ tự tin tại đây cũng khá thấp, chỉ 50%so với 72% CFO lạc quan về tình hình hiện tại ở Trung Đông, 31% ở Ấn Độ

và 16% ở Úc Hơn nữa, mức độ thiếu chắc chắn trong doanh nghiệp đã chạm mức cao nhất

kể từ hơn một năm qua tại Úc.

Gia tăng tỷ lệ hợp nhất doanh nghiệp là nguyên nhân thứ hai, mặc dù trong một vài trường hợp, đó cũng là một tác dụng phụ của khủng hoảng kinh tế Theo nghiên cứu kể trên, các hoạt động hợp nhất và mua bán doanh nghiệp xảy ra trên hầu hết các lĩnh vực, tổng cộng là 86

tỷ đô la với 369 vụ mua bán xảy ra trong năm 2011, trong đó hơn một nửa đến từ các thương vụ mua bán các tài sản không chính thức Con số kỷ lục này tiếp tục tăng trong năm 2012.

Nguyên nhân cuối cùng của sự thiếu chắc chắn chúng ta không thể bỏ qua chính là công nghệ Công nghệ có thể là tài sản quý giá hoặc một trở ngại đáng lo khi doanh nghiệp muốn ứng dụng công nghệ để đáp ứng nhu cầu thay đổi của mình Khi nhu cầu kinh doanh thay đổi và vai trò của phòng tài chính phát triển lên một bước tiến mới, các doanh nghiệp nhận ra hầu hết những công nghệ đang sử dụng đã lỗi thời và không thể giúp họ đáp ứng được hết tất cả các nhu cầu trên nữa Cùng lúc đó, công nghệ mới chẳng hạn như di động, điện toán đám mây, mạng truyền thông xã hội và dữ liệu lớn đang phát triển độc lập hàng ngày, khiến cho các công ty buộc phải ứng dụng chúng trước khi những công nghệ này kịp

Trang 7

thích ứng hoàn toàn với quy trình hoạt động trong doanh nghiệp Bốn công nghệ này được

mô tả như là "bộ tứ siêu đẳng" giúp đem lại hệ thống thông tin và tư duy kinh doanh mới mẻ.

Vai trò của CFO, ngoài trách nhiệm truyền thống là quản lý báo cáo tài chính, cũng đang mở rộng để đồng thời lãnh đạo phòng tài chính và cả doanh nghiệp, thông qua việc xác định công nghệ nào thích hợp với doanh nghiệp, và dẫn dắt doanh nghiệp đến tương lai.

* Sự cần thiết của chức danh CFO (giám đốc tài chính) trong các doanh nghiệp Việt Nam

Ở góc độ vĩ mô, hiện nay tầm nhìn và năng lực của giới tài chính kế toán nước ta đã

có những bước phát triển vượt bậc so với trước đây, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp Tuy nhiên, mức độ hoạt động của nền tài chính trong nước, cũng như năng lực quản trị tài chính của chúng ta nói chung vẫn còn tồn tại một khoảng cách thật sự so với các nước trong khu vực và thế giới.

Ở góc độ doanh nghiệp, vai trò quan trọng của CFO ngày nay là không thể phủ nhận được, kể cả đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa Thậm chí, cho dù một doanh nghiệp có chiến lược phát triển tốt và đang kinh doanh thành công thì vẫn có thể rơi vào tình trạng khó khăn về tài chính và dẫn đến phá sản, nếu không có một CFO làm tốt công tác quản trị tài chính để lèo lái doanh nghiệp vượt qua những thời khắc khó khăn và định hướng đi tương lai cho doanh nghiệp.

Ở góc độ cá nhân, “chân dung” của một CFO chuyên nghiệp ngày nay cũng đã khác

xa so với trước đây Một người là CFO giỏi của ngày hôm qua chưa chắc đã có thể đứng vững ở vị trí của CFO ngày hôm nay, chứ chưa nói đến chuyện thành công.

Vì sao lại như vậy?

Bởi lẽ, trước đây, trong bối cảnh một nền kinh tế về cơ bản còn “đóng cửa” và nền tài chính của chúng ta thì đang ở trình độ phát triển rất thấp so với khu vực và thế giới Bởi lẽ, ngày nay Việt Nam ta đã và đang hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới về mọi mặt, trong đó đặc biệt là hội nhập về kinh tế - tài chính Bởi lẽ, giờ đây người Việt ta sẽ phải đua tranh với thế giới ngay trong “nhà” của mình, trong đó bao gồm cả đua tranh về năng lực quản trị tài chính Và người làm tài chính ngày nay không chỉ phải so tài với các đồng nghiệp của mình trong nước, mà còn phải đua tranh với các đồng nghiệp của mình trên khắp thế giới…

Trang 8

Từ vị thế và tầm mức của nền tài chính Việt Nam hiện nay, từ viễn cảnh tương lai của nền tài chính và nghề quản trị tài chính, từ “chân dung” của một CFO trong thời kỳ mới, hướng đến thế hệ CFO mới cho cộng đồng doanh nghiệp, thế hệ CFO có khát vọng và có khả năng đua tranh mạnh mẽ về trình độ quản trị tài chính với các đồng nghiệp của mình trên khắp thế giới, cho nên vai trò của CFO trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay không chỉ là một "cái chức" (sản phẩm của một quyết định bổ nhiệm), mà còn là một "cái nghề" (sản phẩm của một quá trình đào tạo bài bản, có hệ thống và một quá trình trải nghiệm nghề nghiệp) để thực hiện tốt vai trò Quản lý, vai trò Điều hành, vai trò Chiến lược và vai trò Xúc tác trong việc quản lý và điều hành tài chính doanh nghiệp của Việt Nam.

Do đó, chức danh CFO rất cần cho các doanh nghiệp của nước ta hiện nay.

Phần 2: Trắc nghiệm

Hãy lựa chọn câu trả lời đúng nhất bằng cách khoanh tròn vào phương án mà Anh/Chị lựa chọn Mẫu câu hỏi chỉ có một đáp án đúng

THÔNG TIN DƯỚI ĐÂY (BẢNG 1) DÙNG ĐỂ TRẢ LỜI CÂU HỎI SỐ 1 ĐẾN CÂU 5

Bảng cân đối kế toán công ty Smith

Trang 9

Thương phiếu phải trả 825.000

Báo cáo Kết quả kinh doanh

Doanh thu thuần (bán chịu) $6.375.000

Trừ: Giá vốn hàng bán 4.312.500

Chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp 1.387.500

Chi phí khấu hao 135.000

Chi phí trả lãi 127.000

Thu nhập trước thuế $412.500

Thuế thu nhập doanh nghiệp 225.000

Thu nhập (lợi nhuận) thuần $187.500

Lợi tức cổ phiếu thường $97.500

Thu nhập (lợi nhuận) để lại $90.000

1 Dựa trên các thông tin ở Bảng 1, tỷ suất hiện hành là:

Trang 10

D) Không có câu trả lời nào trên đúng

7 Hãy tính giá trị hiện tại (PV) của $100.000 nhận được sau 5 năm kể từ ngày hôm nay, giả sử mức lãi suất là 8% /năm?

Trang 11

A Là phù hợp với mục tiêu tối đa hóa giá trị cho các cổ đông.

B Thừa nhận giá trị của tiền theo thời gian.

D Chi phí vốn bình quân (WACC).

13 Bạn đang phân tích một dự án đề xuất và có các thông tin như sau:

Trang 12

Tỷ lệ thu nhập yêu cầu 8,50%

Giá trị hiện tại ròng (NPV) của dự án đề xuất là?

Trang 13

18 Sara muốn có $500.000 trong tài khoản tiết kiệm khi cô ta về hưu Hỏi cô ta phải

có bao nhiêu tiền trong tài khoản ngay từ bây giờ nếu tỷ lệ lãi suất cố định là 8%/năm, để đảm bảo chắc chắn cô ta sẽ có $500.000 trong 20 năm?

Tỷ lệ thu nhập yêu cầu 8,50%

Thời gian hoàn vốn sử dụng dòng tiền chiết khấu của dự án là?

B Thặng dư vốn cổ phần (Paid in capital)

C Cổ phiếu ưu đãi

D Thu nhập để lại (Lợi nhuận lưu giữ)

E Cổ phiếu thường

21 Tính lợi suất trái phiếu (YTM) của một trái phiếu kỳ hạn 5 năm, mệnh giá $5.000 với lãi suất trái phiếu 4,5% và trả lãi coupon định kỳ 6 tháng nếu trái phiếu đang có giá là

$4.876?

Trang 14

A) 4,30%

B) 5,07%

C) 6,30%

D) 8,60%

22 Tính lợi suất trái phiếu (YTM) của một trái phiếu kỳ hạn 10 năm, mệnh giá

$1.000 với lãi suất trái phiếu 5,2% và trả lãi coupon định kỳ 6 tháng nếu trái phiếu đang có giá là $884?

A) Giảm $9,82

B) Giảm $11,59

C) Tăng $12,16

D) Giá của trái phiếu không thay đổi.

25 Một trái phiếu mệnh giá $5.000 với lãi suất trái phiếu 6,4% /năm và trả lãi coupon định kỳ 6 tháng, trái phiếu có kỳ hạn là 4 năm và lợi suất trái phiếu (YTM) là 6,2% Nếu lãi suất giảm và YTM giảm 0,8%, giá trái phiếu sẽ bị ảnh hưởng như thế nào?

A) Giảm $98,64

B) Tăng $40,49

Trang 15

C) Tăng $84,46

D) Tăng $142,78

26 Tính lãi suất trái phiếu của một trái phiếu có kỳ hạn 2 năm, mệnh giá $10.000 trả lãi coupon định kỳ 6 tháng và giá trái phiếu hiện tại là $9.543,45, lợi suất trái phiếu (YTM) 6,8%?

Trang 16

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1) Chương trình đào tạo Tài chính doanh nghiệp, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Anh, năm 2014.

2) Chương trình quản lý Tài chính, Nguyễn Hữu Hương, năm 2013.

Ngày đăng: 18/10/2017, 15:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w