Chương III: Sử dụng tài liệu thành văn trong dạy học lịch sử ở THPT khi dạyhọc chương V: Quan hệ quốc tế 1945-2000 và chương VI: Cách mạng khoa học-công nghệ và xu thế toàn cầu hóa, phần
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
II Phạm vi nghiên cứu
III Mục đích nghiên cứu
IV Đóng góp của tiểu luận
V Cấu trúc của tiểu luận
Chương I: Cơ sở lý luận của việc sử dụng tài liệu thành văn trong dạy học lịch
sử ở trường THPT
Chương II: Hệ thống tài liệu thành văn có thể khai thác sử dụng khi dạy họcchương V: Quan hệ quốc tế (1945-2000) và chương VI: Cách mạng khoa học-côngnghệ và xu thế toàn cầu hóa, phần lịch sử thế giới, sách giáo khoa lịch sử 12THPT( Chương trình chuẩn)
Chương III: Sử dụng tài liệu thành văn trong dạy học lịch sử ở THPT khi dạyhọc chương V: Quan hệ quốc tế (1945-2000) và chương VI: Cách mạng khoa học-công nghệ và xu thế toàn cầu hóa, phần lịch sử thế giới, sách giáo khoa lịch sử 12(Chương trình chuẩn)
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TÌ LIỆU THÀNH VĂNTRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
I Thế nào là tài liệu thành văn
II Phân loại tài liệu thành văn
III Ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu thành văn trong dạy học lịch sử ở tườngTHPT
Trang 2CHƯƠNG II: HỆ THỐNG TÀI LIỆU THÀNH VĂN CÓ THỂ KHAI THÁC
SỬ DỤNG KHI DẠY HỌC CHƯƠNG V: QUAN HỆ QUỐC TẾ (1945-2000) VÀCHƯƠNG VI: CÁCH MẠNG KHOA- HỌC CÔNG NGHỆ VÀ XU THẾ TOÀNCẦU HÓA, PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI, SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ 12THPT( CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)
CHƯƠNG III: SỬ DỤNG TÀI LIỆU THÀNH VĂN TRONG DẠY HỌC LỊCH
SỬ Ở THPT KHI DẠY HỌC CHƯƠNG V: QUAN HỆ QUỐC TẾ (1945-2000)
VÀ CHƯƠNG VI: CÁCH MẠNG KHOA- HỌC CÔNG NGHỆ VÀ XU THẾTOÀN CẦU HÓA, PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI, SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ
12 ( CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)
I Một số yêu cầu khi sử dụng tài liệu thành văn trong dạy học lịch sử ở THPTkhi dạy học chương V và chương VI, phần lịch sử thế giới, sách giáo khoa lịch sử
12 (Chương trình chuẩn)
I.1 Đảm bảo mục tiêu bài học
I.2 Đảm bảo tính Đảng, tính khoa học
I.3 Đảm bảo tính vừa sức
I.4 Đảm bảo phát huy tính tích cực học tập cho học sinh
I.5 Đảm bảo sự hứng thú học tập
II Phương pháp sử dụng tài liệu thành văn trong dạy học lịch sử ở THPT khidạy học chương V và chương VI, phần lịch sử thế giới, sách giáo khoa lịch sử 12(Chương trình chuẩn)
II.1 Sử dụng để cụ thể hóa các sự kiện lịch sử
II.2 Sử dụng để đi sâu hiểu bản chất các sự kiện lịch sử
II.3 Sử dụng để giải thích các “ khái niệm, thuật ngữ” khó
II.4 Sử dụng để dạy học nêu vấn đề
II.5 Sử dụng để ôn tập, tổng kết
KẾT LUẬN
Trang 3TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài.
Nước ta đang trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Giáo dục – Đàotạo được đặt ở vị trí là “Quốc sách hàng đầu” Hiện nay nước ta đang thực hiệncông cuộc đổi mới trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực phát triển giáo dục toàndiện, nhất là giáo dục phổ thông Việc cải tiến đổi mới nội dung, phương pháp dạyhọc trở thành một yêu cầu có tính cấp bách và phải tiến hành thường xuyên, đồng
bộ
Thực tế cho thấy trong những năm gần đây ở các trường THPT chất lượng
bộ môn lịch sử có phần giảm sút, các em ít ham thích học tập, ít tìm hiểu lịch sử,cũng như môn lịch sử ít được coi trọng và gần đây được xem như là một môn phụ
Bộ môn lịch sử là một môn học mang nét đặc thù riêng, đối tượng nghiêncứu của bộ môn lịch sử rất đặc biệt, nó không giống với các môn học của các khoahọc tự nhiên Bởi vì chúng ta không thể trực tiếp quan sát các sự kiện đã diễn ratrong quá khứ cũng như không thể thực hiện lại sự kiện thông qua thí nghiệm.Chính vì những đặc thù đó, học sinh không thể trực quan sinh động các sự kiện đãxảy ra mà nhận thức lịch sử bắt đầu từ tài liệu, sự kiện Tài liệu thành văn là nguồntài liệu cơ bản giúp học sinh tạo được biểu tượng lịch sử một cách chân thực, hìnhthành khái niệm, nêu quy luật, rút ra bài học lịch sử, rèn luyện cho các em thóiquen làm việc với tài liệu, với nghiên cứu khoa học và phát triển tư duy lịch sử
Trong dạy học ở trường THPT, ngoài sách giáo khoa, tài liệu thành văn vớivai trò là tài liệu tham khảo giữ một vị trí trọng yếu Tài liệu thành văn không chỉgiúp cho học sinh khôi phục lại hình ảnh một cách khách quan, trung thực, sinhđộng mà còn giúp cho các em phát triển trí tưởng tượng, tích cực hóa quá trìnhnhận thức và tạo điều kiện cho học sinh phát huy được tính tích cực và hứng thútrong giờ học
Mặc dù tài liệu thành văn đóng một vai trò quan trọng trong việc dạy học,đặc biệt đối với môn lịch sử Nhưng hiện nay trong dạy học lịch sử ở các trườngTHPT, việc sử dụng tài liệu thành văn trong dạy học lịch sử còn hạn chế, nhiềugiáo viên chỉ dựa chủ yếu vào sách giáo khoa, ít sử dụng tài liệu thành văn, dẫn
Trang 5đến tiết dạy và học nhàm chán, chưa nâng cao hiệu quả chất lượng cũng như họcsinh chưa hứng thú học tập bộ môn.
Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài “Sử dụng tài liệu thành văn trong dạyhọc lịch sử chương V: Quan hệ quốc tế (1945-2000) và chương VI: Cách mạngkhoa học-công nghệ và xu thế toàn cầu hóa, phần lịch sử thế giới sách giáo khoalịch sử 12 THPT (chương trình chuẩn)” để nghiên cứu góp phần nâng cao bàigiảng lịch sử ở trường phổ thông
II.Phạm vi nghiên cứu.
Từ việc xác định đối tượng nghiên cứu nêu trên, tiểu luận chỉ tập trungnghiên cứu và vận dụng những thành tựu của lý luận dạy học hiện đại về vấn đề sửdụng tài liệu lịch sử thành văn trong dạy học lịch sử thế giới ở chương V: Quan hệquốc tế (1945-2000) và chương VI: Cách mạng khoa học-công nghệ và xu thế toàncầu hóa, phần lịch sử thế giới, sách giáo khoa lịch sử 12 THPT (chương trìnhchuẩn)
III Mục đích nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu nội dung và phương pháp sử dụng tài liệu thành văn trongdạy học lịch sử phần lịch sử thế giới ở chương V: Quan hệ quốc tế (1945-2000) vàchương VI: Cách mạng khoa học-công nghệ và xu thế toàn cầu hóa, phần lịch sửthế giới, sách giáo khoa lịch sử 12 THPT (chương trình chuẩn) Nhằm phát huytính tích cực của học sinh, làm cho học sinh yêu thích môn lịch sử và có hứng thúhơn trong giờ học lịch sử
IV Đóng góp của tiểu luận
Trên cơ sở kế thừa thành quả của các nhà nghiên cứu lý luận về phương phápdạy học và việc sử dụng tài liệu lịch sử thành văn trong dạy học lịch sử, cùng vớiviệc tham khảo các tài liệu liên quan, tiểu luận có những đóng góp như sau:
Trang 6- Về lý luận: Góp phần cụ thể hóa lý luận việc sử dụng tài liệu lịch sử thànhvăn trong dạy học lịch sử theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh ởmột giai đoạn lịch sử, cụ thể ở chương V: Quan hệ quốc tế (1945-2000) và chươngVI: Cách mạng khoa học-công nghệ và xu thế toàn cầu hóa, phần lịch sử thế giới,sách giáo khoa lớp 12 ở trường THPT (chương trình chuẩn).
- Về thực tiễn:
+ Đề tài xác định được hệ thống tài liệu lịch sử thành văn, đảm bảo tínhchính xác, khoa học phù hợp với chương trình, nội dung sách giáo khoa Lịch sửthế giới chương V: Quan hệ quốc tế (1945-2000) và chương VI: Cách mạng khoahọc-công nghệ và xu thế toàn cầu hóa, sách giáo khoa lịch sử lớp 12 ở trườngTHPT (Chương trình Chuẩn)
+ Đề xuất một số nguyên tắc và biện pháp khả thi để sử dụng tài liệu lịch sửthành văn theo hướng phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh một cách hợp
lý, hiệu quả trong dạy học lịch sử thế giới chương V: Quan hệ quốc tế (1945-2000)
và chương VI: Cách mạng khoa học-công nghệ và xu thế toàn cầu hóa, phần lịch
sử thế giới, sách giáo khoa lịch sử lớp 12 ở trường THPT (Chương trình Chuẩn),
để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử
V Cấu trúc của tiểu luận.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, tiểu luận gồm 3chương:
Chương I: Cơ sở lý luận của việc sử dụng tài liệu thành văn trong dạy họclịch sử ở trường THPT
Chương II: Hệ thống tài liệu thành văn có thể khai thác sử dụng khi dạyhọc chương V: Quan hệ quốc tế (1945-2000) và chương VI: Cách mạng khoa học-công nghệ và xu thế toàn cầu hóa, phần lịch sử thế giới, sách giáo khoa lịch sử 12THPT( Chương trình chuẩn)
Trang 7Chương III: Sử dụng tài liệu thành văn trong dạy học lịch sử ở THPT khidạy học chương V: Quan hệ quốc tế (1945-2000) và chương VI: Cách mạng khoahọc-công nghệ và xu thế toàn cầu hóa, phần lịch sử thế giới,sách giáo khoa lịch sử
12 (Chương trình chuẩn)
Trang 8NỘI DUNGCHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TÀI LIỆU THÀNH VĂN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT.
I Thế nào là tài liệu thành văn.
Ta có thể hiểu định nghĩa về tài liệu thành văn như sau:
“Tài liệu thành văn là những tư liệu cho ta những thông tin về các sự kiện đã xảy ra được ghi lại bằng chữ viết qua các kênh thông tin khác nhau Nguồn tài liệu này chiếm khối lượng lớn và đặc biệt quan trọng đôi khi chiếm vị trí chủ yếu trong các nguồn sử liệu”[ 12, trang 14 ].
Cũng như việc học tập các bộ môn khác ở trường phổ thông, học tập lịch sử làmột quá trình nhận thức, một quá trình thu nhận thông tin và sử dụng thông tin màmỗi học sinh cần phải thực hiện cùng với sự hướng dẫn, điều chỉnh của giáo viên,
sự giúp đỡ của các loại tài liệu và các phương tiện dạy học khác Khi học tập lịch
sử học sinh không thể trực tiếp quan sát các sự kiện, hiện tượng lịch sử đã xảy ratrong quá khứ, không thể tái hiện lịch sử trong phòng thí nghiệm, cho nên không
có biểu tượng nảy sinh từ trực giác Vì vậy tài liệu là chỗ dựa cho việc tái tạo lạilịch sử
II Phân loại tài liệu thành văn.
Tài liệu thành văn là tài liệu hết sức phong phú và có vị trí quan trọng đối vớicác công trình nghiên cứu Thông qua loại tài liệu này nhà sử học biết được toàndiện về đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của quá khứ Các nhà sử học đã từngquan niệm rằng chỉ có những tài liệu thành văn mới có thể được dùng làm tư liệu,còn những tài liệu khác điều không đáng tin cậy
Trên thực tế, tài liệu thành văn ra đời cùng với chữ viết Sự xuất hiện chữ viếtcùng với ra đời của nghề in đã làm cho tài liệu thành văn ngày càng đa dạng,phong phú Chữ viết cũng được sang tạo trên cơ sở những yêu cầu ghi nhớ bứcthiết của con người mà các hình thức ghi nhớ khác không thỏa mãn được Tuynhiên ở những thời kì đầu của lịch sử ghi nhớ được ghi chép, tư liệu thành văn chỉ
Trang 9được phản ánh một mặt hoạt động nhất định của một bộ phận xã hội – chủ yếu củagiai cấp thống trị và bộ phận tăng lữ Sử liệu viết về nhân dân ra đời muộn hơnnhưng đa dạng hơn và phản ánh đầy đủ những hoạt động của nhân dân Việc phânloại tài liệu thành văn tùy thuộc vào cơ sở nhận thức vị trí tài liệu, cụ thể là các căn
cứ sau:
* Giáo sư Trương Hữu Quýnh trong “Nhập môn sử học” đã phân thành các loại tài liệu thành văn sau:
-Tài liệu kinh điển: Trong tài liệu kinh điển gồm hai loại:
+ Các tác phẩm của C.Mác và Ăng-ghen, Lê-Nin và các tác phẩm chung của Ăngghen
Mác-+ Các văn kiện của quốc tế cộng sản, các hiệp ước, điều ước, tuyên ngôn, các tácphẩm báo chí, bài viết, sách của các lãnh tụ ở các nước trên thế giới, đặc biệt là cácvăn kiện của Đảng ta, các bài viết , các báo cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh…
-Nguồn tài liệu chính thống: Bao gồm những tài liệu liên quan đến nhà nước ,chính trị, pháp luật, tài chính kinh tế, văn hóa, giáo dục, quân sự, ngoại giao…-Nguồn tài liệu tư nhân: Nhật kí, hồi kí, kí sự, di chúc…Các lão thành cách mạng
* Trong cuốn “rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm” do Nguyễn Thị Côi chủ biên, tài liệu thành văn được phân chia như sau:
-Tài liệu giáo khoa : Là tài liệu cơ bản dành cho học sinh và cả cho giáo viên trongnhà trường Đây là loại tài liệu đã được biên soạn, chỉnh lí và qua nhiều lần cả cáchgiáo dục Do vậy, ngoài tài liệu giáo khoa hiện hành, giáo viên còn có thể sử dụngcác tài liệu giáo khoa trước đó
-Tài liệu tham khảo: Gồm nhiều loại tư liệu khác nhau, trước hết là tài liệu lịch sửnhư trích dẫn tài liệu gốc, sách báo, bài viết chuyên khảo về một sự kiện lịch sửtrong nước và thế giới Đây là loại tài liệu quý giúp học sinh có thể hiểu được cáchiện tượng lịch sử một cách sinh động, chính xác Tài liệu tham khảo gồm các tácphẩm văn học, các văn bản văn nghệ dân gian, các trích đoạn từ tác phẩm khoa họckhác có liên quan đến sự kiện, hiện tượng lịch sử như tác phẩm của Mác, Ăngghen,Lênin, Hồ Chí Minh
Trang 10-Các loại tài liệu thực tế sưu tầm trong đời sống xã hội thuộc các lĩnh vực tưtưởng, triết học, nghệ thuật, đạo đức, tâm lý xã hội, xã hội học Ngoài ra, còn cócác loại sách hướng dẫn giảng dạy, các sách lý giải hoặc một số giáo án mẫu củamột số Sở giáo dục biên soạn Bên cạnh đó, còn phải kể đến các bài viết trao đổikinh nghiệm về giảng dạy, được đăng tải trên các sách, báo.
* Một số tác giả khác lại chia tài liệu thành văn thành hai loại:
-Tài liệu gốc, là loại tài liệu do người đương thời ghi lại khi sự kiện lịch sử đangdiễn ra
-Tài liệu trung gian, là loại tài liệu phản ánh lịch sử qua thời gian của một tài liệukhác
Tóm lại, tùy theo góc độ nhìn nhận khác nhau mà tài liệu thành văn được phân loạinhư sau:
- Xét ở góc độ xuất xứ tài liệu:
+ Tài liệu gốc
+ Tài liệu trung gian
- Xét ở góc độ nội dung phản ánh:
+ Tài liệu chính trị quân sự
+ Tài liệu kinh tế
+ Tài liệu văn hóa, xã hội
- Xét ở góc độ ý nghĩa sự kiện:
+ Tài liệu cơ bản
+ Tài liệu không cơ bản
- Xét ở góc độ tầm quan trọng của nguồn tài liệu:
+ Tài liệu của Mác, Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh, các nhà lãnh đạo Đảng vàNhà nước ta
Trang 11+ Các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta.
+ Các bài nói, bài viết của các Đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta
+ Các công trình nghiên cứu đã xuất bản như giáo trình, sách chuyên khảo vềcác vấn đề kinh tế, chính trị - xã hội, các tác phẩm sử học…
+ Tài liệu báo chí viết về những vấn đề lịch sử
+ Tài liệu nguồn internet như từ google, vi.wikipedia…
III Ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu thành văn trong dạy học lịch sử ở THPT.
-Sử dụng tài liệu thành văn góp phần tạo biểu tượng lịch sử, giúp các em hình dung quá khứ lịch sử phong phú, đa dạng, chính xác…
Trong học tập lịch sử, việc tạo biểu tượng có ý nghĩa rất quan trọng Xuất phát
từ đặc điểm của nhận thức lịch sử, việc học tập lịch sử không bắt đầu từ trực quansinh động Muốn học sinh khôi phục được bức tranh lịch sử quá khứ với đầy đủtính cụ thể và sinh động của nó, cần thiết phải sử dụng tài liệu thành văn
- Sử dụng tài liệu thành văn để làm sáng tỏ bản chất của sự kiện lịch sử
Nhận thức lịch sử bao giờ cũng phức tạp, vì con người là một bộ phận khôngthể tách rời của đối tượng nghiên cứu Tài liệu thành văn sử dụng trong dạy họclịch sử không chỉ dừng ở việc tạo biểu tượng, mà còn giúp làm sáng tỏ bản chấtcủa sự kiện lịch sử Qua đó, giúp học sinh hình thành khái niệm, nêu quy luật, rútbài học lịch sử
- Sử dụng tài liệu thành văn góp phần vào việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức và giá trị thẩm mỹ cho học sinh.
Dạy học nói chung, dạy học Lịch sử nói riêng, đó là một quá trình nhận thứcđặc thù, trong đó giáo viên tổ chức, dẫn dắt học sinh một cách có mục đích, có kế
Trang 12hoạch để các em nắm vững tri thức văn hóa, kỹ năng cơ bản, hình thành cơ sở thếgiới quan, bồi dưỡng tư tưởng, đạo đức, thẩm mĩ cho học sinh.
Sử dụng tài liệu lịch sử thành văn góp phần vào việc giáo dục tư tưởng, tìnhcảm, đạo đức và giá trị thẩm mỹ cho học sinh Bởi vì, khi biết nhận thức về hiệnthực quá khứ, các em không chỉ tri giác mà còn “rung động”, “xao xuyến” Nhữngdấu hiệu tâm lý đó thể hiện sự “nhập thân” vào lịch sử, biểu thị thái độ của họcsinh đối với những gì mà các em nhận thức được Trong học tập lịch sử học sinh sẽđược học những câu chuyện bi thảm, những tình thế bất ngờ, những số phận khácthường
- Sử dụng tài liệu thành văn góp phần phát triển tư duy cho học sinh.
Lý luận dạy học đã chỉ ra rằng, tài liệu tham khảo nói chung, tài liệu thànhvăn nói riêng nếu được sử dụng hợp lí trong dạy học góp phần rèn luyện kỹ năng,phát triển tư duy độc lập, sáng tạo của các em
Cũng như việc học các bộ môn khác ở nhà trường phổ thông, học tập lịch sử
là một quá trình nhận thức, mỗi cá nhân phải chủ động thực hiện cùng với sự giúp
đõ, hướng dẫn, điều chỉnh của thầy giáo Học tập lịch sử, học sinh không chỉ dừng
ở việc ghi nhớ các sự kiện, điều quan trọng là phải hiểu bản chất sự kiện, quá trìnhlịch sử, rút ra quy luật, tìm kiếm bài học từ quá khứ phục vụ cho hiện tại Vì vậy,dạy học lịch sử cần phát huy tính tích cực, sáng tạo từ phía học sinh Phát triển tưduy độc lập, sáng tạo, phát huy tính tích cực học tập cho học sinh là điều cần thiết,song vấn đề đặt ra là làm sao để có thể bồi dưỡng lòng say mê, sự hứng thú học tậpđối với bộ môn
Để có được những đoạn tư liệu hay, góp phần đắc lực trong việc thực hiệnmục tiêu dạy học, đòi hỏi giáo viên phải có sự lựa chọn chính xác, cơ bản, có tácdụng giáo dưỡng, giáo dục, phát triển đối với học sinh Khi sử dụng, giáo viên
Trang 13tránh việc chất đống tài liệu làm giờ học nặng nề, đôi khi còn làm loãng trọng tâmcủa bài Muốn giờ học đạt hiệu quả cao, thầy giáo phải tạo cho học sinh sự hứngthú.
Trong dạy học lịch sử phát triển tư duy của học sinh là một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng Tư duy bao giờ cũng tiến hành trên những cơ sở nội dung cụthể tức là phải nắm bắt được những sự kiện, giải thích minh họa bằng dẫn chứng,phải phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các sự kiện theo quy luật chung của lịch sử.Bằng những đoạn tư liệu thành văn, thông qua quá trình điều khiển các hoạt độngnhận thức, giáo viên có thể yêu cầu học sinh đọc và rút ra nhận xét, kết luận hay ýnghĩa của đoạn tư liệu đó Hoặc giáo viên đọc tư liệu và đặt ra những câu hỏi, đòihỏi hoc sinh phải phát huy trí tuệ, tư duy để suy nghĩ và tìm cách trả lời
Chính vì thế, sử dụng tài liệu lịch sử thành văn nhằm góp phần khôi phục lạihình ảnh quá khứ một cách khách quan, chân thực Trên cơ sở đó để phân tích kháiquát, giải thích các hiện tượng lịch sử, là cơ sở để học sinh lĩnh hội tri thức lý luậnkhác, hiểu sâu sắc hơn bản chất sự kiện, nêu quy luật, rút ra bài học lịch sử, gópphần bồi dưỡng tư tưởng tình cảm, hoàn thiện nhân cách và phát triển tư duy lịch sửcho học sinh
Tóm lại, sử dụng tài liệu thành văn trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
là cần thiết, là một biện pháp có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quảbài học lịch sử ở trường THPT, góp phần vào việc bồi dưỡng thế hệ trẻ thànhnhững công dân có tri thức, có năng lực, có phẩm chất đạo đức tốt, đáp ứng yêucầu mà xã hội đòi hỏi
Trang 14CHƯƠNG II:
HỆ THỐNG TÀI LIỆU THÀNH VĂN CÓ THỂ KHAI THÁC SỬ DỤNG KHI DẠY HỌC CHƯƠNG V: QUAN HỆ QUỐC TẾ (1945-2000) VÀ CHƯƠNG VI: CÁCH MẠNG KHOA- HỌC CÔNG NGHỆ VÀ XU THẾ TOÀN CẦU HÓA, PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI, SÁCH GIÁO KHOA LỊCH
- Hai cường quốc Mĩ và Liên
Xô nhanh chóng chuyển sangđối đầu và đi tới tình trạngchiến tranh lạnh
* Biểu hiện
-Về phía Mĩ+ Tháng 3 / 1947 Học thuyếtTruman được công bố
+ Tháng 6 / 1947 thông qua kếhoạch Mácsan Mĩ giúp cácnước Tây Âu khôi phục kinh
tế nhằm tập hợp các nước nàyvào liên minh quân sự chốngLiên Xô và các nước Đông
“Trước hết, đó là sự phân chia khu vực ảnh hưởng… Các trật tự quốc tế lại phân đôi với hai siêu cường hùng mạnh như thế”
phụ lục 1
“Ngày 12.3.1947, Truman phát biểu tại một cuộc họp chung hai viện của Quốc hội Mỹ,…và sự viện trợ đó có một ý nghĩa chính trị sâu sắc”
Phụ lục 2
“Kế hoạch Mácsan thực chất chỉ là một kế hoạch bổ sung… Và chạy đua vũ trang chuẩn bị cho chiến tranh thế giới”
Trang 15+ Tháng 4 / 1949 thành lập tổchức Hiệp ước Bắc Đại TâyDương (NATO)
-Về phía Liên Xô+ Tháng 1 / 1949 Liên Xô vàĐông Âu thành lập hội đồngtương trợ kinh tế (SEV)
+ Tháng 5 / 1955 thành lập Tổchức Hiệp ước Vác sa va, mộtliên minh chính trị - quân sựmang tính chất phòng thủ củacác nước xã hội chủ nghĩaChâu Âu
NATO và Vác sa vađánh dấu sự xác lập củacục diện hai cực, haiphe do hai siêu cường
Mĩ và Liên Xô đứngđầu mỗi cực, mỗi phe,chiến tranh lạnh đã baotrùm cả thế giới
Phụ lục 3
“Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO)-Liên minh quân sự chính trị…Trụ
sở Hội đồng NATO đặt ở Bruc-xen (Bỉ)
Phụ lục 4
“Tiếp theo, sau khi các nước Đông Âu đã hoàn thành cách mạng dân chủ nhân dân…Với thị trường riêng của nó và khối kinh tế tư bản chủ nghĩa”
Phụ lục 5
“Trước tình hình đó, các nước Anbani, Bungari, Hunggari,…Điều đó nói lên tính chất phòng thủ của hiệp ước này”
Phụ lục 6
“Sau khi ra đời, cả hai khối quân sự ra sức chạy đua vũ trang…Từ đó, cả hai siêu cường mỗi năm đã chi hàng
tỉ USD cho quốc phòng”
+11/1972 hai miền nước Đức
đã kí tại Bon Hiệp định về
những cơ sở của quan hệ giữa Đông Đức và Tây Đức.
“Hiệp định gồm có chương
mở đầu và 10 điều khoản…đại diện thường trực đặt ở nơi có Chính phủ Trung ương”
Trang 16+1972 , hai siêu cường Liên
Xô và Mĩ đã thỏa thuận vềviệc hạn chế vũ khí chiến lược
và kí Hiệp ước về việc hạnchế hệ thống phòng chống tênlửa (ABM), sau đó ngày 26/5
là Hiệp định hạn chế vũ khítiến công chiến lược (SALT –1)
+8/1975 Định ước Henxinkikhẳng định những nguyên tắctrong quan hệ giữa các quốcgia và tạo nên một cơ chế giảiquyết các vấn đề liên quan đếnhòa bình, an ninh ở Châu Âu
+ 12/1989 tại đảo Manta (ĐịaTrung Hải) hai nhà lãnh đạo làM.Goócbachốp (Liên xô) vàG.Busơ (Mĩ) đã chính thứctuyên bố chấm dứt Chiếntranh lạnh
Phụ lục 8
“Trong bối cảnh đó, ngày 26-5-1972, Liên Xô và Mỹ kí hiệp ước… đặt trên tàu ngầm (SLBM): Liên Xô: 905; Mỹ: 710”
Phụ lục 9
“Ngày 1/8/1975, tại Hội nghị
an ninh và hợp tác châu Âu…
là nhân tố quyết định đối với hòa bình và hợp tác trên thế giới”
Phụ lục 10
“Thứ nhất, trải qua hơn 40 năm, với gánh nặng…Bước sang một thời kì mới, thời kì sau chiến tranh lạnh”
+ Trật tự thế giới hai cực tan
rã Trật tự thế giới mới đanghình thành theo xu hướng “đacực”với sự vươn lên của cáccường quốc Mỹ, Liên minhchâu Âu, Nhật Bản, LiênBang Nga, Trung Quốc
+ Các quốc gia hầu như đều
“Thứ nhất, xu thế đối thoại, hợp tác trên cơ sở hai bên cùng có lợi, trong tương lai
là tiến tới một hệ thống đa
cực”
Phụ lục 12
“Thứ ba,tất cả mọi quốc gia