1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

KHÓA LUẬN tốt NGHIỆP cử NHÂN LUẬT bản sửa đổi

60 220 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 84,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khóa luận tốt nghiệp đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân”. Nơi thực tập Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy. Phần nội dung của khóa luận gồm 03 chương sau đây: Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân. Chương 2: Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân. Chương 3:Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân Thực tiễn và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết, áp dụng pháp luật.

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của bản thân, có sự hướngdẫn của ThS Phạm Hùng Cường và chưa từng được công bố trước đây Mọi số liệu,thông tin đều trung thực Những tài liệu tham khảo đều được trích dẫn nguồn theoquy định

Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào em xin chịu trách nhiệm trước Hộiđồng cũng như kết quả khóa luận của mình

Lương Duy Long

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Trang 2

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu khóa luận 4

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN CỦA CÁ NHÂN 5

1.Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân 5

1.1 Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 5

1.1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 5

1.1.2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 6

1.1.3 So sánh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng 7

1.2 Khái niệm, đặc điểmcủa trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân 9

1.2.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân 9

1.2.2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân 11

Trang 3

2 Sự phát triển của pháp luật dân sự Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt

hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín 13

2.1 Chế định bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín dưới thời Lê, Nguyễn 13

2.2 Chế định bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín từ thời Pháp thuộc đến nay 14

Kết luận chương 1 16

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ HIỆN HÀNH VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN CỦA CÁ NHÂN 18

1 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân 18

1.1 Có thiệt hại xảy ra 19

1.2 Có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại 21

1.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật 22

1.4 Có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại 24

2 Chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân 26

3 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cánhân 30

4 Xác định thiệt hại và mức bồi thường khi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân 32

4.1 Thiệt hại về vật chất 33

Trang 4

4.1.1 Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại 34

4.1.2 Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút 34

4.2.Bồi thường tổn thất về tinh thần 36

4.2.1.Sự đau đớn về thể xác 37

4.2.2.Sự đau đớn về tinh thần 37

4.2.3.Thiệt hại do mất khả năng vui chơi, giải trí 37

4.2.4.Các thiệt hại về thẩm mỹ, mất khả năng hoạt động xã hội nghề nghiệp 38

Kết luận chương 2 39

CHƯƠNG 3: TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN CỦA CÁ NHÂN - THỰC TIỄN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT, ÁP DỤNG PHÁP LUẬT 40

1 Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân 40

1.1 Thực trạng vấn đề xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín trong tình hình hiện nay 40

1.2.Thực tiễn giải quyết, áp dụng các quy định về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân tại Tòa án 41

2 Một số kiến nghị để nâng cao hiệu quả trong thực tiễn giải quyết về bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân tại Tòa án 49

Kết luận chương 3 50

KẾT LUẬN 52

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Danh dự, nhân phẩm và uy tín từ xưa đến nay rất được coi trọng bởi nókhông chỉ là thước đo chuẩn mực để đánh giá một con người mà nó còn là nhữngtiêu chí đầu tiên để khẳng định vị thế của một cá nhân nào đó trong xã hội

Luật dân sự điều chỉnh những quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân luôntồn tại trong xã hội chúng ta Để đảm bảo mỗi người dân đều được hưởng cácquyền và lợi ích chính đáng, Bộ luật dân sự 2005 sửa đổi bổ sung 2011 có quyđịnh về quyền nhân thân như sau: “Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn kết vớimỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác” và điều 37 Bộ luật dân sự

2005 đã ghi nhận: “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng vàđược pháp luật bảo vệ” Như vậy, khi quyền nhân thân của cá nhân nói chunghay quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân nói riêng bị xâmhại thì sẽ được pháp luật bảo vệ và nếu ai đó xâm phạm một cách trái pháp luậtđối với cá nhân về danh dự, nhân phẩm và uy tín thì người đó phải chịu tráchnhiệm bồi thường thiệt hại cho cá nhân bị xâm phạm theo quy định của pháp luật

Trong thực tế hiện nay, hoạt động áp dụng pháp luật về bồi thường thiệthại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là hoạt động tương đốikhó khăn, phức tạp và nhiều khi rất nhạy cảm Nó đòi hỏi người áp dụng phápluật ngoài việc tuân thủ các quy định của pháp luật còn phải tinh tế, khéo léo vàđôi khi phải đưa ra những phán quyết theo “cảm tính” mới có thể dung hòa đượclợi ích và bảo vệ quyền lợi của các bên một cách tốt nhất Tuy nhiên, không phảilúc nào các tổn hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín cũng có thể được xác định mộtcách khách quan, bởi quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này chủ yếudừng lại ở các quyết định mang tính “định tính”mà không “định lượng” gâynhiều khó khăn cho việc áp dụng pháp luật Bên cạnh đó, sự đối lập trong tâm lýcủa bên gây thiệt hại với bên bị thiệt hại làm cho hầu hết các án kiện về bồi

Trang 7

thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín đều bị kháng cáo,khiếu nại từ phía đương sự.

Hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu về bồi thường thiệt hại và cáchxác định thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân Nhìnchung các công trình đều chỉ ra những quy định của pháp luật chưa phù hợp vớithực tiễn và kiến nghị phương hướng sửa đổi Chẳng hạnnhư bài “Nguyên tắc bồithường do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm” của TưởngDuy Lượng - Tạp chí Tòa án nhân dân số 03 và số 04/2003, tuy nhiênmới chỉdừng lại ở dạng khái quát chứ hiện tại chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâuvào vấn đề này

Về mặt lý luận, khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân” mong muốn

nhìn nhận một cách tổng thể, bao quát các quy định của pháp luật Việt Nam, chỉ

ra sự khác biệt cơ bản của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cụ thể

là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm uy tín vàtrách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng Về mặt thực tiễn, trên cơ sở vậndụng những nguyên tắc chung, áp dụng pháp luật vào thực tế, khóa luận nàymong muốn phân tích những thiếu sót, bất cập trong quy định của pháp luật ViệtNam cũng như thực tiễn áp dụng các quy định đó trong đời sống để đưa ra một sốgiải pháp khắc phục Khóa luận cũng mong muốn góp phần thúc đẩy luật phápViệt Nam giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

2 Mục đích nghiên cứu.

Thông qua việc tìm hiểu các quy định của Bộ luật dân sự 2005 và các vănbản hướng dẫn thi hành, khóa luận mong muốn tìm hiểu quy định pháp luật vềtrách nhiệm bồi thường thiệt hại và cách xác định thiệt hại do xâm phạm, danh

dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng Ngoài ra, khóa luận cũng hi vọng đem đến cho người đọc một cái nhìnthực tế hơn về việc áp dụng pháp luật tại một số Tòa án trong lĩnh vực xác định

Trang 8

trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cánhân.

Để đạt được mục đích nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận là tìmhiểu quy định của các văn bản pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thườngthiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, tìm hiểu thực tiễn

áp dụng pháp luật của lĩnh vực này tại một số Tòa án Trên cơ sở đó, chỉ ranhững bất cập trong các quy định của pháp luật và hướng hoàn thiện các quyđịnh của pháp luật về bồi thường thiệt hại nói chung, pháp luật về bồi thườngthiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân nói riêng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng được hướng tới trong khóa luận này là các vấn đề lý luận về bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạmdanh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân trong trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng Bên cạnh đó, xoay quanh đối tượng này, khóa luận sẽ tìm hiểumột số vụ án được xét xử tại Tòa án

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, khóa luận sẽ tập trung nghiêncứu vào một số vấn đề cơ bản nhất về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâmphạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân trong trách nhiệm bồi thường thiệthại ngoài hợp đồng Đồng thời, trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và xem xétthực tiễn áp dụng pháp luật của một số bản án tại Tòa án trên lĩnh vực này đề tài

sẽ phân tích, đối chiếu những quy định của luật dân sự Việt Nam với tình hình ápdụng pháp luật vào thực tiễn nhằm chỉ ra những điểm tốt, điểm hạn chế của phápluật nước ta để kiến nghị Nhà nước xem xét lại những quy định của pháp luậtkhông phù hợp

4 Phương pháp nghiên cứu.

Đề tài nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng

Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, đồng thời nghiên cứu về Hiến pháp củanước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quan điểm tư tưởng chỉ đạo của

Trang 9

Đảng và pháp luật của nhà nước Ngoài ra, khóa luận còn vận dụng kết hợp cácphương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp nghiên cứu lý thuyết, phươngpháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh vận dụng vào thựctiễn, phương pháp liệt kê, kết hợp với các phương pháp sưu tầm và tổng hợpnhững bài nghiên cứu, ý kiến của các luật gia, dự thảo luật để tìm ra những điểmmới, những điểm hạn chế để từ đó có một bài nghiên cứu hoàn chỉnh.

5 Kết cấu khóa luận.

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Phần nội

dung của khóa luận gồm 03 chương sau đây:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do

xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân

Chương 2: Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về trách nhiệm bồi

thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân

Chương 3:Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân

phẩm, uy tín của cá nhân - Thực tiễn và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệuquả giải quyết, áp dụng pháp luật

Trang 10

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN CỦA CÁ

NHÂN.

1 Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân.

1.1 Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

1.1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế định có lịch

sử phát triển từ rất sớm và là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luậtdân sự Việt Nam Trải qua các thời kì lịch sử khác nhau, ở những nước khácnhau, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định khác nhau

về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường, thiệt hại phải bồi thường, mức độbồi thường cũng như cách thức bồi thường Nhưng có một nguyên tắc chungnhất luôn luôn được ghi nhận đó là: “Người gây ra thiệt hại phải bồi thường thiệthại cho người bị thiệt hại” Việc đặt ra những quy định bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng nhằm đảm bảo nguyên tắc “phải chịu trách nhiệm khi có hành vi viphạm”

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một hình thức cụ thểcủa trách nhiệm dân sự Trong đó bồi thường thiệt hại là một biện pháp dân sựnhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu của chủ thể bị thiệt hại, khôi phục lại cácquan hệ bị xâm phạm Trách nhiệm bồi thường thiệt hại mang đầy đủ đặc điểm

và tính chất của một dạng trách nhiệm dân sự Tuy nhiên, nếu trách nhiệm dân sựnói chung có thể được áp dụng ngay sau khi có hành vi vi phạm pháp luật thìtrách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ được áp dụng khi có hành vi vi phạm và cóthiệt hại thực tế xảy ra

Trang 11

Như vậy, ta có thể hiểu khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng như sau:

“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm của bên có nghĩa vụ bồi thường do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác gây ra thiệt hại phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra.”

Trong quan hệ này, chủ thể tham gia có thể là cá nhân, pháp nhân, hộ giađình, tổ hợp tác Trong một số trường hợp, các cơ quan Nhà nước, cơ quan tiếnhành tiến hành tố tụng cũng có thể trở thành bên có quyền hoặc bên có nghĩa vụ

Khách thể của quan hệ nghĩa vụ này luôn thể hiện dưới dạng “hành động”phải thực hiện hành vi “bồi thường” cho người bị thiệt hại Cơ sở phát sinh nghĩa

vụ bồi thường thiệt hại là sự kiện “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” cho cácchủ thể khác

1.1.2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một dạng trách nhiệmpháp lý của pháp luật dân sự nên nó mang đầy đủ các dấu hiệu của trách nhiệmpháp lý nói chung Tuy nhiên bên cạnh đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng còn mang một số đặc điểm riêng biệt, đó là:

- Các chủ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thể

tự thỏa thuận áp dụng trách nhiệm này mà không cần tới sự can thiệp của cơquan Nhà nước có thẩm quyền

Ví dụ: Chỉ có Tòa án mới có quyền áp dụng trách nhiệm hình sự đối vớingười có hành vi nguy hiểm cho xã hội, chỉ có cơ quan Nhà nước có thẩm quyềnmới có quyền áp dụng trách nhiệm hành chính đối với người có hành vi vi phạmpháp luật hành chính nhưng việc bồi thường thiệt hại (trách nhiệm dân sự) có thể

do các bên tự thỏa thuận với nhau

Trang 12

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được thực hiện bởingười có hành vi gây thiệt hại nhưng cũng có thể được thực hiện đối với ngườithứ ba trong một số trường hợp nhất định.

Ví dụ: Khi người đủ 14 tuổi nhưng chưa tròn 15 tuổi phạm một tội hình sựthì trách nhiệm hình sự chỉ được áp dụng đối với người đó nhưng trách nhiệm bồithường thiệt hại có thể được áp dụng đối với cha mẹ của họ

- Hậu quả mà người bị áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng mang tính chất tài sản: loại trách nhiệm này có chức năng khôi phục lạinhững hậu quả về mặt vật chất cho người bị thiệt hại

1.1.3 So sánh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng.

Nếu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bao giờ cũng đượcphát sinh trên cơ sở một hợp đồng có trước thì trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định đối vớingười có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp củangười khác Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định chủ yếu về trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng đối với hành vi xâm phạm đến tính mạng, sứckhoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của các cá nhân và tổ chức khác

So với trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng thì trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng có một số điểm khác biệt như sau:

– Về cơ sở phát sinh trách nhiệm: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự phát sinh trên cơ sở do pháp luật quyđịnh Khác với các loại trách nhiệm pháp lý khác thì trách nhiệm dân sự có thểphát sinh trên cơ sở sự thoả thuận của các bên Tuy nhiên, trách nhiệm phát sinhtrên cơ sở thoả thuận của các bên chỉ có thể là trách nhiệm theo hợp đồng ví dụnhư buộc phải thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, phạt vi phạm hoặc bồi thườngthiệt hại

Trang 13

– Về điều kiện phát sinh trách nhiệm: Trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đủ các điều kiện do pháp luật quy định Cácđiều kiện đó là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi trái phát luật, có mối quan hệ nhânquả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, có lỗi Tuy nhiên, bồi thườngthiệt hại theo hợp đồng, do cơ sở phát sinh trách nhiệm là do các bên bên thoảthuận nên các bên cũng có thể thoả thuận đặt ra các điều kiện phát sinh có thểkhông bao gồm đầy đủ những điều kiện trên như bên vi phạm hợp đồng không cólỗi cũng vẫn phải bồi thường thiệt hại…

– Về chủ thể chịu trách nhiệm: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng ngoài việc áp dụng đối với người có hành vi trái pháp luật thì còn ápdụng đối với người khác như cha mẹ của người chưa thành niên, người giám hộđối với người được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp nhân, trường học,bệnh viện, cơ sở dạy nghề… Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại theohợp đồng chỉ có thể áp dụng đối với các bên tham gia hợp đồng mà không thể ápdụng đối với người thứ ba Hay nói các khác, các chủ thể trong hợp đồng khôngthể thoả thuận bất kỳ ai không tham gia hợp đồng sẽ phải chịu trách nhiệm bồithường thiệt hạimà không được sự đồng ý của họ

– Về mức bồi thường: Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về nguyên tắc

là người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra Thiệt hại chỉ cóthể được giảm trong một trường hợp đặc biệt đó là người gây thiệt hại có lỗi vô ý

và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của họ.Còn đối với bồi thường thiệt hại theo hợp đồng thì các bên có thoả thoả thuậnngay trong hợp đồng về mức bồi thường bằng, thấp hơn hoặc cao hơn mức thiệthại xảy ra và khi phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì mức bồi thường sẽ

áp dụng mức do các bên thoả thuận

– Về thẩm quyền tố tụng: Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng, Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Tòa án nơi xảy ra

sự kiện gây thiệt hại hoặc nơi phát sinh hậu quả trực tiếp của hành vi gây thiệt

Trang 14

hại Còn Tòa án có thẩm quyền giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại tronghợp đồng là Tòa án do các bên thỏa thuận, Tòa án nơi giao kết hợp đồng hoặcTòa án nơi thực hiện hợp đồng

Việc phân biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hạitheo hợp đồng và tráchnhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng đặc biệt có ý nghĩa trong việc thựchiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự Đối với trách nhiệm bồi thường thiệthại theo hợp đồng nguyên đơn chỉ cần chứng minh thiệt hại là do người gây thiệthại đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng gây ra còn trongtrách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bên bị thiệt hại ngoài việcchứng minh thiệt hại còn phải chứng minh hành vi gây thiệt hại là hành vi tráipháp luật

1.2 Khái niệm, đặc điểmcủa trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân.

1.2.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân.

* Danh dự: Theo từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 2006 của Nhà xuất bản

Đà Nẵng và từ điển Luật học xuất bản năm 2006 của nhà xuất bản Tư pháp thìdanh dự là sự coi trọng của dư luận xã hội, dựa trên giá trị tinh thần, đạo đức tốtđẹp và là cái nhằm mang lại danh dự, nhằm tỏ rõ sự kính trọng của xã hội, củatập thể Danh dự là một khái niệm rộng gắn liền với một chủ thể xác định Chủthể này có thể là tổ chức hoặc cá nhân Danh dự của con người không tự nhiên

mà có, nó được hình thành qua hoạt động thực tiễn, được biểu hiện dưới góc độđạo đức và xã hội Danh dự là sự coi trọng của xã hội về con người hoặc tổ chứcnào đó và được thừa nhận như một quyền nhân thân Đó là sự ca ngợi của tập thểdành cho cá nhân với những phẩm chất đạo đức tốt đẹp và những thành tíchtrước cộng đồng Danh dự là phạm trù mang tính đạo đức và xã hội, luôn gắn liềnvới chủ thể xác định, là một trong những yếu tố để khẳng định vị trí, vai trò và uytín của một người hoặc một tổ chức trong xã hội được Hiến pháp, pháp luật bảo

Trang 15

hộ, không ai được xâm phạm Như vậy, danh dự chính là sự suy tôn các tiêuchuẩn đạo đức đối với con người Luật dân sự bảo vệ danh dự của các chủ thể khi

bị vu khống, xúc phạm bằng các biện pháp phù hợp như buộc xin lỗi, cải chínhcông khai trên các phương tiện thông tin đại chúng Mọi chi phí cho việc khôiphục danh dự do người đã có hành vi xâm phạm danh dự chịu trách nhiệm

* Nhân phẩm:Theo từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 2006 của Nhà xuất

bản Đà Nẵng và từ điển Luật học xuất bản năm 2006 của nhà xuất bản Tư phápthì nhân phẩm được hiểu là phẩm chất, giá trị của một con người cụ thể và đượcpháp luật bảo hộ Nhân phẩm là tổng hợp những phẩm chất mang tính đặc trưngcủa mỗi cá nhân, những yếu tố đặc trưng này tạo nên giá trị một con người

* Uy tín:Theo từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 2006 của Nhà xuất bản Đà

Nẵng và từ điển Luật học xuất bản năm 2006 của nhà xuất bản Tư pháp thì uy tínđược hiểu là sự tín nhiệm của mọi người, của tập thể, cộng đồng đối với một cánhân về một lĩnh vực nào đó như phẩm chất đạo đức, nhân cách Uy tín cũngchính là năng lực của chủ thể thông qua hoạt động thực tiễn được mọi ngườicông nhận

Danh dự, nhân phẩm và uy tín của cá nhân là những yếu tố gắn liền vớiquyền nhân thân, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội và quan điểm của thờiđại lịch sử Nếu như khái niệm danh dự và uy tín có thể được dùng cho tổ chứchoặc cá nhân và danh dự, uy tín được hình thành, phát triển theo thời gian thìnhân phẩm là một khái niệm chỉ dành cho cá nhân, nhân phẩm của cá nhân đượchình thành kể từ thời điểm cá nhân được sinh ra và tồn tại theo thời gian

Khái niệm danh dự, nhân phẩm và uy tín của cá nhân không phải lúc nàocũng tách biệt nhau mà trái lại giữa chúng còn có mối liên hệ tác động qua lại lẫnnhau Danh dự có nội hàm rộng và ở một góc độ là giá trị xã hội nó còn bao hàm

cả nhân phẩm và uy tín Nhân phẩm của mọi người trong xã hội là ngang nhau,còn danh dự và uy tín của mỗi người là khác nhau Mặc dù có sự giống nhau haykhác nhau về danh dự, nhân phẩm, uy tín nhưng mọi người trong xã hội đề được

Trang 16

pháp luật bảo vệ các quyền nhân thân này một cách bình đẳng Mọi hành vi xâmphạm danh dự, nhân phẩm và uy tín của cá nhân đều bị trừng trị nghiêm khắc.Người có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân phải chịutrách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật.

* Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhânlà một quan hệ dân sự mà trong đó người có hành vi trái pháp luật

xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác gây ra thiệt hại thì phải cónghĩa vụ bồi thường những thiệt hại do chính hành vi của mình gây ra Một điềunữa cần lưu ý là trong mối quan hệ này giữa người gây ra thiệt hại và người bịthiệt hại không có mối quan hệ hợp đồng với nhau Mặc dù vậy, giữa các chủ thểvẫn phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhânphẩm, uy tín người khác, bởi đây là quyền nhân thân bất khả xâm phạm, gắn liềnvới mỗi chủ thể được pháp luật quy định Do đó, mọi hành vi xâm phạm đếnquyền nhân thân này đều bị coi là hành vi trái pháp luật

Tóm lại, khái niệm về tránh nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh

dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng phát sinh từ hành vi gây thiệt hại trái pháp luật Trong đó người

có hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín và quyền, lợi ích hợp phápcủa người khác gây thiệt hại, phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra màtrước đó giữa các bên không có quan hệ hợp đồng hoặc tuy có quan hệ hợp đồngnhưng hành vi của người gây ra thiệt hại không thuộc về nghĩa vụ thực hiện hợpđồng đã ký kết Nói cách khác, quan hệ hợp đồng tuy không phải là căn cứ thựctiễn nhưng có thể đưa lại khả năng làm phát sinh quan hệ bồi thường thiệt hại doxâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân

1.2.2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân.

Thứ nhất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân

phẩm, uy tín của cá nhân là một loại trách nhiệm pháp lý nên nó mang đầy đủ

Trang 17

đặc điểm của trách nhiệm pháp lý nói chung như: Do cơ quan nhà nước có thẩmquyền áp dụng; áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật; luôn mangđến hậu quả bất lợi cho người bị áp dụng; được đảm bảo thực hiện bằng biệnpháp cưỡng chế của nhà nước…

Thứ hai, trách nhiệm bồi thường thiệt hại xâm phạm danh dự, nhân phẩm,

uy tín của cá nhân là một dạng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng Vì vậy nó mang đầy đủ đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng:

+ Cơ sở để xác định trách nhiệm chính là những quy định của pháp luật,không có sự thỏa thuận từ trước giữa các bên và được phát sinh trên cơ sở hành

vi trái pháp luật do lỗi cố ý hoặc vô ý Các quyền và nghĩa vụ của các bên đềuhoàn toàn do pháp luật quy định Trước thời điểm phát sinh trách nhiệm giữa cácbên không có quan hệ hợp đồng với nhau Mặc dù giữa các chủ thể không cóquan hệ hợp đồng những giữa họ vẫn này sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín Kể cả khi hành vi xuất phát ban đầu từquan hệ hợp đồng giữa các chủ thể nhưng việc gây thiệt hại không liên quan gìđến việc thực hiện hợp đồng thì đó cũng được xác định là trách nhiệm bồi thườngthiệt hại ngoài hợp đồng Hành vi gây thiệt hại trái pháp luật đã tạo ra mối quan

hệ giữa người gây thiệt hại với người bị thiệt hại trong đó người có hành vi xâmphạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín và quyền, lợi ích hợp pháp của người khácgây thiệt hại, phải có trách nhiệm bồi thường những thiệt hại do mình gây ra

+ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uytín của cá nhân chỉ đặt ra khi nó thoả mãn bốn điều kiện nhất định: có thiệt hạixảy ra; có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại; có mối quan hệ nhân quả giữa thiệthại và hành vi trái pháp luật gây thiệt hại; có lỗi của người gây thiệt hại

Thứ ba, mục đích của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh

dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bù đắp, khắc phục cao nhất có thể nhữngtổn thất đã xảy ra cho người bị thiệt hại; nó góp phần răn đe, phòng ngừa hành vi

Trang 18

vi phạm của cá nhân, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho người bị xâm phạmdanh dự nhân phẩm

Thứ tư, đặc trưng cơ bản của trách nhiệm bồi thường này được nhà nước

áp dụng như một biện pháp cưỡng chế tích cực tác động vào tài sản của ngườigây thiệt hại, hậu quả của việc áp dụng trách nhiệm này luôn mang đến nhữngbất lợi về tài sản cho người gây ra thiệt hại để bù đắp những thiệt hại mà họ đãgây ra cho người khác

2 Sự phát triển của pháp luật dân sự Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín.

2.1 Chế định bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín dưới thời Lê, Nguyễn.

Trải qua nhiều biến đổi thăng trầm, thời Lê là một trong những thời kỳ có

vị trí đặc biệt trong lịch sử hình thành và phát triển của chế độ phong kiến ViệtNam Những biến đổi về chính trị, kinh tế, xã hội đã ảnh hưởng và tác độngmạnh mẽ đến sự phát triển của pháp luật giai đoạn này Đây là thời kỳ mà phápluật nước tađã đạt được những thành tựu to lớn và giữ một vị trí quan trọng tronglịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam Năm 1483, trên cơ sở sưu tập và bổsung những luật lệ đã được ban hành từ nhiều năm trước, bộ Quốc triều hình luật(Bộ luật Hồng Đức) - Bộ luật quan trọng và chính thống của triều Lê hình thành.Sau khi lên nắm quyền thống trị năm 1802, bên cạnh việc đề ra các biện phápnhằm ổn định chính trị, kinh tế, văn hóa, vua Gia Long đã cho xem xét lại Bộluật Hồng Đức và Luật Đại Thanh để soạn thảo một bộ luật thích hợp Trên cơ sở

đó năm 1812, bộ Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long) được ban hành

Những thiệt hại được đề cập đến trong hai bộ luật trên bao gồm cả thiệthại về vật chất và thiệt hại về tinh thần Tuy nhiên, trong các quy định liên quanđến bồi thường thiệt hại của Quốc triều Hình luật và Hoàng Việt luật lệ, thuậtngữ thiệt hại về tinh thần, danh dự, nhân phẩm và uy tín hầu như không được đề

Trang 19

cập đến Đây là loại thiệt hại vô hình mà trong một số trường hợp gắn liền vớiquan niệm lập pháp Vào thời Lê, danh giá, danh dự, nhân phẩm xứng đángđược bồi thường hoặc của cả hai bên hoặc chỉ một trong hai bên Quy định cụ thểtại Điều 472, Điều 473, và Điều 474:

Điều 472 quy định về trường hợp kẻ dưới đánh quan lại, quan lại đánh lẫnnhau thì khi một người đánh quan chức bị thương, ngoài việc phải chịu hình phạt,đền bù thương tổn còn phải đền tiền tạ Trái lại, nếu đánh người không phải quanchức, theo quy định tại các điều luật khác thì không phải chịu khoản tiền tạ

Điều 473 quy định khả năng kẻ dưới mắng nhiếc quan lại, quan lại mắngnhiếc nhau Quy định này đã không những chỉ đưa ra hình phạt mà còn quy địnhphạt tiền tạ nếu phạm tội lăng mạ quan chức, các trường hợp khác không phảichịu tiền tạ

Điều 474 cũng dự liệu trường hợp đánh người thân thuộc trong hoàng tộccũng quy định trách nhiệm tiền tạ, nếu đánh hoặc lăng mạ người trong hoàng tộc

từ hàng cháu năm đời của vua trở lên

Ngoài ra theo điều 315 của Bộ Luật Hồng Đức và điều 94 của Hoàng Việtluật lệ khoản tiền bồi thường những tổn thất do chủ thể có hành vi có lỗi gây racũng được quy định nếu có hành vi xâm phạm danh dự, phẩm giá của con ngườitrong trường hợp cha mẹ người con gái đã nhận sính lễ trong việc gả con, sau đólại không đồng ý gả con thì phải bồi thường một khoản tiền thiệt hại về danhdựcho gia đình nhà trai đã mang đồ sính lễ cưới hỏi

Những quy định này phần nào thể hiện đặc điểm pháp luật phong kiếntrong việc bảo vệ quyền lợi cho một bộ phận có địa vị trong xã hội bấy giờ.Nhưng đây cũng là một quy định rõ nét về việc bồi thường thiệt hại gây ra đốivới tinh thần, danh dự, nhân phẩm, uy tín…

2.2 Chế định bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín từ thời Pháp thuộc đến nay.

Trang 20

Năm 1858, thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên xâm lược nước ta, nhậnthức được vị trí và vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội nên sau khi xâmchiếm Việt Nam, thực dân Pháp đã ban hành nhiều bộ luật nhằm phục vụ cho sựthống trị của chúng, đáng chú ý trong thời kỳ này là hai bộ luật: Dân luật Bắc kỳ

và Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật Thời kỳ này do tiếp thu được sự tiến bộ củakhoa học pháp lý phương Tây, trách nhiệm dân sự đã được tách khỏi trách nhiệmhình sự, các yếu tố làm phát sinh trách nhiệm dân sự và vấn đề bồi thường thiệthại đã được quy định nhưng vẫn chưa đầy đủ

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngônđộc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trên nền tảng đó, năm

1946 bản Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam được ban hành Tuy nhiên trong giaiđoạn này, trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật được ban hành, vấn đề bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng chưa được đề cập đến Đến Hiến pháp 1959,trách nhiệm bồi thường thiệt hại mới được đặt ra nhưng trách nhiệm bồi thườngchỉ được quy định đối với chủ thể là Nhà nước trong việc trưng mua hoặc trưngdụng, trưng thu các tư liệu sản xuất khi cần thiết vì lợi ích chung của cộng đồng(Điều 20, Hiến pháp 1959) Đến năm 1972, một văn bản pháp luật cụ thể quyđịnh về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mới được ban hành(Thông tư 173/BBTP ngày 23 tháng 02 năm 1972) Tuy vậy, nội dung thông tưnày vấn đề bồi thường thiệt hại chỉ được đặt ra đối với các thiệt hại về vật chấtcòn vấn đề bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm thìchưa được pháp luật đề cập tới

Quyền được bảo vệ về danh dự, nhân phẩm, uy tín bắt đầu được xuất hiện

kể từ bản Hiến pháp năm 1980 Điều 70, Hiến pháp 1980 quy định: “Công dân

có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm”.

Đến Hiến pháp 1992, các quy định về bồi thường thiệt hại đã được chú trọng,quan tâm hơn đặc biệt là những quy định bồi thường thiệt hại về tinh thần:

“ Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự ” (Điều 72 Hiến pháp 1992).

Trang 21

“ Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại

có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự ” (Điều 74 Hiến

pháp 1992) Sau Hiến pháp 1992, các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng cụ thể là bồi thường thiệt hại do xâm danh dự, nhân phẩm, uy tín ngày cànghoàn thiện hơn với các điều luật được quy định trong Bộ luật dân sự năm 1995,sau đó đã được bổ sung và hoàn thiện hơn trong Bộ luật dân sự 2005 Cụ thể, Bộ

luật dân sự 1995 xác định “Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác, thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm , xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền cho người bị thiệt hại” (khoản 3 điều 310) Cùng với

đó, các văn bản hướng dẫn thi hành cũng lần lượt xuất hiện, có thể kể đến như:Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP ngày 28/4/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao về Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự

về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã được thay thế bằng Nghị quyết số03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa ánnhân dân tối cao về Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự 2005

về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Kết luận chương 1.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và tráchnhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhânnói riêng là một loại trách nhiệm có ý nghĩa pháp lý và ý nghĩa xã hội sâu sắc:

Thứ nhất, trong một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh thì lợi ích của

các chủ thể tham gia quan hệ xã hội đều được Nhà nước và pháp luật tôn trọng,bảo vệ Đó có thể là lợi ích vật chất, thể hiện ở các quyền tài sảnnhưng cũng cóthể là lợi ích tinh thần, thể hiện ở các quyền nhân thân Thông qua việc tìm hiểuchế định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm, nhân phẩm, uy tín

Trang 22

của cá nhân bên cạnh đó là chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giúpchúng ta có một cái nhìn tổng quan, khái quát nhất về các quy định của pháp luậthiện hành trong lĩnh vực này cũng như hiểu rõ hơn được vai trò, tầm quan trọngtrong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong các quan hệ xãhội khác nhau.

Thứ hai, thông qua việc buộc một chủ thể phải chịu trách nhiệm về hành

vi trái pháp luật của mình và hậu quả mà hành vi đó mang lại, chế định bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và chế định về trách nhiệm bồithường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân nói riênggóp phần đảm bảo công bằng xã hội, nâng cao tính trách nhiệm của mỗi ngườitrong xã hội, phù hợp với mục tiêu mà pháp luật đã đề ra

Thứ ba, thông qua chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cùng với

việc vận dụng chế định này để giải quyết các vụ việc dân sự liên quan đến tráchnhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhântrong thực tế sẽ góp phần tuyên truyền và giáo dục pháp luật, răn đe, phòng ngừacác hành vi vi phạm pháp luật nói chung, gây thiệt hại trái pháp luật nói riêngbằng những biện pháp chế tài nghiêm khắc đánh thẳng vào kinh tế Từ đó, ý thứcpháp luật của người dân sẽ ngày một nâng cao

Trang 23

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ HIỆN HÀNH VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM DANH DỰ, NHÂN

PHẨM, UY TÍN CỦA CÁ NHÂN.

1 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân.

Các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

là những căn cứ do pháp luật quy định từ trước Bất kỳ chủ thể nào thỏa mãn cácđiều kiện do pháp luật quy định thì trách nhiệm bồi thường mới phát sinh Tráchnhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâmphạm danh dư, nhân phẩm, uy tín của cá nhân nói riêng là một loại trách nhiệmpháp lý, trách nhiệm đó phát sinh khi và chỉ khi thỏa mãn đầy đủ các điều kiện

do pháp luật quy định Pháp luật dân sự Việt Nam không quy định cụ thể căn cứphát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uytín của cá nhân mà chỉ quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng nói chung Tuy nhiên, do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tíncủa cá nhân là một nội dung trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Vì vậy,các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng đượccoi là các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh

dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân

Qua nghiên cứu pháp luật của một số nước về vấn đề căn cứ phát sinhtrách nhiệm bồi thường thiệt hại có sự khác nhau Ví dụ: Cộng hòa Pháp, khixem xét căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường phải có ba điều kiện là: có thiệthại xảy ra; có một sự kiện (sự kiện cố ý hoặc không cố ý); có mối quan hệ nhânquả giữa thiệt hại và sự kiện Ở Liên bang Xô Viết cũ, việc xác định trách nhiệmbồi thường dân sự chỉ phát sinh khi có các điều kiện sau: có xử sự bất hợp phápcủa đương sự; có mối quan hệ giữa xử sự bất hợp pháp và hậu quả xảy ra; có lỗicủa đương sự Còn ở Nhật Bản, việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trang 24

căn cứ vào rất nhiều yếu tố, bao gồm: có lỗi cố ý hay vô ý khi xảy ra thiệt hại; cónăng lực trách nhiệm(có phân biệt giữa hành vi của người chưa thành niên vàngười ở trạng thái không có năng lực hành vi); tính trái pháp luật của hành vikhixâm phạm quyền và gây thiệt hại; phải phát sinh thiệt hại; có quan hệ nhânquả thực tế giữa hành vi trái pháp luật của người gây thiệt hại và người bị thiệthại phải gánh chịu Như vậy, ở các nước khác nhau, pháp luật cũng có sự quyđịnh khác nhau về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Tuy nhiên,

dù pháp luật ở mỗi nước có quy định như thế nào đi nữa thì cũng đều thống nhất

ở một đặc điểm, đó là: hành vi, có lỗi, có thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữahành vi và hậu quả

Ở Việt Nam, việc xác định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệthại được quy định tại điều 307 (Trách nhiệm bồi thường thiệt hại), điều 604 (Căn

cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại) của Bộ luật dân sự 2005 và Điều 1Phần I Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy địnhcủa Bộ luật Dân sự năm 2005

về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Theo đó, căn cứ phát sinh trách nhiệmbồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hay nói cách khác chính là căn cứ phát sinhtrách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cánhân được xác định gồm 04 điều kiện:

- Có thiệt hại xảy ra

- Có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại

-Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật

- Có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại

1.1 Có thiệt hại xảy ra.

Thiệt hại là điều kiện tiên quyết, điều kiện quan trọng nhất của tráchnhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Hay nói cách khác, thiệt hại là mộtyếu tố cơ bản cấu thành nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, trách

Trang 25

nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự nhân phẩm, uy tín của cá nhânnói riêng Mục đích của trách nhiệm bồi thường thiệt hại là nhằm khôi phục lạitình trạng ban đầu hoặc bù đắp những tổn thất cho người bị thiệt hại nếu thiệt hại

đó là không thể khôi phục Do đó, phải có thiệt hại thì mục đích của bồi thườngmới đạt được

Khoản 1 điều 307 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Trách nhiệm bồi thườngthiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất vềtinh thần” Theo Luật dân sự Việt Nam thì thiệt hại là những tổn thất thực tếđược tính thành tiền do việc xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín củangười khác Tổn thất thực tế được đề cập ở đây là sự giảm sút, mất mát về lợi íchvật chất, tinh thần hay những chi phí để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại

mà người bị hại phải gánh chịu

Về ý nghĩa pháp lý và xã hội, thiệt hại còn ảnh hưởng đến những quan hệ

xã hội được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của các cánhân Chính những ý nghĩa này đã lý giải vì sao thiệt hại lại được coi là tiền đềquan trọng có tính chất bắt buộc để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại.Song vấn đề đặt ra ở đây là tính chất của thiệt hại như thế nào mới phát sinh tráchnhiệm bồi thường Chính vì thế, điều kiện đầu tiên khi đánh giá thiệt hại để làm

cơ sở quy định trách nhiệm bồi thường đó là phải xác định được những thiệt hạikhách quan chứ không phải là những thiệt hại theo suy diễn chủ quan, nhất lànhững thiệt hại do xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác.Bởi đó là những thiệt hại về các quyền nhân thân, rất khó xác định những tổn thấtthành tiền một cách chính xác tuyệt đối

Pháp luật dân sự nói chung, chế định bồi thường thiệt hại do xâm phạmdanh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân nói riêng là những vấn đề rất nhạy cảm

và vô cùng phức tạp, bên cạnh những thiệt hại về tinh thần là những thiệt hại phivật chất, không thể có công thức chung để quy ra tiền áp dụng cho các trườnghợp Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với những người làm công tác giám định chuyên

Trang 26

môn và những người làm công tác áp dụng pháp luật phải thực sự công tâm,khách quan, đánh giá đúng mức độ thiệt hại xảy ra và áp dụng các quy phạmpháp luật để giải quyết vào các vụ án cụ thể.

1.2 Có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại.

Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm,

uy tín của cá nhân thì hành vi gây thiệt hại được hiểu là hành vi vi phạm một quyđịnh nào đó của pháp luật Hành vi gây thiệt hại trái pháp luật là hành vi gây thiệthại cho các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Hành vi trái pháp luật đó cóthể do pháp luật cấm thực hiện hoặc yêu cầu thực hiện nhưng chủ thể không thựchiện hoặc có thực hiện nhưng thực hiện không đúng, không đầy đủ nên đã gâythiệt hại Nếu hành vi đó được thực hiện mà pháp luật cho phép thực hiện hoặckhông được thực hiện mà pháp luật không bắt buộc phải thực hiện thì hành vi đókhông phải là hành vi trái pháp luật và người thực hiện hoặc không thực hiệnhành vi đó không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, kể cả trong trườnghợp có thiệt hại thực tế xảy ra

Hình thức biểu hiện bên ngoài của hành vi trái pháp luật gây thiệt hạithông thường thể hiện dưới dạng hành động Hành vi đó là hành vi có ý thức và

có ý chí Nói cách khác không thể có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại nào màkhông được ý thức kiểm soát hay không được ý chí của chủ thể điều khiển Nếuchủ thể không điều khiển được hành vi và hành vi ấy không được ý thức kiểmsoát thì sẽ không phát sinh trách nhiệm bồi thường Hành vi gây thiệt hại có thể

cố ý hoặc vô ý đối với hậu quả tổn thất về tinh thần do đã xâm phạm đến danh

dự, nhân phẩm, uy tín của chủ thể khác thì chủ thể thực hiện đều phải chịu tráchnhiệm đối với hậu quả do hành vi của mình gây ra

Như vậy, hành vi trái pháp luật là một yếu tố thuộc mặt khách quan củacấu thành vi phạm pháp luật dân sự và là một trong những căn cứ quan trọng đểxem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy

Trang 27

tín của cá nhân Vì vậy, khi áp dụng pháp luật, những người tiến hành tố tụngphải thận trọng, xem xét một cách khách quan, toàn diện , đặt hành vi trái phápluật đó trong hoàn cảnh, không gian cụ thể

1.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật

Khi đề cập đến mối quan hệ nhân quả là nói đến sự liên hệ mật thiết giữahai hiện tượng trong thế giới khách quan có sự tác động, chuyển hóa lẫn nhau,trong đó hiện tượng thứ nhất đóng vai trò là nguyên nhân, hiện tượng thứ haiđóng vai trò là kết quả Nguyên nhân nào thì sẽ cho kết quả ấy, nguyên nhân làcái có trước, kết quả là cái có sau, nguyên nhân là yếu tố quyết định đến kết quả.Khoa học luật dân sự không có lý luận riêng về mối quan hệ nhân quả giữa hành

vi trái pháp luật và hậu quả thiệt hại xảy ra Mối quan hệ nhân quả trong phápluật dân sự được xây dựng trên cơ sở cặp phạm trù nhân quả của Chủ nghĩa duyvật biện chứng của triết học Mác-Lênin Theo đó, mối quan hệ nhân quả ở đâyđược hiểu là mối quan hệ giữa hành vi khách quan (hành vi trái pháp luật) vớihậu quả (thiệt hại thực tế xảy ra) Nếu chúng ta coi hành vi trái pháp luật, biểuhiện của vế thứ nhất của cặp phạm trù là nguyên nhân thì thiệt hại xảy ra đượcbiểu hiện ở vế thứ hai của cặp phạm trù là kết quả và biểu hiện cho mối liên hệ

ấy chính là mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với hậu quả thiệt hạixảy ra

Trong pháp luật dân sự, việc làm rõ mối quan hệ nhân quả có ý nghĩa đặcbiệt quan trọng bởi nó không chỉ làm rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi tráipháp luật với hậu quả thiệt hại xảy ra mà còn đồng nghĩa với việc trả lời được haicâu hỏi khi xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uytín của cá nhân bị xâm phạm:

- Có hay không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại?

Trang 28

- Nếu nhiều người gây thiệt hại cho một người hoặc cả người gây thiệt hại

và người bị thiệt hại cùng có lỗi thì mức bồi thường thiệt hại được xác định nhưthế nào?

Trong thực tế, việc xác định mối quan hệ giữa hành vi trái pháp luật vớihậu quả thiệt hại xảy ra tương đối phức tạp, biểu hiện dưới nhiều hình thức khácnhau, đặc biệt trong những trường hợp gây thiệt hại đến danh dự, nhân phẩm, uytín của cá nhân Có hai dạng phổ biến là: dạng nhân quả đơn trực tiếp và dạngnhân quả kép trực tiếp Nếu như ở dạng nhân quả đơn trực tiếp thì việc xác địnhtrách nhiệm bồi thường sẽ rất đơn giản, vì ở đó chỉ có một hành vi trái pháp luậtđóng vai trò là nguyên nhân và thiệt hại xảy ra chính là hậu quả trực tiếp từnguyên nhân hành vi trái pháp luật đó Ví dụ: A viết đơn vu khống nhằm mụcđích bôi xấu làm cho B hoang mang, lo sợ, tổn thất về mặt tinh thần Ngược lại,dạng nhân quả kép trực tiếp thì việc xác định trách nhiệm bồi thường sẽ rất khókhăn, phức tạp vì ở đó có nhiều hành vi trái pháp luật đóng vai trò là nguyênnhân đối với một thiệt hại xảy ra Mặt khác, trong dạng quan hệ nhân quả kép, cótrường hợp một thiệt hại xảy ra có thể do nhiều hành vi trái pháp luật của mộtchủ thể hoặc nhiều chủ thể khác nhau làm phát sinh hậu quả thiệt hại hoặc cótrường hợp thiệt hại xảy ra lại do một hành vi trái pháp luật khác xen vào

Khi nghiên cứu mối quan hệ nhân quả, cần phân biệt giữa nguyên nhânvới điều kiện Nguyên nhân chính là cái trực tiếp gây ra thiệt hại, điều kiệnkhông phải là cái trực tiếp gây ra thiệt hại nhưng nó có tác động thúc đẩy hoặckìm hãm quá trình thiệt hại xảy ra Trong mối quan hệ nhân quả, nguyên nhân làyếu tố quyết định, còn điều kiện là yếu tố quan trọng dẫn đến kết quả Tóm lạigiữa nguyên nhân và điều kiện có mối quan hệ tương tác với nhau, không có việchiện tượng này chỉ đóng vai trò là nguyên nhân còn hiện tượng kia chỉ đóng vaitrò là điều kiện Thông thường, sự thiệt hại là do nhiều nguyên nhân khác nhauchứ không phải do một nguyên nhân gây ra Các nguyên nhân không tồn tại độclập mà phối hợp với nhau sinh ra kết quả, nếu thiếu một trong số các nguyênnhân thì kết quả sẽ không xảy ra

Trang 29

Một hành vi trái pháp luật mới chỉ có khả năng gây ra thiệt hại chứ chưaxác định được một cách hoàn toàn thiệt hại sẽ xảy ra Trong những điều kiện,hoàn cảnh khác nhau sẽ có những kết quả khác nhau Vì vậy khi xem xét mốiquan hệ nhân quảgiữa hành vi trái pháp luật với hậu quả xảy ra để xác định tráchnhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhânđòi hỏi những người làm công tác áp dụng pháp luật phải xem xét một cáchkhách quan và toàn diện trên cơ sở duy vật biện chứng về mối quan hệ nhân quảmới có thể đảm bảo giải quyết các vụ án đúng pháp luật.

1.4 Có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại

Trong luật dân sự, lỗi là điều kiện làm căn cứ phát sinh trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại dodanh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân nói riêng Một người có hành vi tráipháp luật gây thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với hậu quả của hành

vi đó nếu họ có lỗi Vì vậy, xác định lỗi trong luật dân sự là rất quan trọng vì đó

là căn cứ để xác định trách nhiệm cá nhân của người gây thiệt hại và là căn cứ đểxác định mức bồi thường thiệt hại

Lỗi là dấu hiệu thuộc mặt chủ quan phản ánh chủ thể đã lựa chọn thựchiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi có đủ điều kiện lựa chọn thực hiện hành vikhác phù hợp với đòi hỏi của xã hội.Lỗi cũng được hiểu là trạng thái tâm lý củacon người, nhận thức được tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi và hậu quảcủa hành vi do mình gây ra Lỗi trong pháp luật dân sự được thể hiện dưới haihình thức: cố ý hoặc vô ý Khoản 2 Điều 308 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

“Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.

Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại

Trang 30

sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.”

Lỗi được cấu thành bởi hai yếu tố: lý trí và ý chí Lý trí thể hiện năng lựcnhận thức thực tại khách quan, còn ý chí là yếu tố biểu hiện nănglựcđiều khiểnhành vi trên cơ sở nhận thức thực tại khách quan Hay nói cách khác, ý chí biểuhiện năng lực điều khiển hành vi trên cơ sở nhận thức và còn là yếu tố tâm lý cầnthiết của mọi hành động có ý thức của con người

Nhằm bảo vệ lợi ích của người bị thiệt hại, pháp luật dân sự cho phép suyđoán lỗi Bởi lẽ khác với trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự cho phép suyđoán lỗi vì người có hành vi trái pháp luật về nguyên tắc chung là có lỗi Điều

604 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “ Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” Và ngay cả trong một số trường hợp phải bồi thường khi không có lỗi:

“Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó” Như vậy, khi xem xét

trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bịxâm phạm thì lỗi được xem là thước đo đánh giá thái độ, mức độ vi phạm củangười gây thiệt hại để làm căn cứ xác định mức bồi thường cũng như hình thứcbồi thường

Qua nghiên cứu chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung,trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cánhân nói riêng được quy định trong Bộ luật dân sự 2005, ta thấy: mặc dù lỗitrong dân sự được phép suy đoán nhưng không có nghĩa là được suy diễn tùytiện, mà phải coi việc xác định lỗi là một yêu cầu bắt buộc Đặc biệt đối với các

vụ án có lỗi hỗn hợp, đòi hỏi người làm công tác áp dụng pháp luật phải xác địnhđúng mức độ lỗi của các bên trong mối quan hệ nhân quả giữa lỗi hành vi vớihậu quả, nghĩa là phải xem xét xem người gây thiệt hại đã vận dụng hết các khả

Ngày đăng: 18/10/2017, 15:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS. TS Đinh Văn Thanh (Chủ biên), TS. Phạm Văn Tuyết, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (Quyển 2), Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (Quyển 2)
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam
2. TS. Lê Đình Nghị (Chủ biên), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập 1, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập 1
Nhà XB: Nhàxuất bản giáo dục Việt Nam
3. TS. Lê Đình Nghị (Chủ biên), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập 2, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập 2
Nhà XB: Nhàxuất bản giáo dục Việt Nam
1. Tưởng Duy Lượng (2003), “Nguyên tắc tính mức bồi thường do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm hại”, tạp chí Tòa án nhân dân số 04/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc tính mức bồi thường do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm hại
Tác giả: Tưởng Duy Lượng
Năm: 2003
2. Th.S Đinh Văn Quế, “Một số vấn đề về khoản tiền bù đắp về tinh thần do bị xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín quy định trong Bộ luật dân sự 2005”, http://toaan.gov.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về khoản tiền bù đắp về tinh thần do bị xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín quy định trong Bộ luật dân sự 2005
3. Nguyễn Tôn, “Bồi thường tổn thất tinh thần do sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm”, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi thường tổn thất tinh thần do sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm
4. Th.S Nguyễn Minh Oanh (2010) , “Khái niệm chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại”, Khoa pháp luật dân sự, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại
3. Nghị quyết số 03/2006/NQ - HĐTP ngày 08/10/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.♦ Giáo trình và tài liệu tham khảo khác Khác
4. Bản án số 14/2015/DS-ST ngày 09,10/12/2015 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy về Tranh chấp liên quan đến hoạt động báo chí.♦ Bài viết, tạp chí Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w