Ở nước ta những năm gần đây, tỉ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ bị vô sinh, hiếm muộn ngày càng gia tăng. Do đó, mong muốn có con của nhiều cặp vợ chồng trở nên bức thiết hơn bao giờ hết. Theo các chuyên gia y tế, tình trạng vô sinh hiện nay ở Việt Nam có nhiều nguyên nhân như: Vô sinh do tự nhiên; do môi trường sống không tốt; điều kiện lao động độc hại, nguy hiểm. Ngoài ra, các lối sống thiếu lành mạnh như nghiện bia rượu, nghiện ma túy, mắc bệnh lây nhiễm qua đường tình dục do quan hệ tình dục không an toàn, biến chứng do nạo hút thai... cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên. Do đó, việc cho phép mang thai hộ giúp các cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn có thể được thỏa mãn khát vọng làm cha, làm mẹ. Bởi vậy, đó có thể coi là một chính sách đúng đắn và hết sức nhân văn. Luật hôn nhân và gia đình 2014 đã mở rộng quy định về vấn đề này, đó là các cặp vợ chồng có thể được nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Vậy điều kiện để có thể được mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là gì? Trong phạm vi bài tiểu luận dưới đây sẽ tìm hiểu và làm rõ về vấn đề này. B. Nội dung I. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của quy định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo 1. Cơ sở lý luận Luật Hôn nhân gia đình sửa đổi chính thức có hiệu lực từ ngày 112015. So với Luật cũ, Luật Hôn nhân gia đình sửa đổi có nhiều điểm mới, trong đó có quy định cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, tạo thêm cơ hội có con cho các cặp gia đình hiếm muộn. Tuy nhiên, hoạt động này cũng sẽ được kiểm soát chặt để tránh xảy ra tình trạng thương mại hóa. Theo đó, Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định “Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con” còn “Mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác”. Việc quy định nhờ mang thai hộ là vì người vợ không có khả năng sinh con, nhưng vợ chồng muốn duy trì hạnh phúc hoặc là nuôi con nuôi, hoặc là nhờ người mang thai hộ để có đứa con chung là nguồn vui, là niềm hạnh phúc của cặp vợ chồng hiếm muộn. Mang thai hộ trước tiên thể hiện tính nhân đạo, đồng thời cũng thể hiện tính nhân văn sâu sắc, nó không làm tổn thương hạnh phúc gia đình, bởi vì được thể hiện bằng nguyện vọng chính đáng, bằng sự thỏa thuận của các bên và điều quan trọng nhất là cặp vợ chồng đó đã biết được khả năng sinh sản của bản thân, nếu họ không chấp nhận nhờ mang thai hộ thì có thể họ ly hôn, hoặc sẽ gây hậu quả khó lường trong cuộc sống.
Trang 1A Mở đầu
Ở nước ta những năm gần đây, tỉ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ bị
vô sinh, hiếm muộn ngày càng gia tăng Do đó, mong muốn có con của nhiều cặp vợ chồng trở nên bức thiết hơn bao giờ hết Theo các chuyên gia y tế, tình trạng vô sinh hiện nay ở Việt Nam có nhiều nguyên nhân như: Vô sinh do tự nhiên; do môi trường sống không tốt; điều kiện lao động độc hại, nguy hiểm Ngoài ra, các lối sống thiếu lành mạnh như nghiện bia rượu, nghiện ma túy, mắc bệnh lây nhiễm qua đường tình dục do quan hệ tình dục không an toàn, biến chứng do nạo hút thai cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên Do đó, việc cho phép mang thai hộ giúp các cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn có thể được thỏa mãn khát vọng làm cha, làm mẹ Bởi vậy, đó có thể coi là một chính sách đúng đắn và hết sức nhân văn Luật hôn nhân và gia đình 2014 đã
mở rộng quy định về vấn đề này, đó là các cặp vợ chồng có thể được nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Vậy điều kiện để có thể được mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là gì? Trong phạm vi bài tiểu luận dưới đây sẽ tìm hiểu và làm rõ
về vấn đề này
B Nội dung
I Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của quy định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
1 Cơ sở lý luận
Luật Hôn nhân gia đình sửa đổi chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2015 So với Luật cũ, Luật Hôn nhân gia đình sửa đổi có nhiều điểm mới, trong đó có quy định cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, tạo thêm cơ hội có con cho các cặp gia đình hiếm muộn Tuy nhiên, hoạt động này cũng sẽ được kiểm soát chặt để tránh xảy ra tình trạng thương mại hóa Theo đó, Điều 3 Luật Hôn nhân
và Gia đình 2014 quy định “Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp
vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người
Trang 2chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con” còn “Mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác” Việc quy định nhờ mang thai hộ là vì người vợ không có khả năng sinh
con, nhưng vợ chồng muốn duy trì hạnh phúc hoặc là nuôi con nuôi, hoặc là nhờ người mang thai hộ để có đứa con chung là nguồn vui, là niềm hạnh phúc của cặp vợ chồng hiếm muộn Mang thai hộ trước tiên thể hiện tính nhân đạo, đồng thời cũng thể hiện tính nhân văn sâu sắc, nó không làm tổn thương hạnh phúc gia đình, bởi vì được thể hiện bằng nguyện vọng chính đáng, bằng sự thỏa thuận của các bên và điều quan trọng nhất là cặp vợ chồng đó đã biết được khả năng sinh sản của bản thân, nếu họ không chấp nhận nhờ mang thai hộ thì có thể họ ly hôn, hoặc sẽ gây hậu quả khó lường trong cuộc sống
Ngày 28/01/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 10/2015/NĐ-CP quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai
hộ vì mục đích nhân đạo Theo đó, các cặp vợ chồng vô sinh có quyền nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện Vợ chồng nhờ mang thai hộ, người mang thai hộ và trẻ sinh ra nhờ mang thai hộ được được tư vấn về y tế, pháp lý và tâm lý; được bảo đảm an toàn về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và được pháp luật tôn trọng, bảo vệ Việc bổ sung quy định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thể hiện tính nhân văn
và đáp ứng nhu cầu làm cha mẹ chính đáng của các cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Những người mẹ không thể mang thai vì nhiều nguyên nhân nhưng vẫn có trứng và có nhu cầu sinh con; có những người có bệnh lý ở tử cung và không thể mang thai, kể cả đã được hỗ trợ sinh sản và cũng có người cứ mang thai là bị rối loạn đông máu
Việc nới lỏng quy định này là cần thiết, chắc chắn nó sẽ mang đến hạnh phúc cho nhiều gia đình và giúp ổn định xã hội vì gia đình là tế bào của xã hội Gia
Trang 3đình hạnh phúc và bền vững sẽ là một nhân tố quan trọng trong sự phát triển đất nước
2 Cơ sở thực tiễn
Những đứa con sinh ra là hạnh phúc và niềm tự hào lớn nhất của cha mẹ Thế nhưng, vẫn có những hoàn cảnh mà ở đó niềm hạnh phúc không được vẹn tròn với những cặp vợ chồng bị vô sinh, hiếm muộn, khó có con Khoảng 15% các cặp vợ chồng mới cưới muốn có con nhưng không được toại nguyện và cần đi khám về sức khỏe sinh sản Các dữ liệu gần đây cho thấy, cứ 100 cặp vợ chồng
vô sinh thì có khoảng 30 cặp là vô sinh do nam giới đơn thuần, 20 cặp là vô sinh
do cả hai phía nam và nữ Còn lại nguyên nhân là từ phía nữ đơn thuần
Tại Việt Nam, tỉ lệ sinh sản đã giảm đều đặn trong vòng 2 thập kỷ qua Theo báo cáo kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia dân số và kế hoạch hóa gia đình năm 2011, 2012 và ước thực hiện năm 2013 của Tổng cục Dân số
và Kế hoạch hóa gia đình, các nước trên thế giới phải trải qua nhiều thập kỷ
nhưng Việt Nam chỉ mất có 3 năm, từ 2005 đến 2008, đã chuyển từ cơ cấu dân
số trẻ sang giai đoạn già hóa Dự báo trong tương lai, nước ta sẽ phải đối mặt với
sự thiếu hụt dân số đáng kể Tại các đô thị, tỉ lệ phụ nữ đang trì hoãn mang thai ngày càng tăng Nghiên cứu trên toàn quốc do Bệnh viện Phụ sản trung ương và Đại học Y Hà Nội tiến hành trên 14.300 cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ (15-49) ở 8 tỉnh đại diện cho 8 vùng sinh thái ở nước ta cũng xác định tỉ lệ vô sinh của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ là 7,7%, nghĩa là có từ 700.000 đến 1 triệu cặp vợ chồng vô sinh, trong đó vô sinh nguyên phát là 3,9% và vô sinh thứ phát là 3,8% Vấn đề vô sinh đang là một gánh nặng của ngành y tế Việt Nam Đáng báo động có khoảng 50% cặp vợ chồng vô sinh có độ tuổi dưới 30 Theo
Tổ chức Y tế Thế giới, tỉ lệ vô sinh trên thế giới trung bình từ 6%-12%
II Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo pháp luật hiện
hành
Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định “Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn
Trang 4bản” (Điều 95) và “Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không được trái với quy định của pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản”
Có thể nói Luật đã đưa ra được một nguyên tắc cụ thể, rõ ràng trong trường hợp mang thai hộ là rất cần thiết, là cơ sở pháp lý vững chắc cho các bên
kí kết thỏa thuận mang thai hộ Tuy nhiên, pháp luật cần làm rõ hơn như thế nào
là “nhân đạo”, cần phải hiểu “nhân đạo” nghĩa là không gắn với mục đích kinh
tế, thương mại mà đơn thuần chỉ là sự giúp đỡ hoàn toàn tự nguyện của bên mang thai hộ đối với bên nhờ mang thai hộ
Về điều kiện mang thai hộ, Điều 95 Luật Hôn nhân gia đình 2014 cũng đã quy định cụ thể về điều kiện của cả hai chủ thể trong quan hệ pháp luật mang thai hộ là điều kiện của người nhờ mang thai hộ và người nhờ mang thai hộ
1 Điều kiện của người nhờ mang thai hộ
Khoản 2 Điều 95 Luật Hôn nhân gia đình 2014 cũng quy định cụ thể về điều kiện của người nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, theo đó, vợ chồng có quyền nhờ người phụ nữ khác mang thai hộ khi có đủ những điều kiện sau:
Thứ nhất, Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ
không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
Để tránh tình trạng nhờ ngưới khác mang thai hộ một cách bừa bãi, việc quy định chỉ trong những trường hợp đặc biệt mới được phép mang thai hộ là rất cần thiết, giúp hạn chế việc lợi dụng mang thai hộ trong khi chính người phụ nữ vẫn
có khả năng làm mẹ, đồng thời đó cũng là một cách để hạn chế việc thương mại hóa mang thai hộ Điều đáng chú ý là, người nhờ mang thai hộ là vợ chồng mà ngưới vợ trong cặp vợ trong cặp vợ chồng đó không thể tự mình mang thai và sinh con dù đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Vợ chồng trong trường hợp này phải là những người có hôn nhân hợp pháp, nghĩa là phải đăng kí kết hôn hoặc quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987 (ngày Luật HN&GĐ năm 1986 có hiệu lực) Thiết nghĩ, pháp luật quy định chặt chẽ như vậy để loại trừ các trường hợp không phải là vợ chồng hợp pháp, nam nữ sống chung như vợ chồng… bởi nếu hai người nam, nữ chỉ sống
Trang 5chung mà không đăng kí kết hôn nhờ người mang thai hộ, đến khi đứa trẻ sinh
ra, họ không thể tiếp tục chung sống với nhau nữa thì quyền và lợi ích của đứa trẻ sẽ bị ảnh hưởng
Về xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản thì theo Nghị định
số 10/2015/NĐ-CP của Chính Phủ Quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ cần phải có bản xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm về việc người vợ có bệnh lý, nếu mang thai sẽ có nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người mẹ, thai nhi và người mẹ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi
áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Cũng tại Điều 7 của nghị định này thì các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm bao gồm: Cơ sở phụ sản, sản - nhi của Nhà nước từ tuyến tỉnh trở lên, Bệnh viện đa khoa tư nhân có khoa sản, khoa sản – nhi, Bệnh viện chuyên khoa phụ sản, chuyên khoa sản - nhi tư nhân và Bệnh viện chuyên khoa nam học và hiếm muộn Các cơ sở khám chữa bệnh này có nhiệm vụ phải đảm bảo tính chính xác của kết luận hay xác nhận đồng thời chịu trách nhiệm về những kết luận, xác nhận đó của mình
Thứ hai, Vợ chồng đang không có con chung.
Chỉ cho phép áp dụng mang thai hộ khi vợ chồng chưa có con chung, bởi lẽ mang thai hộ là nhằm mục đích nhân đạo, là một nhĩa cử cao đẹp giữa những người phụ nữ với nhau, giống một sự hỗ trợ, giúp đỡ để những ngưới kém may mắn có thể hưởng niềm vui được làm mẹ, khi niềm khao khát có một đứa con ruột thịt được thành hiện thực thì niềm hạnh phúc làm mẹ thật thiêng liêng, đáng trân trọng Quy định trên cũng góp phần hạn chế việc nhờ mang thai hộ tràn lan,
dù biết rằng mang thai hộ là giải pháp tối ưu cho người phụ nưc không thể man thai và sinh con nhưng không vì thế mà xem thường những ảnh hưởng của việc mang thai họ đối với sức khỏe của người phụ nữ mang thai hộ
Trang 6Thứ ba, Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.
Luật HN&GĐ 2014 quy định tư vấn về y tế, pháp lý và tâm lý là điều kiện bắt buộc trước khi tiến hành quá trình mang thai hộ là hoàn toàn hợp lý Bởi thông qua việc tư vấn, người nhờ mang thai hộ được cung cấp thông tin về mặt y tế, mặt pháp lý cũng như mặt tâm lý để chuẩn bị tâm lý sẵn sang cũng như hiểu biết các quyền và nghĩa vụ của mình Từ chỗ hiểu được các quyền và nghĩa vụ của mình, người nhờ mang thai hộ sẽ có những ứng xử phù hợp với quy định của pháp luật, giúp hạn chế những tranh chấp giữa các bên trong quan hệ mang thai hộ
Theo Nghị định số 10/2015/NĐ-CP của Chính Phủ thì người nhờ mang thai
hộ được tư vấn những nội dung về y tế, pháp lý và tâm lý sau:
Về y tế:
- Các phương án khác ngoài việc mang thai hộ hoặc xin con nuôi;
- Quá trình thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và mang thai hộ;
- Các khó khăn khi thực hiện mang thai hộ;
- Tỷ lệ thành công của kỹ thuật có thể rất thấp nếu dự trữ buồng trứng của người vợ thấp hoặc người vợ trên 35 tuổi;
- Chi phí điều trị cao;
- Khả năng đa thai;
- Khả năng em bé bị dị tật và có thể phải bỏ thai;
- Các nội dung khác có liên quan
Về pháp lý:
- Xác định cha mẹ con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định tại Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình
- Quyền, nghĩa vụ của người mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định tại Điều 97 Luật Hôn nhân và gia đình
- Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định tại Điều 98 Luật Hôn nhân và gia đình
- Các nội dung khác có liên quan
Trang 7 Về tâm lý:
- Các vấn đề về tâm lý trước mắt và lâu dài của việc nhờ mang thai hộ, người thân và bản thân đứa trẻ sau này;
- Người mang thai hộ có thể có ý định muốn giữ đứa bé sau sinh;
- Hành vi, thói quen của người mang thai hộ có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của đứa trẻ;
- Tâm lý, tình cảm khi nhờ người mang thai và sinh con;
- Thất bại và tốn kém với các đợt điều trị mang thai hộ có thể gây tâm lý căng thẳng, mệt mỏi;
- Các nội dung khác có liên quan
2 Điều kiện của người mang thai hộ
Thứ nhất, Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ
mang thai hộ.
Đối với quy định người mang thai hộ là người thân thích của vợ, chồng của người nhờ mang thai hộ, có ý kiến cho rằng nên mở rộng đối tượng được phép mang thai hộ Tuy nhiên, xét một khía cạnh khác của vấn đề này, việc mở rộng đối tượng cho phép mang thai hộ lại chứa đựng nhiều bất ổn có thể tồn tại trong thực tiễn, nhất là khi cơ sở để phân biệt nhân đạo và thương mại lại rất mong manh, khó xác định Do đó, việc quy định như trong Luật là chỉ cho phép đối tượng được nhờ mang thai hộ là người thân thích của vợ, chồng bên nhờ mang thai hộ bảo đảm hạn chế phát sinh các quan hệ mang thai hộ vì mục đích thương mại, nhờ đó sẽ hạn chế những biến tướng của việc mang thai hộ đồng thời cũng ngăn chặn những nguy cơ có thể phá vỡ kết cấu và hạnh phúc gia đình Hơn nữa, với điều kiện thực tế và cơ chế pháp lý còn khá mỏng ở Việt Nam hiện nay, việc quy định như vậy là phòng tránh nhiều rủi ro có thể xảy ra trong đời sống xã hội Người thân thích được hiều là người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người
có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ trong phạm vi ba đời (Điều 3 Luật HN&GĐ 2014) Quan hệ hôn nhân được hiểu là quan hệ vợ chồng sau khi kết hôn hợp pháp, được pháp luật thừa nhận, còn quan hệ nuôi dưỡng được hiểu là
Trang 8quan hệ giữa cha mẹ và con được hình thành dựa trên sự kiện sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi Quan hệ cha mẹ và con trên cơ sở huyết thống được thể hiện qua giấy khai sinh hoặc Quyết định công nhân cha, mẹ, con của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận là phát sinh quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi
Nghị định số 10/2015/NĐ-CP của Chính Phủ cũng đã chỉ rõ người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ ở đây bao gồm: Anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì của họ; anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha với họ Như vậy, chỉ những người được quy định trên đây mới có thể được mang thai hộ cho cặp
vợ chồng nhờ mang thai hộ
Để đảm bảo không trái với thuần phong mỹ tục của người Việt (mẹ ruột mang thai hộ cho con đẻ, mẹ chồng mang thai hộ con dâu…) pháp luật cũng đã chú ý
để quy định người thân thích phải cùng hang Quy định chặt chẽ như vậy là đúng đắn, phù hợp đồng thời loại bỏ tính vụ lợi trong qua trình thực hiện việc mang thai hộ
Thứ hai, Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần.
Việc đạt điều kiện người mang thai hộ đã từng có thai và sinh con để đảm bảo rằng họ có kinh nghiệm cho việc mang thai Đồng thời, quy định này cũng nhằm đảm bảo sức khỏe cho cả mẹ và con Mang thai và sinh con là cả một quá trình
mà người phụ nữ đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau của thai kỳ, phải có chế
độ ăn uống, nghỉ ngơi, chăm sóc đặc biệt để đảm bảo thai nhi phát triển khỏe mạnh Việc yêu cầu người phụ nữ đã từng sinh đẻ là điều cần thiết bởi nếu chưa từng mang thai, sinh con, người phụ nữ sẽ gặp phải nhiều khó khan khi mang thai, thiếu kỹ năng, thiếu kinh nghiệm khiến người phụ nữ không biết cách phòng ngừa những biến chứng, những tác động không tốt đến sức khỏe của thai nhi từ đó ảnh hưởng tới sự thành công của việc mang thai hộ
Trang 9Thứ ba, Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về
khả năng mang thai hộ.
Khả năng mang thai hộ của người mang thai hộ là việc người mang thai hộ được tổ chức y tế có thẩm quyền xác nhận có đủ điều kiện để thực hiện việc mang thai và sinh con Khả năng này được xác định gồm những điều kiện về độ tuổi, sức khỏe
Theo các nhà khoa học, độ tuổi và sức khở của người mang thai hộ đóng vai trò quan trọng vào sự thành công của một “ca” mang thai hộ Mang thai hộ không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe của chính người mang thai hộ mà còn ảnh hưởng tới phôi được cấy vào trong tử cung của người phụ nữ đó Chúng ta đều biết thời kỳ mang thai là thời kỳ vô cùng nhạy cảm đối với người phụ nữ, thời gian này, người phụ nữ thường mệt mỏi, căng thẳng, sức đề kháng kém hơn bình thường Vì vậy, đòi hỏi người phụ nữ phải có đủ sức khỏe để thụ thai, mang thai
mà để đạt được những điều này, ngoài những quy định khắt khe về y học như: không mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV-AIDS, bệnh tâm thần, bệnh truyền nhiễm hay các bệnh di truyền khác thì việc yêu cầu khung độ tuổi được phép mang thai là rất cần thiết Độ tuổi sinh sản tốt nhất cho người phụ nữ
là khoảng từ 20-30 tuổi, lúc này cơ thể người phụ nữ đã phát triển đầy đủ cả về tâm sinh lý cho việc mang thai là làm mẹ, khả năng sinh sản của phụ nữ bắt đầu suy giảm từ 30-35 tuổi, sau đó giảm nghiêm trọng khi quá 35 tuổi, đến 45 tuổi thì khả năng sinh sản rất thấp thậm chí có những người không còn khả năng sinh sản khi bước vào thời kỳ mãn kinh Như vậy, tuổi tác và sức khỏe đóng vai trò quan trọng trong khả năng sinh sản bởi sự rụng trứng có thể bất thường hoặc không xảy ra và tử cung không đủ khả năng nuôi dưỡng thai
Thứ tư, Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng
ý bằng văn bản của người chồng.
Mang thai hộ là vấn đề hết sức phức tạp và nhạy cảm, dễ phát sinh tranh chấp nên việc quy định phải được sự đồng ý bằng văn bản của người chồng là quy định bắt buộc Nếu không được sự đồng ý của người chồng hoặc sự đồng ý
Trang 10không được thể hiện dưới hình thức văn bản sẽ gây ra nhiều khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp đồng thời dẫn đến mâu thuẫn làm đổ vỡ hạnh phúc gia đình của người được nhờ mang thai hộ
Thứ năm, Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.
Tư vấn về y tế, pháp lý và tâm lý là điều kiện bắt buộc trước khi tiến hành quá trình mang thai hộ Thông qua việc tư vấn, người mang thai hộ được cung cấp thông tin vê mặt y tế, mặt pháp lý cũng như mặt tâm lý…
Theo Nghị định số 10/2015/NĐ-CP của Chính Phủ thì người mang thai hộ được tư vấn những nội dung về y tế, pháp lý và tâm lý sau:
Về y tế:
- Các nguy cơ, tai biến có thể xảy ra khi mang thai như sảy thai, thai ngoài tử cung, băng huyết sau sinh và các tai biến khác;
- Khả năng phải mổ lấy thai;
- Khả năng đa thai;
- Khả năng em bé bị dị tật và phải bỏ thai;
- Các nội dung khác có liên quan
Về pháp lý:
- Xác định cha mẹ con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định tại Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình
- Quyền, nghĩa vụ của người mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định tại Điều 97 Luật Hôn nhân và gia đình
- Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định tại Điều 98 Luật Hôn nhân và gia đình
- Các nội dung khác có liên quan
Về tâm lý:
- Tâm lý, tình cảm của người trong gia đình, bạn bè trong thời gian mang thai hộ;
- Tâm lý trách nhiệm đối với cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ nếu để sảy thai;
- Tác động tâm lý đối với con ruột của mình;