Thay vì sử dụng hàng đợi FIFO truyền thống Trong bộ mô phỏng NS2 được gọi với cái tên DropTail luận văn này sẽ nghiên cứu sâu các chiến lược quản lý hàng đợi động mà tiêu biểu là RED Ran
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
Trang 2Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn giúp đỡ của PGS TS Nguyễn Đình Việt Các kết quả được viết chung với các tác giả khác đều được sự đồng ý của tác giả trước khi đưa vào luận văn Trong toàn bộ nội dung nghiên cứu của luận văn, các vấn đề được trình bày đều là những tìm hiểu và nghiên cứu của chính cá nhân tôi hoặc là được trích dẫn từ các nguồn tài liệu có ghi tham khảo rõ ràng, hợp pháp
Trong luận văn, tôi có tham khảo đến một số tài liệu của một số tác giả được liệt kê tại mục tài liệu tham khảo
Hà nội, tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Hoàng Trọng Thủy
Trang 3Để hoàn thành tốt luận văn này, đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến Thầy Nguyễn Đình Việt, người đã tận tình và trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình triển khai và nghiên cứu đề tài, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Thứ hai, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Công nghệ thông tin, trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội đã dạy bảo tận tình tôi trong suốt quá trình tôi học tập tại khoa
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn bên
em cổ vũ, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn Mặc dù đã cố gắng hoàn thành luận văn trong phạm vi và khả năng cho phép nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót tôi rất mong được sự góp ý chân thành của thầy cô và các bạn để tôi hoàn thiện luận văn của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2016
Học viên
Hoàng Trọng Thủy
Trang 4MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự phát triển mạnh mẽ của mạng Internet ngày này kéo theo sự sự phát triển của các ứng dụng trên Internet Dữ liệu trao đổi trên mạng không chỉ đơn thuần là văn bản (text) nữa mà thêm vào đó là dữ liệu đa phương tiện (multimedia) bao gồm có hình ảnh (image), âm thanh (audio), phim, nhạc… Các ứng dụng đa phương tiện phổ biến có thể
kể đến như gọi điện qua mạng (Internet telephony), hội thảo trực tuyến (video conferencing) hoặc các ứng dụng xem video theo yêu cầu (video on demand) càng ngày càng được sử dụng rộng rãi Vấn đề đảm bảo chất lượng dịch vụ (QoS) đang trở nên quan trọng hơn bao giờ hết
2 MỤC ĐÍCH CỦA LUẬN VĂN
Do sự bùng nổ mạng mẽ của mạng Internet như hiện nay khiến cho dữ liệu vận chuyển quan mạng Internet trở nên khổng lồ, nhu cầu quá lớn khiến cho việc tắc nghẽn xảy ra thường xuyên và vấn đề đặt ra là làm sao hạn chế tối đa tắc nghẽn trên mạng Internet và duy trì sự ổn định cao nhất cho mạng Các kỹ thuật truyền thống nhằm giảm thiểu tắc nghẽn trên mạng ngày càng kém hiệu quả Mục đích của luận văn là nghiên cứu một giải pháp quản lý và điều khiển nhằm hạn chế tối đa tắc nghẽ trên mạng Internet Thay vì sử dụng hàng đợi FIFO truyền thống (Trong bộ mô phỏng NS2 được gọi với cái tên DropTail) luận văn này sẽ nghiên cứu sâu các chiến lược quản lý hàng đợi động mà tiêu biểu là RED (Random Early Detection of Congestion; Random Early Drop), Adaptive-RED, A-RIO (Adaptive – RED with In and Out)
3 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
a) Chương 1: Giới thiệu
b) Chương 2: Các chiến lược quản lý hàng đợi và khả năng áp dụng để đảm bảo QoS cho truyền thông đa phương tiện thời gian thực
c) Chương 3: Đánh giá hiệu quả đảm bảo QoS cho truyền thông đa phương tiện thời gian thực của một số chiến lược quản lý hàng đợi
Trang 5Chương 1 GIỚI THIỆU 1.1 Tổng quan về bộ giao thức TCP/IP và sự phát triển của mạng Internet
Giới thiệu chung
Năm 1967 từ một thí nghiệm mạng do Robert L.G đề xuất ARPA trực thuộc bộ quốc phòng Mỹ đã kết nối 4 địa điểm đầu tiên vào tháng 7 năm 1967 gồm: Viện nghiên cứu Standford, Đại học California tại Los Angeles, Đại học tổng hợp Utah và Đại học California tại Santa Barbara Đó là mạng WAN đầu tiên được xây dựng được gọi là ARPANET sau này là mạng Internet [17]
Bộ giao thức TCP/IP chính thức ra đời năm 1983 và được coi là chuẩn đối với ngành quân sự Mỹ và tất cả các máy tính nối với mạng ARPANET phải sử dụng theo chuẩn mới này Sự phát triển như vũ bão khiến cho mọi trường đại học đều muốn gia nhập vào mạng này và việc quản lý mạng trở nên khó khăn Chính vì lẽ đó mạng ARPANET được tách ra thành 2 phần là MILNET và ARPANET mới vào năm 1983, tuy tách rời nhưng hai mạng này vẫn liên kết với nhau nhờ giao thức liên mạng IP
Sự ra đời của TCP/IP đánh dấu mốc lịch sử quan trọng và càng ngày càng hiện rõ điểm mạnh của nó nhất là khả năng liên kết các mạng khác với nhau một cách dễ dàng Vào thập kỷ 80 khi hội đồng Khoa học quốc gia Mỹ NSF (Nation Science Foundation) thành lập mạng liên kết các trung tâm máy tính lới với nhau gọi là NSFNET Các doanh nghiệp đã chuyển từ ARPANET sang NSFNET Sau gần 20 năm hoạt động ARPANET
đã dừng hoạt động vào khoảng năm 1990
Sự phát triển của backbone NSFNET và những mạng khác đã tạo ra mội trường thuận lợi cho sự phát triển của Internet Năm 1995 NSFNET thu lại thành một mạng nghiên cứu và Internet thì tiếp tục phát triển Cùng với khả năng kết nối mở Internet đã trở thành một mạng lớn nhất thế giới, mạng của các mạng xuất hiện trong mọi linh vực thương mại, chính trị, quân sự, xã hội… Ngày nay khi cơ sở hạ tầng của mạng Internet được nâng cao đã làm cho nhu cầu của các ứng dụng đa phương tiện qua mạng tăng lên nhanh chóng
Trang 61.2 Tổng quan về truyền thông đa phương tiện (Multimedia) và chất lượng dịch
vụ (QoS)
1.2.1 Giới thiệu chung về truyền thông đa phương tiện (Multimedia)
Trước đây, khi mà Internet chủ yếu là truyền data thì người ta không cần quan tâm đến việc phân biệt và ưu tiên cho các gói tin bởi vì lúc này băng thông mạng và các tài nguyên khác đủ để cung cấp cho các ứng dụng trong mạng, vì vậy các ISPs sẽ cung cấp cho khách hàng của họ dịch vụ theo kiểu “Cố gắng tối đa” (Best-Effort - BE) khi đó tất
cả các khách hàng sẽ được đối xử như nhau họ chỉ khác nhau ở loại kết nối Đây là dịch
vụ phố biến trên mạng Internet hay mạng IP nói chung Các gói thông tin được truyền
đi theo nguyên tắc “đến trước được phục vụ trước” mà không quan tâm đến đặc tính lưu lượng của dịch vụ là gì Điều này dẫn đến rất khó hỗ trợ các dịch vụ đòi hỏi độ trễ thấp như các dịch vụ thời gian thực hay video Cho đến thời điểm này, đa phần các dịch vụ được cung cấp bởi mạng Internet vẫn sử dụng nguyên tắc Best Effort này
Dữ liệu động ở đây thường là Audio hoặc Video và các ứng dụng truyền thông loại
dữ liệu trên được gọi chung là ứng dụng đa phương tiện Loại dữ liệu này rất nhạy cảm với độ trễ nhưng lại cho phép sự mất mát gói tin trong một ngưỡng chấp nhận được Tính chất hoàn toàn trái ngược với các ứng dụng truyền thống nên nó đòi hỏi chất lượng dịch vụ khác hoàn toàn với các ứng dụng truyền thống Tùy theo từng yêu cầu về chất lượng dịch vụ có thể chia ứng dụng đa phương tiện thành 3 lớp cơ bản sau:
Truyền audio và video đã được lưu trữ
Truyển audio và video thời gian thực
Ứng dụng tương tác audio và video thời gian thực
Trang 71.2.2 Giới thiệu chung về chất lượng dịch vụ (QoS)
Quality of Service – QoS: chỉ khả năng cung cấp các dịch vụ mạng cho một lưu
lượng nào đó Mục đích chính là điều khiển băng thông, độ trễ và jitter Giảm độ trễ, giảm tỉ lệ mất mát gói tin cho các ứng dụng thời gian thực và tương tác trong khi vẫn đảm bảo phục vụ tốt cho các luồng dữ liệu khác
Theo khuyến nghị của CCITT, E800 đưa ra một tính chất chung qua QoS: “Hiệu ứng chung của đặc tính chất lượng dịch vụ là xác định mức độ hài lòng của người sử dụng đối với chất lượng dịch vụ”
Khuyến nghị ETR300003 của ETSI chia và cải tiến định nghĩa của ITU thành các định nghĩa nhỏ hơn, nó phù hợp với các yêu cầu và quan điểm của các nhóm khác nhau trong viễn thông đó là:
Yêu cầu QoS của người sử dụng
Đề nghị QoS của nhà cung cấp dịch vụ
Sử cảm nhận QoS từ khách hàng
Việc thực hiện QoS của nhà cung cấp dịch vụ
Yêu cầu QoS của nhà cung cấp dịch vụ
Các tham số QoS chính liên quan đến mạng bao gồm:
a) Độ trễ (Delay)
b) Thông lượng (Throughput): là khả năng truyền tin được tính bằng tổn số đơn vị
dữ liệu truyền được trong 1 đơn vị thời gian ví dụ: packet/s
Best-Effort: Đây là mức thấp nhất, dịch vụ kết nối không đảm bảo đặc trưng bởi
hàng đợi FIFO, không có sự phân loại giữa các luồng dữ liệu
Trang 8 QoS Cứng: là sự đặt trước tài nguyên phục vụ cho một luồng dữ liệu xác định
trước thường được cung cấp bởi giao thức RSVP và CBR có trong kiến trúc IntServ
QoS Mềm: trong kiến trúc mạng phân loại (Differentiated service) dựa trên sự
phân loại các luồng dữ liệu theo nhiều mức ưu tiên thì một luồng dữ liệu nào đó
sẽ được ưu tiên phục vụ tốt hơn các luồn còn lại
Việc lựa chọn loại dịch vụ nào để triển khai trong mạng phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Ứng dụng hoặc tính chất của bài toán cần giải quyết
Chi phí cho cài đặt và triển khai dịch vụ
1.3 Các mô hình đảm bảo chất lượng dịch vụ
1.3.1 Mô hình các dịch vụ được tích hợp IntServ
1.3.2 Mô hình các dịch vụ phân biệt DiffServ
Trang 9Chương 2 CÁC CHIẾN LƯỢC QUẢN LÝ HÀNG ĐỢI VÀ KHẢ NĂNG
ÁP DỤNG ĐỂ ĐẢM BẢO QOS CHO TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG
TIỆN THỜI GIAN THỰC
Trong mạng chuyển mạch ip thì các gói tin thuộc các luồng dữ liệu khác nhau được truyền trên cùng đường truyền để đến trạm đích Để việc phân phối băng thông đường truyền đạt hiệu quả cao nhất thì cần một cơ chế phục vụ công bằng tại các nút mạng hoặc Router Router ở đây sẽ phục vụ các gói tin của luồng đã chọn và quyết định gói tin nào sẽ được phục vụ tiếp theo
2.1 Các chiến lược quản lý hàng đợi truyền thống
2.1.1 Hàng đợi FIFO (First in first out)
FIFO là hàng đợi mặc định được sử dụng trong hầu hết các router FIFO không có
sự phân loại vì tất cả các gói đều thuộc về cùng một lớp Các gói đến từ các luồng khác nhau được đối xử công bằng bằng cách đưa vào hàng đợi theo trật tự đến (gói nào đến trước sẽ được đưa vào trước và được phục vụ trước) theo đúng nghĩa First-Come-First-Serve (FCFS) hay First-In-First-Out (FIFO)
Hình 2.1: Cơ chế phục vụ FIFO
2.1.2 Chiến lược hàng đợi ưu tiên PQ ( Priority Queue )
Kĩ thuật này được sử dụng trong trường hợp đa hàng đợi, mỗi hàng đợi có một mức ưu tiên khác nhau, hàng đợi nào có mức ưu tiên cao nhất sẽ được ưu tiên phục vụ trước Khi có tắc nghẽn xảy ra thì các gói trong các hàng đợi có độ ưu tiên thấp sẽ bị
góisGói tin đến
Hàng đợi
Gói tin điLink
Trang 10loại bỏ Nói cách khác, lưu lượng quan trọng sẽ được gán các mức ưu tiên cao và lưu lượng có mức ưu tiên cao nhất được truyền trước, còn lại các lưu lượng ít quan trọng hơn
Hình 2.2: Cơ chế phục vụ hàng đợi ưu tiên PQ
2.1.3 Chiến lược Packet-Based Round Robin
Tương tự như chiến lược PQ đã trình bày ở phần trước Chiến lược này cũng dựa vào việc phân loại các gói tin đến theo từng luồng khác nhau mỗi luồng được xếp vào một hàng đợi và được phục vụ lần lượt theo vòng Tuy nhiên thay vì phục vụ theo mức
ưu tiền thì PBRR lại phục vụ lần lượt quay vòng từng hàng đợi, mỗi hàng đợi chỉ phục
vụ 1 gói tin Nếu hàng đợi nào rỗng thì bộ lập lịch sẽ bỏ qua không phục vụ
góisGói tin đến Hàng đợi 1
Gói tin điLink
Hàng đợi 2Phân loại
Trang 11Hình 2.3: Cơ chế phục vụ hàng đợi PBRR ( Packet-Based Round Robin)
Bộ lập lịch PBRR sẽ đối xử với các luồng dữ liệu giống nhau, nghĩa là không có mức độ ưu tiên dành cho các luồng có mức ưu tiên cao và nó cũng không quan tâm đến
độ dài hàng đợi hiện tại khiến cho những luồng có hàng đợi dài chứa nhiều gói tin cũng chỉ được cấp cho một lượng băng thông giống như các luồng khác Làm giảm hiệu suất
sử dụng đường truyền Không đáp ứng được băng thông cho các luồng dữ liệu multimedia
2.1.4 Chiến lược Flow-Based Weighted Fair Queuing (WFQ)
Các chiến lược đã nói trong phần trước đều dựa trên packet-base nghĩa là nó áp dụng cho từng gói tin theo đó mỗi lần phục vụ server sẽ chọn 1 gói tin theo mức độ ưu tiên của nó Ưu điểm của chiến lược này nó đạt được mức độ công bằng cao cho các gói tin nhưng lại chứa nhiều điểm hạn chế: Thứ nhất là chi phí gán nhãn cho từng gói tin là lớn và làm gia tăng độ phức tạp thuật toán và tiêu tốn tài nguyên của server Thứ 2 là các gói tin của cùng 1 luồng sẽ không được phụ vụ cùng 1 lúc mà bị gián đoạn bởi các gói tin của các luồng khác, điều này không phù hợp với các ứng dụng truyền thông đa phương tiện thời gian thực trên Internet cần độ liền mạch các gói tin Chính vì lẽ đó ta cần 1 cách tiếp cận hay 1 chiến lược khác là việc xác định và gán độ ưu tiên cho một luồng dữ liệu thay vì 1 gói tin riêng lẻ Các gói tin trong cùng 1 luồng dữ liệu sẽ có cùng
Trang 121 độ ưu tiên và được phục vụ liên tục Server sẽ phục vụ các luồng theo tứ tự ưu tiên hoặc trọng số, các gói tin trong cùng 1 luống sẽ được phục vụ theo cơ chế FIFO nghĩa
là gói tin nào đến trước được phục vụ trước Chiến lược này được gọi là Flow-Base Weighted Fair Queuing
2.1.5 Chiến lược Class-Based Weighted Fair Queuing (CBQ)
Không giống như WFQ, CBQ được thiết kế nhằm đảm bảo băng thông cho các lớp lưu lượng do người dùng đặt trước mà vẫn đảm bảo phân phối công bằng cho các luồng trong lớp đó CBQ cung cấp nhiều hàng đợi riêng biệt, mỗi hàng đợi có thể phân chia thành nhiều lớp, các luồng này có thể được xác định dựa vào các tiêu chi như giao thức (FTP, HTTP, Telnet, SSh ) hoặc danh sách điều khiển truy cập (Access list) Các gói tin thỏa mãn các tiêu chí được xếp chung vào 1 lớp
2.2 CÁC CHIẾN LƯỢC QUẢN LÝ HÀNG ĐỢI ĐỘNG
Trong lý thuyết hàng đợi người ta chứng minh được rằng thời gian trung bình mà các gói tin đi qua hàng đợi bao gồm thời gian các gói tin phải chờ trong hàng đợi cộng với thời gian chúng được phục vụ, tỉ lệ thuận với chiều dài hàng đợi, tỉ lệ nghịch với tốc
độ gói tin đến hàng đợi trung bình Mục tiêu chính của các chiến lược quản lý hàng đợi
là giữ cho chiều dài hàng đợi trung bình đủ nhỏ và ổn định Đảm bảo độ trễ trung bình của các gói tin không vượt quá ngưỡng cho phép đồng thời đạt được hệ số sử dụng đường truyền cao Hai yêu cầu này là trái ngược nhau chính vì vậy cần có một sự thỏa hiệp Để biểu diễn đại lượng này người ta đưa ra một đại lượng là “Công suất”, đó là tỉ
lệ giữa thông lượng và độ trễ Điểm tối ưu là điểm có hiệu suất cực đại Trong chương này sẽ trình bày về các chiến lược quản lý hàng đợi động AQM và một số thuật toán tiêu biểu Các chiến lược này nhằm đáp ứng các mục tiêu đã nêu phía trên Trước khi tìm hiểu về các chiến lược quản lý hàng đợi động chúng ta hãy xem xét chiến lược quản
lý hàng đợi truyền thống và các nhược điểm của nó
2.2.1 Chiến lược quản lý hàng đợi truyền thống và hệ quả
Các cách tiếp cận quản lý hàng đợi truyền thống đều dựa trên cơ chế FIFO như đã trình bày ở phần trước Với các cơ chế này thì gói tin khi tới gateway hoặc router sẽ được xếp vào hàng đợi, khi hàng đợi đầy thì các gói tin tới sau sẽ bị loại bỏ Các gói tin tới trước sẽ được phụ vụ trước và hàng đợi này được mô phỏng trong bộ mô phỏng NS2
Trang 13với tên gọi “DropTail” Do tính đơn giản và dễ cài đặt mà nó được sử dụng trong nhiều năm trên Internet tuy nhiên do sự phát triển mạnh mẽ của mạng Internet ngày nay nó xuất hiện nhiều nhược điểm mà nổi bật nhất là hai nhược điểm sau đây
a Hiện tượng Global Synchronization
b Hiện tượng hàng đợi đầy (Full Queue)
2.2.2 Ưu điểm các chiến lược quản lý hàng đợi động
Như đã nói ở trên thì các chiến lược quản lý hàng đợi truyền thống sẽ loại bỏ gói tin khi hàng đợi đầy, điều nay không hợp lý vì đôi khi hàng đợi đầy thì hiện tượng tắc nghẽn đã trở nên khó kiểm soát Giải pháp hợp lý cho trường hợp này là loại bỏ gói tin trước khi hàng đợi đầy khi đó các thực thể gửi và nhận sẽ nhận biết và phản ứng với tắc nghẽn ngay khi hiện tượng tắc nghẽn bắt đầu xảy ra Đây chính là tư tưởng chính của
các chiến lược quản lý hàng đợi động – Active Queues Managerment AQM Điểm
cần chú ý rằng các chiến lược quản lý hàng đợi động này chỉ có hiệu quả đối khi được gắn với các giao thức vận chuyển có cơ chế kiểm soát lưu lượng (Flow control) như TCP, và nó không có hiệu quả đối với các giao thức như UDP
Các chiến lược quản lý hàng đợi động sẽ đem lại những ưu điểm sau:
a Giảm độ trễ và giảm thăng giáng độ trễ
Việc loại bỏ sớm các gói tin khi tắc nghẽn chưa xảy ra sẽ giữ kích thước hàng đợi
ở mức trung bình đủ nhỏ và làm giảm độ trễ một cách đáng kể Điều này vô cùng quan trọng với các ứng dụng thời gian thực như voice, video thời gian thực
b Làm giảm số lượng gói tin bị loại bỏ tại các node mạng
Mạng Internet ngày nay sự bùng nổ lưu lượng các gói tin là không thể tránh khỏi Với chiến lược quản lý hàng đợi truyền thống kích thước hàng đợi tăng rất nhanh khi lưu lượng bùng nổ, các gói tin bị loại bỏ sẽ tăng nhanh khi hàng đợi đầy Việc sử dụng các chiến lược quản lý hàng đợi động sẽ giúp cho kích thước hàng đợi nằm trong một khoảng trung bình đủ nhỏ, hàng đợi sẽ hấp thu các thăng giáng lưu lượng dễ dàng hơn khiến cho số gói tin bị loại bỏ giảm, hệ số sử dụng đường truyền tăng, việc khôi phục các gói tin bị mất đơn lẻ cũng dễ dàng hơn với TCP
Trang 14c Tránh hiện tượng Lock-out
Hiện tượng lock-out xảy ra khi hàng đợi đầy, gói tin khi đi tới node mạng sẽ không được xếp vào hàng đợi vì không còn chỗ trống AQM sẽ đảm bảo cho hàng đợi luôn luôn có chỗ trống dành cho các gói tin tới do đó tránh được hiện tượng này
Chúng ta sẽ tiến hành nghiên cứu 1 số thuật toán quản lý hàng đợi động tiêu biểu như RED, A-RED và RIO
2.2.3 Thuật toán RED trong chiến lược quản lý hàng đợi động
a Giới thiệu thuật toán RED
Khi có dấu hiệu của tắc nghẽn xảy ra trong mạng, hàng đợi tài router đầy thì router bắt đầu loại bỏ các gói tin đến Đối với các luồng lưu lượng TCP thì đây là tín hiệu thông báo tắc nghẽn xảy ra và báo hiệu các nguồn phát giảm lưu lượng để giảm bớt tắc nghẽn
Có hai vấn đề quan trọng cần giải quyết: Thứ nhất là đối với các luông TCP thì các gói tin bị loại bỏ sẽ được truyền lại, điều này làm tăng tải trong mạng đồng thời phát sinh thêm độ trễ Thứ hai là hiện tượng đồng bộ toàn cầu đã nói ở phân trên Năm 1993 hai nhà khoa học của phòng thí nghiệm Lawrence Berkeley thuộc đại học California, Mỹ là Sally Floyd và Van Jacobson đã đề xuất thuật toán quản lý hàng đợi động AQM – một trong những thuật toán quản lý hàng đợi đầu tiên là RED – Random Early Detection of congestion, Random Early Drop Với như ưu điểm vượt trội so với các thuật toán quản
lý hàng đợi truyền thống nên RED đã được triển khai rộng rãi trên mạng Internet
b Giải thuật A-RED
A-RED ra đời nhằm khắc phục hai nhược điểm của RED nguyên bản được đề xuất bởi Feng từ năm 1997[17] Cấu trúc RED vẫn được giữ nguyên và chỉ hiệu chỉnh thông
số 𝑚𝑎𝑥𝑝 để duy trì kích thước hàng đợi trung bình trong khoảng 𝑚𝑖𝑛𝑡ℎ đến 𝑚𝑎𝑥𝑡ℎ Có nhiều phiên bản A-RED được đưa ra tuy nhiên trong giới hạn luận án này chúng tôi giới thiệu một phiên bản thuật toán A-RED trong đó người quản trị viên có thể lựa chọn chế
độ tự động thiết lập các tham số đầu vào cho RED gateway dựa trên độ trễ mong muốn
và kích thước miền hàng đợi trung bình mong muốn Như vậy thuật toán A-RED này có