SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓATRƯỜNG THPT TĨNH GIA 3 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SỬ DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP MỚI NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG CỦA HỌC SINH TRONG HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔN
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT TĨNH GIA 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP MỚI NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG CỦA HỌC SINH TRONG HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 12 TẠI TRƯỜNG THPT
TĨNH GIA 3
Người thực hiện: Lê Như Hảo
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Tĩnh Gia 3
SKKN thuộc môn: Giáo dục công dân
THANH HÓA NĂM 2017
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3người học phải tích cực, chủ động chính mình chứ không ai có thể làm thaycho mình được.
Chương trình đổi mới giáo dục trên phạm vi toàn quốc trong nhữngnăm vừa qua đã và đang được cả xã hội quan tâm sâu sắc Một trong nhữngnhiệm vụ cơ bản của đội ngũ nhà giáo là không ngừng cải tiến phương phápgiảng dạy nhằm giáo dục học sinh lĩnh hội kiến thức một cách chủ động, sángtạo Chính vì thế mà người giáo viên trực tiếp giảng dạy phải biết thiết kế cáchoạt động lên lớp một cách hợp lý, cụ thể phù hợp với từng đối tượng họcsinh nhằm khơi dậy niềm say mê sáng tạo và khả năng khám phá thế giớixung quanh
Môn Giáo dục công dân cùng các môn học khác đều nhằm vào mụctiêu đó Với vị trí và chức năng của môn học, môn Giáo dục công dân cầnphải có những chuyển biến mạnh mẽ về đổi mới phương pháp giảng dạynhằm “Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh” nhằmlàm thay đổi quan niệm của học sinh: coi đây là môn học phụ và là một mônhọc mà ít được giáo viên và xã hội quan tâm Từ đó giúp cho học sinh và một
bộ phận giáo viên hiểu đúng đắn về môn Giáo dục công dân, phải hiểu nó làmột khoa học và được đối xử “bình đẳng” như các môn học khác, tác dụngcủa môn học đối với việc hình thành phẩm chất, tư tưởng, đạo đức, phongcách của con người mới
Xuất phát từ lí do trên tôi mạnh dạn chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm
“Sử dụng một số phương pháp mới nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập môn Giáo dục công dân lớp 12 tại Trường THPT Tĩnh gia 3”, với hi vọng đáp ứng một phần vào việc đổi mới phương
pháp giảng dạy mà ngành giáo dục đang thực hiện nói chung và của môn Giáodục công dân nói riêng
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Sử dụng một số phương pháp mới
nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập môn Giáo dục công dân lớp 12 tại Trường THPT Tĩnh gia 3”, đặt ra mục đích tìm hiểu
và đánh giá tình hình đổi mới phương pháp giảng dạy nói chung và đổi mớiphương pháp giảng dạy môn Giáo dục công dân nói riêng Phân tích mụcđích, vai trò và hiệu quả đổi mới phương pháp giảng dạy đối với môn Giáodục công dân Qua đó đưa ra một số phương pháp giảng dạy nhằm nâng caotinh thần trách nhiệm của giáo viên và khả năng chủ động, sáng tạo của họcsinh, nhằm đạt được mục tiêu của ngành là chuyển từ lấy “Dạy” làm trungtâm sang lấy “Học” là trung tâm
1.3 Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của một số phương pháp giảng dạy
- Đưa ra một số phương pháp giảng dạy minh họa cho môn Giáo dụccông dân theo hướng đổi mới
1.4 Đối tượng nghiên cứu.
Trang 4Tính tích cực chủ động của học sinh khối 12 (gồm 8 lớp từ 12B1 đến12B8 ) Trường THPT Tĩnh gia 3.
1.5 Phương pháp nghiên cứu.
- Qua thực tiễn giảng dạy và học tập trên lớp
- Qua các kênh thông tin: Sách, báo, các tài liệu chuyên ngành có liênquan
- Qua kinh nghiệm của các đồng nghiệp, đặc biệt là các đồng nghiệptrực tiếp giảng dạy môn Giáo dục công dân
II: NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lí luận
Theo khoản 2, điều 28 của Luật Giáo dục năm 2005 đã ghi: “ Phươngpháp giáo dục phổ thông phải phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động,sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồidưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năngvận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,hứng thú học tập cho học sinh”
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/06/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu
“phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợpvới đặc trưng môn học, đặc diểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớphọc, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện
kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lạiniềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”
Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động họctập chủ động chống lại thói quen học tập thụ động Chính vì vậy, khi viết mụctiêu bài học, giáo viên phải hình dung rõ sau khi học xong bài học đó, tiết học
đó học sinh cần nắm được kiến thức, kĩ năng, thái độ gì? mức độ như thế nào?
Từ đó thay đổi thói quen suy nghĩ tập trung vào điều giáo viên đặt ra cho họcsinh phải đạt được sau khi học xong bài đó
Theo hướng phát huy vai trò chủ thể tích cực, chủ động, sáng tạo củangười học thì mục tiêu đề ra là cho học sinh, do học sinh thực hiện, chính họcsinh thông qua các hoạt động học tập tích cực phải đạt được những mục tiêu
ấy, còn giáo viên là người chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn, trợ giúp học sinh nắmđược kiến thức của bài học
Việc phát triển năng lực trí tuệ và khả năng tự học của học sinh tronggiờ học, học sinh không chỉ được trang bị kiến thức trong sách giáo khoa màcòn hình thành phẩm chất, tư duy của người lao động mới trong thời đại pháttriển của khoa học công nghệ
Tuy nhiên, đổi mới phương pháp giảng dạy không có nghĩa là gạt bỏcác phương pháp truyền thống mà phải vận dụng một cách có hiệu quả các
Trang 5phương pháp dạy học hiện có theo quan điểm dạy học tích cực kết hợp vớicác phương pháp hiện đại.
Việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm giúp học sinh phát huy tínhtích cực, tự giác, chủ động, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thầnhợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau tronghọc tập và trong thực tiễn Làm cho học là một quá trình kiến tạo, học sinhtìm tòi, khám phá, phát hiện, khai thác và xử lí thông tin, tự hình thành hiểubiết, năng lực và phẩm chất Để chủ thể của quá trình học được cuốn hút vàocác hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lựckhám phá những điều mình chưa rõ, chứ không phải thụ động tiếp thu nhữngtri thức được giáo viên sắp đặt sẵn, đặt người học vào tình huống có vấn đề,vào thực tế cuộc sống, người học trực tiếp thảo luận, quan sát, giải quyết vấn
đề theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức mới, không rậpkhuôn theo khuôn mẫu có sẵn, được bộc lộ và phát huy tiền năng sáng tạo Đểlàm được điều này giáo viên không chỉ đơn giản truyền đạt tri thức mà cònhướng dẫn các hoạt động Nội dung và phương pháp dạy học phải giúp chođối tượng học sinh biết hoạt động và tích cực tham gia các chương trình hoạtđộng
Phương pháp dạy học tích cực không hề hạ thấp hay giảm nhẹ vai tròchủ đạo của người thầy Để phương pháp dạy học tích cực đạt được hiệu quảcao, người thầy phải thực sự trở thành người thiết kế, tổ chức hướng dẫn cáchoạt động độc lập hoặc theo nhóm để học sinh chiếm lĩnh được tri thức mới,hình thành kĩ năng, thái độ, tình cảm và niềm tin theo yêu cầu của nội dung,chương trình môn Giáo dục công dân Nhưng không phải mọi loại tri thức đều
có thể do học sinh tự chiếm lĩnh được và hơn thế nữa phương pháp dạy họctích cực cần phải có sự trợ giúp của các loại thiết bị và phương tiện dạy học
bộ môn trong quá trình học
Qua thực tế đó, chúng ta thấy rằng cần phải có sự thay đổi căn bảntrong cách nhìn nhận về tầm quan trọng của bộ môn, đặc biệt trong xu thếtoàn cầu hoá, nền kinh tế thị trường Vì vậy, phải có sự thay đổi trong cáchdạy và học môn Giáo dục công dân Vậy thay đổi như thế nào? Đây khôngphải là câu hỏi dễ, thay đổi từ cách nhìn nhận của một bộ phận giáo viên,thậm chí là cả ở các cấp quản lý
Trang 6Để đạt được sự thay đổi đó, thì người giáo viên trực tiếp giảng dạy mônGiáo dục công dân phải có những đổi mới về phương pháp dạy học và hìnhthức tổ chức dạy học Làm sao gây được sự chú ý, say mê ham muốn tìm hiểukiến thức của bộ môn một cách tích cực và chủ động của học sinh Từ đó giúphọc sinh hiểu đúng tên của bộ môn “Giáo dục công dân”.
Vậy, để phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo củahọc sinh trong học tập môn Giáo dục công dân 12 thì người thầy phải:
- Thiết kế giáo án theo những mục tiêu cụ thể, từ đó tổ chức, chỉ đạo hướngdẫn học sinh thực hiện các hoạt động một cách có hiệu quả
- Người thầy biết sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, kết hợp cảphương pháp dạy học truyền thống với phương pháp dạy học hiện đại mộtcách hợp lý
- Tạo điều kiện để học sinh vận dụng nhiều kiến thức đã học vào thực tiễncuộc sống, để phân tích đánh giá, giải quyết các tình huống và các vấn đề đặt
- Phương pháp thảo luận nhóm
- Phương pháp trực quan
- Phương pháp vấn đáp
- Phương pháp giải quyết vấn đề
- Phương pháp liên hệ thực tế và tự liên hệ
- Phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy
- Phương pháp thảo luận nhóm.
Đối với phương pháp này giáo viên phải tổ chức cho học sinh bàn bạc,trao đổi trong nhóm nhỏ, nhằm giúp cho mọi học sinh có thể chia sẻ kiếnthức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề của nội dung bài học
Về thực chất, phương pháp thảo luận là tổ chức cho học sinh bàn bạc,trao đổi trong nhóm nhỏ Thảo luận nhóm được sử dụng rộng rãi nhằm giúpcho học sinh tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội
Trang 7cho học sinh có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết mộtvấn đề có liên quan đến nội dung bài học.
- Học tập hợp tác theo phương pháp này trong giảng dạy môn Giáo dục côngdân được thực hiện khi:
+ Thảo luận để tìm ra nội dung vấn đề và đi đến kết luận
+ Cùng thực hiện một vấn đề hoặc mỗi nhóm thực hiện một vấn đề của mộtđơn vị kiến thức mà giáo viên giao cho
- Để phát huy tính tích cực hợp tác theo nhóm, cần đảm bảo một số yêu cầusau đây:
+ Nội dụng thảo luận nhóm có thể giống nhau hoặc khác nhau
+ Giáo viên nêu chủ đề thảo luận, chia nhóm, giao câu hỏi, yêu cầu thảo luậncho mỗi nhóm, quy định thời gian và phân vị trí chỗ ngồi thảo luận cho cácnhóm
+ Phân nhóm trưởng và thư kí
+ Các nhóm tiến hành thảo luận
+ Đại diện các nhóm trình bày kết quả, các nhóm khác chất vấn, trao đổi, bổsung ý kiến
+ Giáo tổng kết các ý kiến
Phương pháp hoạt động nhóm giúp cho các thành viên trong nhóm chia
sẻ những băn khoăn, kinh nghiệm bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thứcmới
Ví dụ: Minh hoạ cụ thể cho phương pháp này bằng một đơn vị kiến
thức cụ thể trong bài 2 – tiết 1: Thực hiện pháp luật.
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung kiến thức cần đạt
- GV: Tổ chức cho học sinh thảo luận
nhóm, tìm hiểu các hình thức thực
hiện pháp luật
- GV: Chia lớp thành bốn nhóm
- HS: Cử đại diện, thư kí nhóm
- GV: Giao câu hỏi cho bốn nhóm
Nhóm 1Chủ thể của sử dụng PL là ai?
Chủ thể sử dụng pháp luật để thực
hiện cái gì? lấy ví dụ minh hoạ?
Nhóm 2Chủ thể của thi hành PL là ai?
Chủ thể thi hành pháp luật để thực
hiện cái gì? lấy ví dụ minh hoạ?
Nhóm 3Chủ thể của tuân thủ PL là ai?
Chủ thể tuân thủ pháp luật để thực
hiện cái gì? lấy ví dụ minh hoạ?
1 Khái niệm, các hình thức và các giai đoạn thực hiện pháp luật.
b Các hình thức thực hiện pháp luật.
- Sử dụng pháp luật: các cá nhân, tổ
chức sử dụng đúng đắn các quyềncủa mình, làm những gì mà pháp luậtcho phép làm
VD: Công dân thực hiện quyền học tập
- Thi hành pháp luật: các cá nhân, tổ
chức thực hiện đầy đủ những nghĩa
vụ chủ động làm những gì mà phápluật quy định phải làm
Trang 8Nhóm 4Chủ thể của áp dụng PL là ai?
Chủ thể áp dụng pháp luật để thực
hiện cái gì? lấy ví dụ minh hoạ?minh
hoạ?
- HS: Các nhóm thảo luận
- GV: Hướng dẫn học sinh thảo luận,
bổ sung ý kiến, giúp học sinh tìm
hiểu nội dung các hình thức thực hiện
pháp luật
- HS: Cử đại diện nhóm trình bày
- HS: Cả lớp tham gia góp ý kiến
- GV: Nhận xét ý kiến của bốn nhóm
- GV: Kết luận vấn đề
- HS: Ghi nội dung vào vở
VD: Khi tham gia giao thông người điều khiển xe máy phải đội mũ bảo hiểm
- Tuân thủ pháp luật: Là cá nhân, tổ
chức không làm những điều mà phápluật cấm
VD: Không tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy
- Áp dụng pháp luật: các cơ quan,
công chức nhà nước có thẩm quyềncăn cứ vào pháp luật để ra các quyếtđịnh làm phát sinh, chấm dứt hoặcthay đổi việc thực hiện các quyền,nghĩa vụ cụ thể của cá nhân, tổ chức
VD: Cảnh sát giao thông ra quyết định xử phạt hành vi không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông
Hoặc sau khi học xong nội dung 3: Quyền khiếu nại tố cáo của công
dân ở bài 7: Công dân với các quyền dân chủ, Giáo viên có thể tổ chức cho
mỗi nhóm học sinh thảo luận vấn đề sau: những điểm giống nhau và khác
nhau giữa quyền khiếu nại với quyền tố cáo của công dân.
Tuy nhiên, sự thành công của phương pháp này phụ thuộc vào sự nhiệttình tham gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còn gọi là phươngpháp cùng tham gia, cho nên giáo viên phải biết tổ chức hợp lý và học sinhtích cực, chủ động thì phương pháp này mới có hiệu quả Cần nhớ rằng, tronghoạt động nhóm, tư duy tích cực của học sinh phải được phát huy và ý nghĩaquan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thànhviên Cần tránh khuynh hướng hình thức và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổchức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới phương pháp dạyhọc và hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ phương pháp dạy học càngđổi mới
- Phương pháp trực quan.
Quan niệm: phương pháp trực quan là phương pháp giáo viên sử dụng
đồ dùng dạy học để minh họa cho kiến thức thức bài giảng
Là việc giáo viên sử dụng các phương tiện dạy học tác động trực tiếpđến cơ quan cảm giác của học sinh nhằm đạt được hiệu quả cao
Lưu ý khi sử dụng phương pháp trực quan
+ Khi nêu ra các tài liệu trực quan cần phải phân tích, giảng giải và rút ra kếtluận một cách chính xác
Trang 9+ Tránh hình thành ở học sinh phương pháp tư duy máy móc.
+ Kết hợp phương pháp trực quan với các phương pháp khác
Một số hình thức của phương pháp trực quan trong giảng dạy môn Giáodục công dân
+ Sơ đồ, bản đồ, tranh ảnh, số liệu thống kê
+ Sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy
+ Tham quan
- Sử dụng sơ đồ, biểu đồ, bản đồ nó có tác dụng hệ thống kiến thức, nắm kiến
thức bài giảng tổng quát, khái quát
Ví dụ 1: minh hoạ cụ thể cho phương pháp trực quan bằng một đơn vị
kiến thức trong bài 2 – tiết 2: Thực hiện pháp luật
Giáo viên đưa ra một sơ đồ mô tả mối quan hệ giữa thực tiễn xã hội vớiviệc xây dựng pháp luật
XD Pháp luật
Thực hiện PL
- Tranh ảnh: Là hình ảnh trực quan gây nhiều ấn tượng sâu sắc, tạo ra trạng
thái tâm lý tiếp thu nhẹ nhàng Tất nhiên việc sử dụng tranh ảnh phải có chọnlọc Vì tranh ảnh minh họa đúng nội dung thì sẽ có tác dụng tốt Song tranhảnh nếu thiếu sự chọn lọc sẽ có tác hại xấu
Ví dụ 2: Khi học đơn vị kiến thức Tuân thủ pháp luật của Các hình thức
thực hiện pháp luật giáo viên cho học sinh quan sát bức ảnh trong sách giáo
khoa giáo dục công dân 12 trang 12, sau đó giáo viên nêu câu hỏi: Thông qua
bức ảnh về người đi xe máy đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông em hiểu như thế nào là tuân thủ pháp luật?
- Hình thức tham quan: Tổ chức tham quan như tham dự một phiên tòa xét xử Chú ý: Cần chuẩn bị cho nội dung tham quan và sau đợt tham quan có viết thu
hoạch
- Hình thức trực quan qua màn ảnh, băng hình, video: Ví dụ như chiếu các
đoạn phim về hoạt động bầu cử, tiếp xúc cử tri, hay các chính sách xã hội…
Giáo viên
Trang 10+ Tìm tòi: Giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi để dẫn dắt học sinh từng
bước phát hiện ra nội dung kiến thức Giáo viên tổ chức cho học sinh trao đổi
ý kiến, kể cả tranh luận giữa giáo viên với học sinh và giữa học sinh với họcsinh
Ví dụ 1: Minh hoạ cụ thể cho phương pháp này bằng một đơn vị kiến
thức cụ thể trong bài 2 – tiết 2:
Giáo viên sử dụng phương pháp vấn đáp tái hiện để kiểm tra bài cũ sau
khi học xong tiết 2 – Bài 2: Thực hiện pháp luật
Giáo viên đặt câu hỏi: Em hãy trình bày các dấu hiệu cơ bản của vi phạm
- Do người có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện
- Người vi phạm phải có lỗi: Lỗi cố ý: Cố ý trực tiếp
Cố ý gián tiếp
Lỗi vô ý: Vô ý do quá tự tin
Vô ý do cẩu thả
Ví dụ 2: Giáo viên sử dụng phương pháp vấn đáp tìm tòi để củng cố
bài học khi học xong tiết 2 – bài 2: Thực hiện pháp luật.
Giáo viên đặt câu hỏi: Theo em có những nguyên nhân nào dẫn đến vi
phạm pháp luật? Đối với câu hỏi này đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ và dựavào kiến thức đã học để tìm ra nội dung câu hỏi và học sinh phải trả lời được
+ Nguyên nhân chủ quan: Coi thường pháp luật; cố ý vi phạm; khônghiểu biết pháp luật; lấy ví dụ minh hoạ
+ Nguyên nhân khách quan: Thiếu pháp luật; pháp luật không còn phùhợp
- Phương pháp giải quyết vấn đề.
Học sinh Học sinh
Trang 11Đây là phương pháp xem xét, phân tích những vấn đề đang tồn tại giúphọc sinh vạch ra những cách thức giải quyết vấn đề, tình huống cụ thể gặpphải trong đời sống hàng ngày Đới với phương pháp này nhằm phát triển tưduy sáng tạo, năng lực giả quyết vấn đề của học sinh.
Tuy nhiên đối với phương pháp này giáo viên cần lưu ý khi sử dụng:+ Vấn đề, tình huống được lựa chọn phải phù hợp với môn GDCD, gần gũivới thực tế học sinh, phải kích thích được sự sáng tạo của học sinh
+ Cách giải quyết vấn đề được lựa chọn phải là phương pháp tối ưu nhất
Cách tiến hành
- Xác định vấn đề cần giải quyết là gì?
- Nêu nên những chi tiết có liên quan đến vấn đề
- Nêu nên những câu hỏi giúp cho việc giải quyết vấn đề
+ Vấn đề xảy ra trong điều kiện nào?
+ Vấn đề xảy ra khi nào?
- Liệt kê tất cả các giải pháp
- Đánh giá kết quả các giải pháp
- So sánh kết quả các giải pháp
- Quyết định chọn giải pháp tốt nhất
Ví dụ: Minh hoạ cho phương pháp này: bằng đơn vị kiến thức “a”
Quyền học tập của công dân trong bài 8 - tiết 1: Pháp luật với sự phát triển của công dân.
Giáo viên đưa ra các tình huống sau đó yêu cầu học sinh giải quyết tìnhhuống mà giáo viên đưa ra:
Thắng chẳng may bị bệnh và liệt cả hai chân từ năm lên 4 tuổi Nămnay Thắng đã lên 9 tuổi mà Thắng vẫn chưa được đến trường Vì mẹ Thắngcho rằng: Thắng có đi học học cũng không có ích gì, mà tàn tật như vậy chẳng
có trường nào nhận vào học
Giáo viên yêu cầu học sinh giải quyết tình huống bằng một câu hỏi đặtra: Em có tán thành với ý kiến của mẹ Thắng đặt ra không? Vì sao?
Học sinh suy nghĩ, trao đổi, đưa ra ý kiến của mình.
Giáo viên kết luận:
+ Không đồng ý với ý kiến của mẹ Thắng
+ Vì: Người lạnh lặn hay người khuyết tật đều có quyền và cơ hội họctập như nhau Trong điều 10 của Luật Giáo dục 2005 có ghi: Nhà nước và xãhội tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật, có hoàn cảnh khó khăn khác được họcvăn hoá và học nghề phù hợp
Có thể phân biệt bốn mức độ đặt và giải quyết vấn đề
+ Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề Học sinh thực
hiện cách giải quyết vấn đề theo sự hướng dẫn của học sinh, sau đó giáo viênđánh giá kết quả làm việc của học sinh