1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI VÀO THIẾT KẾ VÀ CHẾ TẠO MÁY BƠM LỐP XE

64 403 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 2,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI VÀO THIẾT KẾ VÀ CHẾ TẠO MÁY BƠM LỐP XE TSV2016-04 Thuộc nhó

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI VÀO THIẾT KẾ VÀ CHẾ TẠO

MÁY BƠM LỐP XE

TSV2016-04

Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ 1 (KT1)

Cần Thơ, 12/2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG NĂNG LƯỢNG

MẶT TRỜI VÀO THIẾT KẾ VÀ CHẾ TẠO

MÁY BƠM LỐP XE

TSV2016-04

Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ 1 (KT1)

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Minh Nhật Nam, Nữ: Nam

Trang 3

Danh sách những thành viên tham gia nghiên cứu đề tài

và đơn vị phối hợp chính

1 Những thành viên tham gia nghiên cứu đề tài

TT Họ và tên MSSV, Lớp, Khóa Nội dung nghiên cứu cụ thể được giao Chữ ký

1 Nguyễn Minh Nhật

(Chủ nhiệm đề tài)

B1305869,

Kỹ Thuật Điện 2, Khóa 39

Tính toán, thiết kế và lắp đặt hệ thống chuyển hóa và trữ năng lượng, chế tạo bộ điều khiển

2 Nguyễn Thái Nguyên

(Thành viên chính)

B1305866,

Kỹ Thuật Điện 2, Khóa 39

Lắp ráp test thử mô hình

2 Đơn vị phối hợp chính

Tên đơn vị

trong và ngoài nước Nội dung phối hợp nghiên cứu Họ và tên người đại diện đơn vị

Trang 4

MỤC LỤC

Danh mục bảng biểu i

Danh mục những từ viết tắt ii

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI iii

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI v

LỜI NÓI ĐẦU 6

CHƯƠNG 1 8

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI 8

1.1 Năng lượng Mặt Trời (NLMT) 8

1.1.1 Tổng quan 8

1.1.2 Nguồn năng lượng mặt trời 8

1.2 Tiềm năng phát triển NLMT ở Việt Nam 10

1.3 Ưu – Nhược điểm trong việc sử dụng NLMT 11

1.3.1 Ưu điểm: 11

1.3.2 Khó khăn năng lượng mặt trời (nhược điểm) 13

CHƯƠNG 2 14

TỔNG QUAN VỀ PIN MẶT TRỜI 14

2.1 Cấu tạo 14

2.2 Phân loại 15

2.3 Nguyên lí hoạt động Pin mặt trời 16

2.4 Đặc tính làm việc của Pin mặt trời 17

2.5 Tấm năng lượng mặt trời và cách ghép 20

2.5.1 Phương pháp ghép nối tiếp các tấm Module mặt trời 20

2.5.2 Ghép song song các Module mặt trời 21

CHƯƠNG 3 23

GIỚI THIỆU MÔ HÌNH MÁY BƠM LỐP XE 23

NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI 23

3.1 Tổng quát 23

3.2 Tìm hiểu về Bộ điều khiển sạc NLMT 23

3.2.1 Định nghĩa 23

3.2.2 Nhiệm vụ 24

3.3 Tổng quan về Acquy 24

3.3.1 Cấu tạo 24

3.3.2 Phân loại 26

Trang 5

3.3.3 Nguyên lí hoạt động của Acquy 28

3.3.4 Các thông số quan trọng của Acquy 29

3.3.5 Các phương pháp nạp điện Acquy 30

3.4 Tìm hiểu máy bơm lốp xe 12V 32

3.4.1 Cấu tạo máy bơm 33

3.4.2 Thông số kỹ thuật 34

3.4.3 Những tính năng của bơm lốp xe Michelin 12260 34

CHƯƠNG 4 35

TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ MÔ HÌNH MÁY BƠM LỐP XE SỬ DỤNG 35

NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI 35

4.1 Phương pháp tính toán 35

4.1.1 Tính toán tấm Pin mặt trời 35

4.1.2 Tính dung lượng Acquy 36

4.2 Tính toán mô hình máy bơm lốp xe theo số liệu lí thuyết 37

4.3 Tính toán mô hình máy bơm lốp xe theo số liệu thực nghiệm 38

Thống kê số liệu thực nghiệm bơm xe tại nhà xe khoa Công Nghệ_ĐHCT 39

4.4 Lựa chọn thiết bị cho mô hình 43

4.4.1 Tấm Pin mặt trời 43

4.4.2 Acquy 45

4.4.3 Bộ điều khiển sạc 45

4.4.4 Các phụ kiện kèm theo mô hình 47

4.5 Đấu nối các thiết bị trong mô hình 49

4.6 Nguyên tắc lắp đặt – tháo dỡ thiết bị 50

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

PHỤ LỤC 53

Trang 6

Danh mục bảng biểu

Bảng 1.1 Số liệu về bức xạ mặt trời tại Việt Nam

Bảng 1.2 Lượng tổng xạ bức xạ mặt trời trung bình ngày của các tháng trong năm ở một số địa phương của nước ta (đơn vị: MJ/m2/ngày)

Bảng 4.1 : Số liệu thực nghiệm bơm xe tại nhà xe khoa Công Nghệ ngày thứ nhất Bảng 4.2 : Số liệu thực nghiệm bơm xe tại nhà xe khoa Công Nghệ ngày thứ hai

Bảng 4.3 : Số liệu thực nghiệm bơm xe tại nhà xe khoa Công Nghệ ngày thứ ba

Trang 7

Danh mục những từ viết tắt

1 NLMT: Năng lượng Mặt Trời

2 BXMT: Bức xạ Mặt Trời

3 MPP: tại điểm có công suất đạt cực đại (Max Power Point)

4 PV: được hiểu theo nhiều nghĩa như là Một tế bào quang điện (cell), Tấm Pin năng lượng mặt trời (solar cells panel), Pin mặt trời , hay Pin quang điện là hệ thống các tấm vật liệu đặc biệt có khả năng chuyển đổi quang năng của ánh sáng mặt trời thành điện năng Trong đề tài PV được hiểu là một tấm Pin mặt trời

5 Wp (Watt – peak): là công suất đỉnh của tấm Pin mặt trời được chiếu dưới bức

xạ ánh sáng mặt trời tiêu chuẩn (1000 W/m²)

6 C10, C20…(Ct): Dung lượng của Acquy tương ứng với thời gian phóng t

Trang 8

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: Nghiên cứu, ứng dụng năng lượng mặt trời vào thiết kế và chế tạo máy bơm lốp xe

- Sinh viên thực hiện: Nguyễn Minh Nhật

- Lớp: Kỹ thuật điện 2 Khoa: Công Nghệ Năm thứ: 4 Số năm đào tạo: 4,5

- Người hướng dẫn: Thạc sĩ Đinh Mạnh Tiến

4 Kết quả nghiên cứu:

Hiểu được nguyên lí làm việc của bộ nạp dự trữ năng lượng Tính toán chính xác các thông số, thiết kế hoàn chỉnh bộ máy bơm lốp xe sử dụng năng lượng mặt trời Bộ máy bơm có khả năng hoạt động, phục vụ nhu cầu bơm lốp xe của nhà xe khoa Công Nghệ mỗi ngày

5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài:

Sản phẩm là một máy bơm lốp xe công cộng sử dụng nguồn năng lượng sạch từ mặt trời, giảm chi phí điện năng, tiết kiệm chí phí bơm lốp xe và đặc biệt rất hữu dụng khi xe hơi, xe máy hoặc xe đạp bị xì lốp, có thể bơm tạm thời để có thể đi đến nơi sửa chữa, tránh hao mòn thêm xăm, lốp, niềng…Do đó một máy bơm công cộng sử dụng năng lượng sạch như vậy là rất thiết thực khi đặt ở các bãi đỗ xe, nhà xe trường học, cơ

Trang 9

quan, các tuyến đường ngoại ô… vừa kinh tế vừa hữu dụng và đặc biệt là sử dụng nguồn năng lượng sạch, không gây ô nhiễm môi trường

6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ tên tạp

chí nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có):

Ngày tháng năm

Sinh viên chịu trách nhiệm chính

thực hiện đề tài

(ký, họ và tên)

Nguyễn Minh Nhật

Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực hiện đề tài :

………

………

………

………

………

………

………

………

Xác nhận của Trường Đại học Cần Thơ

(ký tên và đóng dấu)

Ngày tháng năm

Người hướng dẫn

(ký, họ và tên)

Đinh Mạnh Tiến

Trang 10

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:

Họ và tên: Nguyễn Minh Nhật

Sinh ngày: 25 tháng 08 năm 1995

Nơi sinh: Cần Thơ

Lớp: Kỹ Thuật Điện 2 Khóa: 39

Ngành học: Kỹ Thuật Điện Khoa: Công Nghệ

Kết quả xếp loại học tập: Trung Bình

Sơ lược thành tích:

* Năm thứ 3:

Ngành học: Kỹ Thuật Điện Khoa: Công Nghệ

Kết quả xếp loại học tập: Trung Bình

Sơ lược thành tích: Giải Khuyến Khích hội thi sáng tạo Khoa học Kỹ thuật thành phố Cần Thơ

Trang 11

LỜI NÓI ĐẦU

Với trình độ khoa học kỹ thuật tiến bộ cùng với công nghệ tiên tiến của các quốc

gia phát triển, các máy móc, thiết bị, công trình sử dụng điện năng lượng mặt trời của

họ phát triển mạnh mẽ và thực sự đã đạt những ưu điểm rất cao Máy móc rất hiện đại, tính tự động hóa cao, hiệu suất cao như thùng rác tự nén dùng năng lượng mặt trời (công viên Green End Road, Cambridge), máy lạnh ôtô dùng năng lượng mặt trời (phát minh của Công ty Mitsubishi Chemical Corporation, ICL và Nippon Fruehauf), khử mặn nước biển bằng năng lượng mặt trời (Trung Đông), trạm xe bus tự chiếu sáng tự động ( Florence – Italia)… Tuy vậy có những nghiên cứu tỏ ra không thích hợp ở Việt Nam

do quy mô lớn, chi phí đầu tư cao, quá hiện đại so với mức độ phát triển ở nước ta ở các nước phát triển chủ yếu di chuyển bằng oto, có sẵn bơm dự phòng dùng điện Acquy hoặc lốp dự phòng nên chưa thấy công trình nghiên cứu nào về máy bơm lốp xe dùng năng lượng mặt trời nhưng nó tỏ ra khá thích hợp đối với nước ta, nơi mà xe môtô và xe đạp là phương tiện di chuyển chủ yếu

Vị trí địa lý đã ưu ái cho Việt Nam những nguồn năng lượng tái tạo vô cùng lớn, đặc biệt là năng lượng mặt trời Trải dài từ vĩ độ 23023’ Bắc đến 8027’ Bắc, Việt Nam nằm trong khu vực có cường độ bức xạ mặt trời tương đối cao nên việc khai thác năng lượng mặt trời cho các thiết bị, công trình… là rất cần thiết Ở nước ta cũng đã có những công trình, thiết bị sử dụng năng lượng mặt trời như hệ thống tưới phun mưa sử dụng năng lượng mắt trời (Ninh Thuận), máy rửa bát bằng năng lượng mặt trời (top 15 cuộc thi sang chế 2014), máy sục oxi cho vuông tôm bằng năng lượng mặt trời (Bạc Liêu, Cà Mau), trụ đèn đường, đèn giao thông dùng năng lượng mặt trời Mặc dù có nhiều ưu điểm, nhưng thời gian qua, các sản phẩm sử dụng năng lượng mặt trời vẫn chưa được ứng dụng rộng rãi, việc sử dụng nguồn năng lượng sạch cho các công trình, nhất là các công trình công cộng là rất thiết thực và kinh tế

Ở Việt Nam người dân sử dụng môtô làm phương tiện di chuyển là chủ yếu, chiếm

đến 85% phương tiện giao thông đường bộ, ngoài ra xe đạp cũng được sử dụng rất nhiều với đối tượng là học sinh, những phương tiện phổ thông này không được trang bị bơm

dự phòng hay lốp dự phòng như xe ôtô, vì vậy máy bơm lốp dùng năng lượng mặt trời

là rất thiết thực trong trường hợp lốp bị xẹp, bị rò hơi, hoặc trường hợp cấp bách hơn là thủng lốp, có thể bơm hơi lại cho lốp xẹp hoặc bơm tạm thời cho lốp bị thủng để có thể tiếp tục đi đến nơi sửa chữa, không chỉ xe moto, xe đạp mà máy bơm còn có thể bơm được cho những xe oto không trang bị bơm dự phòng, lốp dự phòng hoặc người lái xe không biết cách thay lốp dự phòng, nhất là đối với phụ nữ Do đó một máy bơm công cộng sử dụng năng lượng sạch như vậy là rất thiết thực khi đặt ở các bãi đỗ xe, nhà xe

Trang 12

trường học, cơ quan, các tuyến đường ngoại ô… vừa kinh tế vừa hữu dụng và đặc biệt

là sử dụng nguồn năng lượng sạch, không gây ô nhiễm môi trường

Từ những lý do kể trên nhóm em đã lựa chọn đề tài “ Nghiên cứu, ứng dụng năng lượng mặt trời vào thiết kế và chế tạo máy bơm lốp xe ” để thực hiện đề tài khoa học

KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI

Chương 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

Chương 2: TỔNG QUAN VỀ PIN MẶT TRỜI

Chương 3: GIỚI THIỆU MÔ HÌNH MÁY BƠM LỐP XE NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI Chương 4: TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ MÔ HÌNH MÁY BƠM LỐP XE SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

MỤC TIÊU ĐỀ TÀI

Thiết kế và chế tạo hoàn chỉnh máy bơm lốp xe sử dụng năng lượng mặt trời, lắp

đặt ở nhà xe khoa công nghệ, phục vụ thầy cô và các bạn sinh viên Có thể mở rộng ra các nhà xe công cộng khác và các tuyến đường ngoại ô

ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu : Nghiên cứu, ứng dụng năng lượng mặt trời vào thiết kế và

chế tạo máy bơm lốp xe

Phạm vi nghiên cứu: Máy bơm lốp xe sử dụng năng lượng chuyển hóa từ ánh sáng mặt trời, được nạp vào acquy dự trữ thông qua bộ điều khiển sạc

CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cách tiếp cận: khảo sát thực tế - nghiên cứu lý thuyết – thiết kế, chế tạo mô hình thử nghiệm

Phương pháp nghiên cứu: khảo sát thực tế, thống kê, phân tính, nghiên cứu lý thuyết, chế tạo máy, vận hành và đánh giá

Trang 13

CHƯƠNG 1

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

1.1 Năng lượng Mặt Trời (NLMT)

1.1.1 Tổng quan

Năng lượng Mặt Trời là năng lượng của dòng bức xạ xuất phát từ Mặt Trời, cộng với một phần nhỏ năng lượng của các hạt hạ nguyên tử khác phóng ra từ Mặt Trời Năng lượng mặt trời gần như không có ảnh hưởng tiêu cực gì đến môi trường Việc

sử dụng NLMT không thải ra khí và nước độc hại, do đó không góp phần vào vấn đề ô nhiễm môi trường và hiệu ứng nhà kính

Hai phương pháp phổ biến dùng để thu nhận và trữ NLMT là phương pháp thụ động và phương pháp chủ động Phương pháp thụ động sử dụng các nguyên tắc thu giữ nhiệt trong cấu trúc và vật liệu của các công trình xây dựng Phương pháp chủ động sử dụng các thiết bị đặc biệt để thu bức xạ nhiệt và sử dụng các hệ thống quạt và máy bơm

để phân phối nhiệt Phương pháp thụ động có lịch sử phát triển dài hơn hẳn, trong khi phương pháp chủ động chỉ mới được phát triển chủ yếu trong thế kỷ 20

 Hai phương pháp chính để thu NLMT là:

- Nhiệt Mặt Trời: chuyển bức xạ Mặt Trời thành nhiệt năng, sử dụng ở các hệ thống sưởi, hoặc để đun nước tạo hơi quay turbin điện

- Điện Mặt Trời: chuyển bức xạ Mặt Trời (dưới dạng ánh sáng) trực tiếp thành điện năng (hay còn gọi là quang điện-photovoltaics)

1.1.2 Nguồn năng lượng mặt trời

Hình 1.1 Qủa cầu Mặt Trời

Trang 14

Mặt Trời là một khối cầu có đường kính khoáng 1,4 triệu km với thành phần gồm các khí có nhiệt độ rất cao Nhiệt độ bên trong Mặt Trời đạt đến gần 15 triệu độ, với áp suất gấp 70 tỷ lần áp suất khí quyển của Trái Đất Đây là điều kiện lý tưởng cho các phản ứng phân hạch của các nguyên tử hydro Bức xạ gamma từ các phản ứng phân hạch này, trong qua trình được truyền từ tâm Mặt Trời ngoài, tương tác vơi các nguyên

tố khác bên trong Mặt Trời và chuyển thành bức xạ có mức năng lượng thấp hơn, chủ yếu là ánh sáng và phần nhiệt của phổ năng lượng Bức xạ điện từ này, với phổ năng lượng trải dài từ cực tím đến hồng ngoại, phát ra không gian ở mọi hướng khác nhau Quá trình bức xạ của Mặt Trời diễn ra từ 5 tỷ năm nay, và sẽ còn tiếp tục trong vài tỷ năm nữa

Hình 1.2 Tổng lượng trung bình bức xạ Mặt Trời chiếu lên bề mặt Trái Đất theo từng mùa, dựa theo số liệu vệ tinh theo dõi trong 10 năm

(Nguồn: Earth Observatory, NASA, Hoa Kỳ)

Mỗi giây, Mặt Trời phát ra một khối năng lượng khổng lồ vào Thái Dương Hệ, tuy nhiên chỉ một phần rất nhỏ tổng lượng bức xạ đến được Trái Đất Tuy nhiên, phần năng lượng này vẫn được xem là rất lớn, vào khoảng 1.367 MW/m2 ở ngoại tầng khí quyển của Trái Đất Một phần lớn bức xạ Mặt Trời phản xạ lại về không gian trên bề mặt các đám mây 99% bức xạ Mặt Trời chiếu xuống bề mặt Trái Đất chuyển thành nhiệt và sau

Trang 15

đó tỏa nhiệt lại về không gian Chỉ cần một phần nhỏ NLMT được sử dụng thì có thể đáp ứng được nhu cầu về năng lượng của thế giới

1.2 Tiềm năng phát triển NLMT ở Việt Nam

Việt nam được xem là một quốc gia có tiềm năng rất lớn về năng lượng mặt trời, đặc biệt ở các vùng miền trung và miền nam của đất nước, với cường độ bức xạ mặt trời trung bình khoảng 5 kWh/m2 Trong khi đó cường độ bức xạ mặt trời lại thấp hơn ở các vùng phía Bắc, ước tính khoảng 4 kWh/m2 do điều kiện thời tiết với trời nhiều mây và

mưa phùn vào mùa đông và mùa xuân (Tô Quốc Trụ, 2010)

Năng lượng mặt trời ở Việt nam có sẵn quanh năm, khá ổn định và phân bố rộng rãi trên các vùng miền khác nhau của đất nước Đặc biệt, số ngày nắng trung bình trên các tỉnh của miền trung và miền nam là khoảng 300 ngày/năm Năng lượng mặt trời có thể được khai thác cho hai nhu cầu sử dụng: sản xuất điện và cung cấp nhiệt (Tô Quốc Trụ, 2010)

 Bảng 1.1 Số liệu về bức xạ mặt trời tại Việt Nam (Tô Quốc Trụ, 2010)

Vùng Giờ nắng trong năm Cường độ BXMT

 Bảng 1.2 Lượng tổng xạ bức xạ mặt trời trung bình ngày của các tháng trong năm ở

một số địa phương của nước ta (đơn vị: MJ/m2/ngày) (Tô Quốc Trụ, 2010)

10,43 17,60

12,70 13,57

16,81 11,27

17,56 9,37

Trang 16

2 Móng Cái 18,81

17,56

19,11 18,23

17,60 16,10

13,57 15,75

11,27 12,91

9,37 10,35

11,23

12,65 12,65

14,45 14,25

16,84 16,84

17,89 17,89

17,47 17,47

20,11

8,63 18,23

9,09 17,22

12,44 15,04

18,94 12,40

19,11 10,66

21,79

8,13 16,39

9,34 15,92

14,50 13,16

20,03 10,22

19,78 9,01

22,84

14,87 20,78

18,02 17,93

20,28 14,29

22,17 10,43

21,04 8,47

16,68

20,07 15,29

20,95 16,38

20,88 15,54

16,72 15,25

15,00 16,38

18,94

15,29 16,51

16,38 15,00

15,54 14,87

15,25 15,75

16,38 10,07

Tiềm năng điện mặt trời tốt nhất ở các vùng Thừa Thiên Huế trở vào Nam và vùng Tây Bắc Vùng Tây Bắc gồm các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Lào Cai… và vùng Bắc Trung

bộ gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh… có năng lượng mặt trời khá lớn Mật

độ năng lượng mặt trời biến đổi trong khoảng 12,5 đến 21 MJ/m2.ngày Số giờ nắng trung bình cả năm trong khoảng 1800 đến 2100 giờ Như vậy, các tỉnh thành ở miền Bắc nước ta đều có thể sử dụng hiệu quả

Còn ở miền Nam, từ Đà Nẵng trở vào, năng lượng mặt trời rất tốt và phân bố tương đối điều hòa trong suốt cả năm Trừ những ngày có mưa rào, có thể nói trên 90% số ngày trong năm đều có thể sử dụng năng lượng mặt trời cho sinh hoạt Số giờ nắng trung bình cả năm trong khoảng 2000 đến 2600 giờ Đây là khu vực ứng dụng năng lượng mặt trời rất hiệu quả

1.3 Ưu – Nhược điểm trong việc sử dụng NLMT

1.3.1 Ưu điểm:

 Giúp bạn tiết kiệm tiền:

- Sau khi đầu tư ban đầu đã được thu hồi, năng lượng từ mặt trời là thiết thực miễn phí

- Thời kỳ hoàn vốn cho đầu tư này có thể rất ngắn tùy thuộc vào bao nhiêu hộ gia đình của bạn sử dụng điện

Trang 17

- Ưu đãi tài chính có hình thức chính phủ sẽ giảm chi phí của bạn

- Nếu hệ thống pin mặt trời sản xuất năng lượng nhiều hơn bạn sử dụng, chính phủ của bạn có thể mua điện từ bạn

- Nó sẽ giúp bạn tiết kiệm tiền trên hóa đơn điện của bạn hàng tháng

- Năng lượng mặt trời không đòi hỏi bất cứ nhiên liệu

- Nó không bị ảnh hưởng bởi việc cung cấp và nhu cầu nhiên liệu và do đó không phải chịu mức giá ngày càng tăng của xăng dầu

- Tiết kiệm được ngay lập tức và trong nhiều năm tới

- Việc sử dụng năng lượng mặt trời gián tiếp làm giảm chi phí y tế

 Thân thiện với môi trường:

- Năng lượng mặt trời sạch, tái tạo (không giống như dầu, khí đốt và than đá) và bền vững, góp phần bảo vệ môi trường của chúng tôi

- Nó không gây ô nhiễm không khí do khí carbon dioxide phát hành, oxit nitơ, khí lưu huỳnh hoặc thủy ngân vào khí quyển giống như nhiều hình thức truyền thống của các thế hệ điện không

- Vì vậy năng lượng mặt trời không đóng góp cho sự nóng lên toàn cầu, mưa axit hoặc sương mù

- Nó tích cực góp phần vào việc giảm phát thải khí nhà kính có hại

- Đó là tạo ra nơi cần thiết

- Bằng cách không sử dụng bất kỳ nhiên liệu, năng lượng mặt trời không đóng góp cho các chi phí và các vấn đề của việc thu hồi và vận chuyển nhiên liệu hoặc lưu trữ chất thải phóng xạ

 Độc lập, bán độc lập

- Năng lượng Mặt trời có thể được sử dụng để bù đắp năng lượng tiêu thụ, cung cấp tiện ích Nó không chỉ giúp giảm hóa đơn điện của bạn, nhưng cũng sẽ tiếp tục cung cấp điện trong trường hợp bị cúp điện

- Một hệ thống năng lượng mặt trời có thể hoạt động hoàn toàn độc lập, không đòi hỏi một kết nối đến một mạng lưới điện hoặc khí ở tất cả Hệ thống do đó có thể được cài đặt trong vị trí từ xa (giống như đăng nhập cabins kỳ nghỉ), làm cho nó thực tế hơn và hiệu quả hơn tiện ích cung cấp điện cho một trang web mới

- Việc sử dụng năng lượng mặt trời làm giảm sự phụ thuộc vào các nguồn nước ngoài và / hoặc tập trung năng lượng, ảnh hưởng do thiên tai, các sự kiện quốc tế

và vì thế góp phần vào một tương lai bền vững

Trang 18

- Năng lượng mặt trời hỗ trợ việc làm địa phương và tạo ra sự giàu có, thúc đẩy nền kinh tế địa phương

- Các hệ thống năng lượng mặt trời hầu như bảo dưỡng miễn phí và sẽ kéo dài trong nhiều thập kỷ

- Sau khi cài đặt, không có chi phí định kỳ

- Họ hoạt động âm thầm, không có bộ phận chuyển động, không có mùi khó chịu phát hành và không yêu cầu bạn phải thêm bất kỳ nhiên liệu

- Thêm tấm pin mặt trời có thể dễ dàng được thêm vào trong tương lai khi nhu cầu của gia đình bạn phát triển

1.3.2 Khó khăn năng lượng mặt trời (nhược điểm)

- Các chi phí ban đầu là bất lợi chính của việc cài đặt một hệ thống năng lượng mặt trời, phần lớn là vì chi phí cao của các vật liệu bán dẫn được sử dụng trong việc xây dựng

- Chi phí năng lượng mặt trời cũng là cao so với tiện ích-cung cấp điện không tái tạo Như tình trạng thiếu năng lượng đang trở nên phổ biến hơn, năng lượng mặt trời ngày càng trở nên giá cạnh tranh

- Tấm năng lượng mặt trời đòi hỏi khá một vùng rộng lớn để cài đặt để đạt được một mức độ tốt hiệu quả

- Hiệu quả của hệ thống cũng phụ thuộc vào vị trí của mặt trời, mặc dù vấn đề này

có thể được khắc phục với việc cài đặt các thành phần nhất định

- Việc sản xuất năng lượng mặt trời bị ảnh hưởng bởi sự hiện diện của các đám mây, gây ô nhiễm trong không khí

Trang 19

CHƯƠNG 2

TỔNG QUAN VỀ PIN MẶT TRỜI 2.1 Cấu tạo

Hình 2.1 Một tế bào quang điện

Pin mặt trời còn gọi là pin quang điện là thiết bị ứng dụng hiệu ứng quang điện trong bán dẫn (thường gọi là hiệu ứng quang điện trong – quang dẫn) để tạo ra dòng điện một chiều từ ánh sáng mặt trời Loại pin mặt trời thông dụng nhất hiện nay là loại

sử dụng Silic tinh thể Tinh thể Silic tinh khiết là chất bán dẫn điện rất kém vì các điện

tử bị giam giữ bởi liên kết mạng, không có điện tử tự do Khi bị ánh sáng hay nhiệt độ kích thích, các điện tử bị bứt ra khỏi liên kết, hay là các điện tử tích điện âm nhảy từ vùng hoá trị lên vùng dẫn và để lại một lỗ trống tích điện dương trong vùng hoá trị Lúc

này chất bán dẫn mới dẫn điện

Về bản chất pin quang điện là một điốt bán dẫn bao gồm hai tấm bán dẫn loại P và loại N đặt sát cạnh nhau, khác ở chỗ pin quang điện có diện tích bề mặt rộng và có lớp

N cực mỏng để ánh sáng có thể truyền qua Trên bề mặt của pin quang điện có một lớp chống phản xạ vì khi chiếu ánh sáng vào pin quang điện, sẽ có một phần ánh sáng bị hấp thụ khi truyền qua lớp N và một phần ánh sáng sẽ bị phản xạ ngược lại còn một phần ánh sáng sẽ đến được lớp chuyển tiếp, nơi có các cặp electron và lỗ trống nằm trong điện trường của bề mặt giới hạn Với các bước sóng thích hợp sẽ truyền cho electron một năng lượng đủ lớn để thoát khỏi liên kết Khi thoát khỏi liên kết, dưới tác dụng của điện trường, electron sẽ bị kéo về phía bán dẫn loại N, còn lỗ trống bị kéo về phía bán dẫn loại P Khi đó nếu nối hai cực vào hai phần bán dẫn loại N và P sẽ đo được một hiệu điện thế Giá trị của hiệu điện thế này phụ thuộc vào bản chất của chất làm

bándẫn và tạp chất được hấp phụ (Đặng Đình Thống (2005), “Pin Mặt Trời và Ứng

dụng”)

Trang 20

Hình 2.2 Cấu tạo của một tế bào pin quang điện

2.2 Phân loại

 Đơn tinh thể (Monocrystalline)

Pin mặt trời Monocrystalline, được cấu tạo từ các silic đơn tinh thể các pin năng lượng mặt trời được thiết kế như những modul thành phần, được ghép lại với nhau, hấp thu năng lượng tốt hơn tấm pin poly, chỉ cần ánh sáng khuếch tán thì có khả năng phát

ra dòng điện

Hình 2.3 Pin mặt trời Monocrystalline

Trang 21

 Đa tinh thể (Polycrystalline)

Pin mặt trời Polycrystalline, được cấu tạo từ các silic đa tinh thể về cấu tạo gần như pin mono, chỉ có sự khác biệt về các thành phần cấu tạo và cách sếp các seo pin lại với nhau Khả năng hấp thu năng lượng không tốt bằng pin mono, cần ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp

Hình 2.4 Pin mặt trời Polycrystalline

2.3 Nguyên lí hoạt động Pin mặt trời

Pin năng lượng mặt trời (pin mặt trời/pin quang điện) là thiết bị giúp chuyển hóa trực tiếp năng lượng ánh sáng mặt trời (quang năng) thành năng lượng điện (điện năng) dựa trên hiệu ứng quang điện Hiệu ứng quang điện là khả năng phát ra điện tử (electron)

khi được ánh sáng chiếu vào của vật chất (Đặng Đình Thống (2005), “Pin Mặt Trời và

Ứng dụng”)

Silicon được biết đến là một chất bán dẫn “Chất bán dẫn là vật liệu trung gian

giữa chất dẫn điện và chất cách điện Chất bán dẫn hoạt động như một chất cách điện

ở nhiệt độ thấp và có tính dẫn điện ở nhiệt độ phòng” Với tính chất như vậy, silicon là

một thành phần quan trọng trong cấu tạo của pin năng lượng mặt trời

Ánh sáng mặt trời bao gồm các hạt rất nhỏ gọi là photon được tỏa ra từ mặt trời Khi va chạm với các nguyên tử silicon của pin năng lượng mặt trời, những hạt photon truyền năng lượng của chúng tới các electron rời rạc, kích thích làm cho electron đang liên kết với nguyên tử bị bật ra khỏi nguyên tử, đồng thời ở nguyên tử xuất hiện chỗ trống vì thiếu electron

Trang 22

Tuy nhiên, giải phóng các electron chỉ mới là một nửa công việc của pin năng lượng mặt trời, sau đó nó cần phải dồn các electron rải rác này vào một dòng điện Điều này liên quan đến việc tạo ra một sự mất cân bằng điện trong pin mặt trời, có tác dụng giống như xây một con dốc để các electron chảy theo cùng một hướng

Sự mất cân bằng này có thể được tạo ra bởi tổ chức bên trong của silicon Nguyên

tử silicon được sắp xếp cùng nhau trong một cấu trúc ràng buộc chặt chẽ Bằng cách ép một số lượng nhỏ các nguyên tố khác vào cấu trúc này, sẽ có hai loại silicon khác nhau được tạo ra: loại n và loại p Chất bán dẫn loại n (bán dẫn âm – Negative) có tạp chất là các nguyên tố thuộc nhóm V, các nguyên tử này dùng 4 electron tạo liên kết và một electron lớp ngoài liên kết lỏng lẻo với nhân, đấy chính là các electron dẫn chính Chất bán dẫn loại p (bán dẫn dương – Positive) có tạp chất là các nguyên tố thuộc nhóm III, dẫn điện chủ yếu bằng các lỗ trống

Khi hai loại bán dẫn này được đặt cạnh nhau trong một pin năng lượng mặt trời, electron dẫn chính của loại n sẽ nhảy qua để lấp đầy những khoảng trống của loại p Điều này có nghĩa là silicon loại n tích điện dương và silicon loại p được tích điện âm, tạo ra một điện trường trên pin mặt trời Vì silicon là một chất bán dẫn nên có thể hoạt động như một chất cách điện và duy trì sự mất cân bằng này

Khi làm cho electron đang liên kết với nguyên tử bị bật ra khỏi nguyên tử silicon, photon trong ánh sáng mặt trời đưa các electron này vào một trật tự nhất định, cung cấp dòng điện cho máy tính, vệ tinh và tất cả các thiết bị ở giữa

Hình 2.5 Nguyên lí hoạt động của Pin mặt trời

2.4 Đặc tính làm việc của Pin mặt trời

Đặc tính làm việc của pin mặt trời thể hiện qua hai thông số là điện áp hở mạch lớn nhất VOC lúc dòng ra bằng 0 và Dòng điện ngắn mạch ISC khi điện áp ra bằng 0 Công suất của pin được tính theo công thức:

Trang 23

Tại điểm làm việc 𝑈 =𝑈𝑐

𝐼 = 0 và U = 𝑃

𝐼 = ISC , Công suất làm việc của pin cũng có giá trị bằng 0

Hình 2.6 Đường đặc tính làm việc U – I của pin mặt trời

Hình 2.7 Sơ đồ tương đương của Pin mặt trời

Từ sơ đồ tương đương, ta có phương trình đặc trưng sáng Volt – Ampe của pin như sau: Trong đó:

I = Isc− I01(eq(V+IRs)kT − 1) −(V+IRs)

Rsh (2-2)

Isc là dòng quang điện (dòng ngắn mạch khi không có Rs và Rsh) (A/m2)

I01 là dòng bão hòa (A/m2)

q: là điện tích của điện tử (C) = 1,6.10-19

Trang 24

* Nhận xét:

- Dòng ngắn mạch Isc tỉ lệ thuận với cường độ bức xạ chiếu sáng Nên đường đặc tính V – I của pin mặt trời cũng phụ thuộc vào cường độ bức xạ chiếu sáng Ở mỗi tầng bức xạ chỉ thu được duy nhất một điểm làm việc V = VMPP có công suất lớn nhất thể hiện trên hình vẽ sau Điểm làm việc có công suất lớn nhất được thể hiện là điểm chấm đen to trên hình vẽ (đỉnh của đường cong đặc tính)

Hình 2.8 Sự phụ thuộc của đặc trưng VA của pin mặt trời vào cường độ bức xạ Mặt trời

- Điện áp hở mạch Voc phụ thuộc trực tiếp vào nhiệt độ nên đường đặc tính VA của pin mặt trời cũng phụ thuộc vào nhiệt độ của pin

Hình 2.9 Sự phụ thuộc của đường đặc tính của pin mặt trời vào nhiệt độ của pin

- Để toàn bộ hệ PV có thể hoạt động được một cách hiệu quả thì đường đặc tính của tải cũng phải phù hợp với điểm MPP

Trang 25

Hình 2.10 Đường đặc tính tải và đặc tính của pin mặt trời

Trên hình 2.10 đường OA và OB là những đường đặc tính tải Nếu tải được mắc trực tiếp với dãy pin mặt trời thì tải có đường đặc tính là OA Khi đó, pin làm việc ở điểm A1 và phát công suất P1 Công suất lớn nhất do phơi nắng thu được là P2 Để có thể thu được công suất P2, cần có một bộ điều chỉnh công suất để liên kết giữa dãy pin mặt trời và tải

2.5 Tấm năng lượng mặt trời và cách ghép

Như ta đã biết các module pin mặt trời đều có công suất và hiệu điện thế xác định

từ nhà sản xuất Để tạo ra công suất và điện thế theo yêu cầu thì phải ghép nối nhiều tấm module đó lại với nhau Có hai cách ghép cơ bản:

- Ghép nối tiếp các tấm module lại sẽ cho điện áp ra lớn hơn

- Ghép song song các tấm module lại sẽ cho dòng điện ra lớn

Trong thực tế phương pháp ghép hỗn hợp được sử dụng nhiều hơn để đáp ứng cả yêu cầu về điện áp và dòng điện

2.5.1 Phương pháp ghép nối tiếp các tấm Module mặt trời

(a) (b)

Hình 2.11 Ghép nối tiếp hai module pin mặt trời (a)

và đường đặc trưng VA của các module và của cả hệ (b)

Trang 26

Giả sử các module đều giống hệt nhau, có đường đặc tính V-A giống hết nhau, các thông số dòng đoản mạch ISC, thế hở mạch VOC bằng nhau Giả sử cường độ chiếu sáng trên các tấm là đồng đều nhau Khi ghép nối tiếp các tấm module này ta sẽ có:

V= ∑ Vin

I, P, V,… là dòng điện, công suất và hiệu điện thế của cả hệ

Ii, Vi, Pi… là dòng điện, công suất, hiệu điện thế của module thứ i trong hệ

Iopi, Vopi, Popi… là dòng điện làm việc tối ưu, điện thế làm việc tối ưu, công suất làm việc tối ưu của các module thứ i trong hệ

Iop, Vop, Pop… là dòng điện làm việc tối ưu, điện thế làm việc tối ưu, công suất làm việc tối ưu của hệ

Khi tải có giá trị 0 < R < , Các module làm việc như các máy phát tương đương Đường đặc tính vôn – ampe của hệ bằng tổng hình học của hai đường đặc trưng của mỗi module

2.5.2 Ghép song song các Module mặt trời

(a) (b)

Hình 2.12 (a) Ghép song song hai module pin mặt trời (b) Đường đặc trưng VA của các module và của cả hệ

Trang 27

Ở cách ghép này, ta cũng giả sử các module đều giống hệt nhau, có đường đặc tính V-A giống hết nhau, các thông số dòng đoản mạch ISC, thế hở mạch VOC bằng nhau Giả

sử cường độ chiếu sáng trên các tấm là đồng đều nhau

Khi đó ta có:

I= ∑ Iin

Đường đặc tính VA của hệ cũng được suy ra bằng cách cộng các giá trị dòng điện

I ứng với các giá trị điện thế V không đổi Trong trường hợp này, các pin cũng làm việc như các máy phát điện khi tải có giá trị 0 < R < 

Trang 28

CHƯƠNG 3

GIỚI THIỆU MÔ HÌNH MÁY BƠM LỐP XE

NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

3.1 Tổng quát

Mô hình máy bơm lốp xe năng lượng mặt trời là mô hình sử dụng năng lượng mặt trời để tạo ra điện, tự cấp điện cho máy bơm hoạt động tạo ra khí mà không cần kết nối vào nguồn điện công cộng

Hình 3.1 Sơ đồ khối mô hình máy bơm lốp xe năng lượng mặt trời (Ảnh vẽ)

 Nguyên lí hoạt động :

Từ giàn Pin mặt trời, ánh sáng được biến đổi trực tiếp thành điện năng, tạo ra dòng điện một chiều Dòng điện này được dẫn tới bộ điều khiển sạc là một thiết bị có chức năng tự động điều hòa điện áp từ Pin mặt trời và dòng điện nạp cho Acquy Máy bơm

sẽ sử dụng nguồn điện được dự trữ trong Acquy để hoạt động

PIN MẶT TRỜI KHIỂN SẠC BỘ ĐIỀU MÁY BƠM LỐP XE

ACQUY

Trang 29

3.2.2 Nhiệm vụ

- Bảo vệ bình Acquy

Khi bình đầy (Ví dụ 13.8V – 14V đối với Acquy 12V) thì bộ điều khiển ngăn không cho nguồn điện tiếp tục nạp vào Acquy có thể gây sôi bình và làm ảnh hưởng đến tuổi thọ của bình Khi bình gần cạn đến ngưỡng phải ngắt để bảo vệ bình (Ví dụ 10.5V đối với Acquy 12V), bộ điều khiển sẽ ngắt không cho sử dụng tải để bảo vệ bình không bị

“kiệt”

- Bảo vệ tấm pin mặt trời

Nguyên lý của dòng điện là chảy từ nơi điện áp cao đến nơi điện áp thấp Ban ngày trời nắng thì điện áp tấm pin loại 12V sẽ từ khoảng 15 đến hơn 20V, cao hơn điện áp Acquy nên dòng điện sẽ đi từ pin xuống Acquy Nhưng ban đêm khi không có ánh nắng, điện áp của pin sẽ thấp hơn điện áp của Acquy và dòng điện sẽ đi từ Acquy lên ngược tấm pin và “đốt” tấm pin, làm giảm hiệu suất tấm pin dần dần và có thể hỏng tấm pin Vậy nên bộ điều khiển sẽ ngăn một cách triệt để không để cho dòng điện có thể đi ngược lên tấm pin để tránh hiện tượng trên

- Nâng cao hiệu suất tấm pin mặt trời

Có chức năng này thì thiết bi này mới có tên gọi là “điều khiển”, nghĩa là thiết bị này điều khiển làm sao để công suất sạc đạt cực đại Pmax, nâng cao hiệu suất sử dụng của tấm pin mặt trời Các bộ điều khiển sạc kiểu cũ đơn giản thì chỉ điều khiển đóng cắt khi bình đầy hoặc bình cạn và bảo vệ không cho điện trào lên pin, hiện đại hơn là sử dụng phương pháp điều khiển điều rộng xung PWM (Pulse – Width – Modulation) sử dụng mạch transitor đóng cắt liên tục để ổn áp sạc cho Acquy, phương pháp này có nhược điểm lớn là làm hao phí khoảng trên dưới 20% lượng điện sạc từ pin mặt trời Các bộ điều khiển sạc hiện đại sử dụng phương pháp điều rộng xung không hao phí, có

bộ vi xử lý và thiết bị đo chọn được điểm có công suất cực đại MPP (Max Power Point) Pmax để sạc cho Acquy

3.3 Tổng quan về Acquy

Ở đây chủ yếu tìm hiểu về Acquy Axit-chì

3.3.1 Cấu tạo

Bình Acquy 12V này được chia ra làm 6 ngăn và mỗi ngăn có đều có điện áp đầu

ra là 2V Như vậy nếu ta đem nối tiếp cả 6 ngăn đó thì ta sẽ được bình Acquy 12V Bản cực được làm từ hợp kim chì và antimon, trên mặt bản cực có gắn các xương dọc và xương ngang để tăng độ cứng vững và tạo ra các ô cho chất hoạt tính bám trên bản cực Khi Acquy hoạt động chất hoạt tính tham gia đồng thời vào các phản ứng hoá học càng nhiều càng tốt, do đó để tăng bề mặt tiếp xúc của các chất hoạt tính với dung

Trang 30

dịch điện phân, người ta chế tạo chất hoạt tính có độ xốp, đồng thời đem ghép những tấm cực cùng tên song song với nhau thành một chum cực ở trong mỗi ngăn của Acquy đơn

Hình 3.2 Cấu tạo chi tiết của Acquy

Bản cực dương và bản cực âm được lồng xen kẽ nhau nhưng giữa hai bản cực khác tên lại được đặt them một tấm cách, tấm cách được làm từ chất cách điện để cách điện giữa hai bản cực như nhựa xốp, thuỷ tinh hay gỗ

Trong thực tế, các bản cực Acquy không giống như ở trên, các cực của Acquy có

số lượng nhiều hơn (để tạo ra dung lượng bình Acquy lớn) và mỗi bình Acquy lại bao gồm nhiều ngăn như vậy Nhiều tấm cực để tạo ra tổng diện tích bản cực được nhiều hơn, giúp cho quá trình phản ứng xảy ra đồng thời tại nhiều vị trí và do đó dòng điện cực đại xuất ra từ Acquy đạt trị số cao hơn - và tất nhiên là dung lượng Acquy cũng tăng lên

Do kết cấu xếp lớp nhau giữa các tấm cực của Acquy nên thông thường số cực dương và cực âm không bằng nhau bởi sẽ tận dụng sự làm việc của hai mặt một bản cực (nếu số bản cực bằng nhau thì các tấm ở bên rìa sẽ có hai mặt trái chiều ở cách nhau quá

xa, do đó phản ứng hóa học sẽ không thuận lợi) Ở giữa các bản cực của Acquy đều có tấm chắn, các tấm chắn này không dẫn điện nhưng có độ thẩm thấu lớn để thuận tiện cho quá trình phản ứng xảy ra khi các cation và anion xuyên qua chúng để đến các điện cực Mỗi một ngăn cực của Acquy a-xít chỉ cho mức điện áp khoảng 2 đến 2,2 V do đó

để đạt được các mức 6, 12 V thì Acquy phải ghép nhiều ngăn nhỏ với nhau, ví dụ ghép

3 ngăn để thành Acquy 6V, ghép 6 ngăn để thành Acquy 12V

Trang 31

Hình 3.3 Các bản cực của Acquy được gắn song song nhau

3.3.2 Phân loại

 Acquy “châm nước”

Người dùng phải “châm nước” (bảo dưỡng) thường xuyên mỗi khi Acquy cạn dung

dịch Nếu không châm dung dịch acid kịp thời, Acquy sẽ mất khả năng tích điện, phóng điện và thậm chí là bị phù (trương), hỏng Khi sạc điện, dung dịch bên trong Acquy thường bốc mùi rất khó chịu và gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người dùng Khi đặt sai vị trí (nghiêng, sấp, …), dung dịch trong Acquy sẽ thoát ra ngoài Vì những điểm yếu đó mà dòng Acquy này thường chỉ được dùng trong những môi trường ngoài trời (outdoor) như dùng để khởi động động cơ, máy phát, xe tải, ô tô…

Hình 3.4 Acquy châm nước

Trang 32

 Acquy miễn bảo dưỡng (MF - Maintainence Free)

Hình 3.5 Acquy miễn bão dưỡng

Miễn bảo dưỡng có nghĩa là người dùng không cần phải can thiệp bằng cách châm nước như dòng sản phẩm thư nhất Đối với dòng sản phẩm này, khi sạc điện khí vẫn thoát ra ngoài nhưng ít hơn dòng sản phẩm châm nước; khi để không đúng vị trí (nghiêng, sấp, …) thì dung dịch bên trong Acquy sẽ thoát ra ngoài Dòng sản phẩm này

được thiết kế hầu hết cho mục đích “khởi động” hay còn gọi là “kích điện” – điều này

thể hiện ở hai cực của Acquy (thông thường hai cực của dòng sản phẩm này được thiết

kế theo dạng tròn và rất lớn – vì khi kích điện, ví dụ cho xe tải, xe ô tô, máy phát, … Acquy cần phóng một lượng điện cực lớn trong một khoảng thời gian rất ngắn để khởi động động cơ)

 Acquy kín khí (AGM VRLA – Absorbent Glass Mat/ Valve Regulated Lead Acid)

Hình 3.6 Acquy kín khí

Có lẽ thuật ngữ “Acquy kín khí” là chính xác nhất để đặt tên cho dòng sản phẩm này (vì kín khí tức là khí không thể thoát ra ngoài; một khi khí không thoát được thì

Ngày đăng: 18/10/2017, 10:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w