Để nâng cao hiệu quả từng bài học lịch sử, người giáo viên phải có nhiềucon đường , biện pháp và kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học .Một trong những phương pháp có tác dụng tíc
Trang 1MỤC LỤC.
1 PHẦN MỞ ĐẦU
1.1.Lí do chọn đề tài
1.2.Mục đích nghiên cứu.
1.3.Đối tượng nghiên cứu
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1.Nghiên cứu lí thuyết
1.4.2.Nghiên cứu thực tế
1.4.3.Thực nghiệm sư phạm
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN
2.1.Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1 Tâm lí học sinh
2.1.2 Đặc trưng bộ môn lịch sử
2.1.3 Phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi thực hiện sáng kiến
2.2.1 Vị trí ý nghĩa của sách giáo khoa
2.2.2 Cấu tạo sách giáo khoa
2.2.3 Đặc điểm của sách giáo khoa
2.2.4 Thực tế của việc sử dụng sách giáo khoa trong dạy học lich sử ở trườngphổ thông hiện nay
2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc giải pháp đã sử dụng để giải
Trang 21.MỞ ĐẦU
1.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Trong các nguồn lực để phát triển kinh tế , xã hội của một quốc gia , conngười là nguồn lực quan trọng nhất, là yếu tố quyết định hàng đầu Nền giáodục ảnh hưởng trực tiếp , quyết định đến chất lượng của nguồn nhân lực ấy Thế kỉ XXI , thế kỉ của xu thế toàn cầu hóa, Việt nam đang chuyển mình đểhòa nhập với thế giới, việc đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu bứcthiết đối với hệ thống giáo dục quốc dân Đổi mới phương pháp giáo dục là vấn
đề có tính thời đại Song trên thực tế tình hình dạy học ở trường Trung học phổthông nước ta hiện nay vẫn còn nhiều bất cập ở nhiều bộ môn , trong đó có mônlịch sử
Để nâng cao hiệu quả từng bài học lịch sử, người giáo viên phải có nhiềucon đường , biện pháp và kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học Một trong những phương pháp có tác dụng tích cực đối với việc nâng cao hiệuquả của bài học lịch sử là sử dụng các loại tư liệu trong dạy học lịch sử , mànguồn tư liệu thành văn, chính thống , phổ biến đó là sách giáo khoa
Sách giáo khoa là tài liệu chung cho cả thầy và trò Học tập để lĩnh hội kiếnthức là cả quá trình , trong đó học sinh tự khám phá , tự tìm đến với kiến thứcmới nhờ sự hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên Bởi vậy đòi hỏi người giáo viênphải khai thác sách giáo khoa trong dạy học sao cho hợp lí nhất , đem lại hiệuquả cao nhất Nếu trong khi giảng bài , giáo viên nói một cách tóm tắt sách giáokhoa thì không gây hứng thú cho học sinh trong việc tiếp thu, lĩnh hội kiếnthức.Thực tiễn dạy học ở trường phổ thông đã chứng minh rằng: việc lặp lạinguyên văn bài viết trong sách giáo khoa làm giảm uy tín của giáo viên đối vớihọc sinh Mặt khác, thoát li hoàn toàn sách giáo khoa sẽ gây khó khăn cho họcsinh trong việc theo dõi bài giảng và tài liệu sách giáo khoa mà các em có sẵntrong tay.Vấn đề đặt ra là : giáo viên phải sử dụng sách giáo khoa như thế nào
để đảm bảo khai thác triệt để nội dung chính của bài viết trong sách giáo khoa ,giúp học sinh nắm được kiến thức cơ bản nhưng không khô khan mà lại sinhđộng,thu hút hứng thú học tập của các em.Để làm được việc đó , trong quá trình
Trang 3chuẩn bị giáo án cũng như khi tiến hành bài giảng giáo viên phải sử dụng nhiềunguồn tài liệu ngoài sách giáo khoa
Việc sử dụng tài liệu ngoài sách giáo khoa không làm cho bài giảng thêm rườm
rà, mà chính là để làm rõ kiến thức cơ bản, trọng tâm giúp học sinh nắm vững,hiểu sâu, rộng kiến thức
Các nhà nghiên cứu đã tìm nhiều cách để giải quyết mối quan hệ giữa nộidung sách giáo khoa và bài giảng của giáo viên, giữa sách giáo khoa với việc tựhọc của học sinh.Bằng kết quả thực nghiệm sư phạm nhiều năm N.G.Đai-ri,nhà nghiên cứu lí luận học của Liên Xô trước đây, đã đề xuất cách sử dụngsách giáo khoa trong dạy học được minh họa bằng sơ đồ sau :
Theo Đairi : + Con số 1 trong sơ đồ chỉ phần tài liệu không có trong sách giáokhoa, giáo viên đưa phần này vào bài giảng ,nhằm nâng cao tính khoa học , sựtrong sáng, tính vừa sức của sách giáo khoa
+ Con số 2 chỉ phần nội dung vừa có trong bài giảng , vừa có trong sách giáokhoa Đó là những vấn đề cơ bản nhất, khó nhất Nắm vững vấn đề này mộtcách sâu sắc, vững chắc là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu
+ Con số 3 chỉ nội dung sách giáo khoa không giảng trên lớp mà học sinh tựhọc ở nhà Thường đây là phần tài liệu ít có ý nghĩa mặc dù đôi khi cũng quantrọng , nhưng không đủ thời gian để trình bày trên lớp
Xuất phát từ những lí do cơ bản đã nêu trên , tôi quyết định chọn đề tài :
“ Vận dụng sơ đồ N.G.Đairi trong khai thác và sử dụng sách giáo khoa khi dạy
về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ 1919-1925 ” thuộc phần II Mục 3
ở bài 12 : Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt nam từ 1919-1925 sách giáokhoa lịch sử lớp 12 ban cơ bản
1.2 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này tôi hướng tới những mục đích cơ bản sau :
Trang 4Góp phần vào việc cải tiến phương pháp dạy học dể tránh hai khuynhhướng sai lầm thường mắc phải : Thoát ly nội dung sách giáo khoa hoặc lặp lạinguyên văn bài viết sách giáo khoa
Thông qua đề tài này, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử,nâng cao trình độ nhận thức của học sinh Đề xuất các phương pháp sư phạmhữu hiệu, có tính khả thi để vân dụng sơ đồ N.G.Đairi trong việc khai thác và
sử dụng sách giáo khoa trong dạy học lịch sử
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài này tôi sẽ nghiên cứu và tổng kết về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc
từ 1924 thuộc phần II, mục 3 Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ
1919-1925 trong bài 12 : Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt nam từ 1919-1919-1925
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Nghiên cứu lí thuyết
- Các loại tài liệu thành văn của Đảng , nhà nước về giáo dục đào tạo
- Tài liệu giáo dục học, tâm lí học , phương pháp dạy học lịch sử
- Sách giáo khoa,sách giáo viên Lịch sử lớp 12
- Các tài liệu liên quan đến Nguyễn Ái Quốc
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1.1 Tâm lí học sinh
Ở lứa tuổi học sinh THPT là giai đoạn hình thành nhân cách Các em muốnkhám phá bản thân , muốn biết mình là người như thế nào?giá trị của mình là gì, khả năng của mình ra sao? Sự giao lưu,hoạt động của lứa tuổi này vượt rakhỏi phạm vi nhà trường Các mối quan hệ trở nên phong phú và nhiều ý nghĩa
Trang 5đối với lứa tuổi này Các em đang tự xây dựng cho mình những quan điểm vềthế giới, về cuộc đời Nhận thức, bày tỏ quan điểm trước các môn học,địnhhướng phát triển ngành nghề
Không chỉ phát triển về mặt tâm lí, giai đoạn này học sinh trung học còn pháttriển về mặt tư duy, nhận thức mạng tính trí tuệ,chủ động Việc lĩnh hội tri thứccủa các em giai đoạn này không còn mang tính thụ động
Với đặc điểm tâm lí, sự trưởng thành về nhân cách , đặc trưng nhận thức củahọc sinh phổ thông như vậy cho ta thấy : Quá trình nhận thức của các em khôngcòn là quá trình phản ánh đơn giản, lĩnh hội kiến thức thụ động , nghe, viết ,học thuộc lòng những tri thức mà giáo viên truyền tải vì thế đòi hỏi người giáoviên phải tạo hứng thú say mê, tạo động lưc bên trong để các em lĩnh hội trithức chủ động , sáng tạo và bền vững
2.1.2.Đặc trưng bộ môn lịch sử
“ Lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ” như vậy lịch sử là cụ thể , vốn
có thật và tồn tại khách quan, đã từng diễn ra trong quá khứ, không lập lại,không thể tái tạo lại hoàn toàn trọn vẹn một cách khách quan mỗi sự kiện lịch
sử có không gian , thời gian riêng
Lịch sử có nhiều sự kiện phong phú , đa dạng , phức tạp nhưng nó luôn vậnđộng theo quy luật xã hội, đảm bảo tính chính xác , lô gích của sự vật Khi họclịch sử học sinh không thể trực quan, sinh động như một số các môn học khác
mà phải thông qua biểu tượng lịch sử, hình thành khái niệm, nắm được quyluật, bản chất và mối quan hệ giữa các sự kiện lịch sử
Tri thức lịch sử mà học sinh được tiếp nhận không phải là những tri thứcđang bàn cãi , tranh luận, mà là những đơn vị tri thức được thừa nhận
Chương trình lịch sử được cấu tạo từ quá khứ đến hiện tại mà nhận thức phùhợp với học sinh lại từ xa đến gần Nên học sinh dễ rơi vào hiện đại hóa lịch sử do đó quá trình nhận thức lịch sử của học sinh phải xuất phát từ “ sự kiện cốtlõi” trong dạy học lịch sử Quá trình đó không qua giai đoạn cảm giác mà bắtđầu từ việc tri giác tài liệu, mà trước hết đó là sách giáo khoa , đồ dùng trựcquan của môn học.Quá khứ phải đươc khôi phục trước mắt học sinh dướinhững hoạt động sinh động , rõ ràng , những sự kiện không còn khô khan, trống
Trang 6rỗng, mà giáo viên, học sinh phải thổi linh hồn vào nó để các sự kiện “ tĩnh” trởnên “ động”.
2.1.3.Phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
Đây là phương pháp dạy học và phổ biến hiện nay và trở thành một trongnhững nội dung đổi mới việc dạy học ở trường phổ thông Mục tiêu, quan điểmdạy học này hướng vào học sinh, nhằm làm thay đổi mối tương tác giữa thầy vàtrò, tạo ra sự hứng thú, năng lực tự hình thành kiến thức cho học sinh
So với các phương pháp dạy học truyền thống thì phương pháp này làm thayđổi mối quan hệ thầy – trò trong quá trình dạy học Học sinh là chủ thể của hoạtđộng dạy học , các em không chỉ tiếp nhận tri thức ở trường học mà còn tự tiếpthu ở nhiều nguồn tài liệu khác nhau, tự học hỏi, tự trang bị kiến thức, kỹ năngcho bản thân
Để vận dụng quan điểm dạy học này có hiệu quả và triệt để , yêu cầu đặt ralà: Thay đổi các yếu tố có liên quan đến quá trình dạy học như: cấu tạo chươngtrình, thay đổi sách giáo khoa , phương tiện dạy học, phương pháp dạy học nềngiáo dục nước ta đang trên lộ trình của sự thay đổi này
Đối với giáo viên, để phát huy tính tích cực của quan điểm này, đòi hỏi phảidày công trong soạn bài, chủ động kết hợp nhiều phương pháp linh hoạt Giáoviên hướng dẫn học sinh kết hợp việc tự học, sử dụng bài giảng của giáo viên,
sử dụng sách giáo khoa, chọn lọc kiến thức qua các tài liệu tham khảo
2.2.Thực trạng vấn đề trước khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1 Vị trí , ý nghĩa của sách giáo khoa
Sách giáo khoa là sự cụ thể hóa chương trình môn học do nhà nước quy địnhđược biên soạn theo chương trình và quán triệt mục tiêu đào tạo đã được xâydựng, trong đó phải thể hiện mục đích, yêu cầu và nộidung bài học
Sách giáo khoa là tài liệu cơ bản, bắt buộc đối với học sinh, nó cung cấp chohọc sinh những kiến thức cơ bản, hiện đại, có hệ thống của môn học học sinh
có thể tìm hiểu, khai thác kiến thức qua nhiều nguồn thông tin khác nhau nhưngsách giáo khoa là chuẩn mực nhất
Sách giáo khoa tạo nên bức tranh quá khứ với đầy đủ diện mạo của nó, giúpnhận thức của học sinh được đầy đủ Sách giáo khoa lịch sử góp phần quan
Trang 7trọng trong giáo dục tư tưởng, tình cảm cách mạng cho học sinh, giúp học sinhphân tích, năng lực làm việc độc lập, sáng tạo, phát triển khả năng quan sát, trítưởng tượng, tư duy ngôn ngữ , khả năng đọc bản đồ …
Đối với giáo viên : sách giáo khoa là chỗ dựa trong khâu chuẩn bị bài học lịch
sử sau khi nghiên cứu chương trình, nghiên cứu đối tượng học sinh thì phảidựa vào sách giáo khoa để thể hiện đầy đủ, có hệ thống nội dung kiến thức ,nâng tầm cao tư duy của học sinh khi tiếp nhận sự kiện, chứ không phải họcsinh chỉ học thuộc lòng những sự kiện có trong sách giáo khoa
Dù sách giáo khoa có ý nghĩa quan trọng như vậy, nhưng sách giáo khoakhông thể nào thay thế được bài giảng trên lớp của giáo viên, thay cho các tàiliệu tham khảo, do đó việc vận dụng sơ đồ N.G.Đairi trong việc sử dụng sáchgiáo khoa trong dạy học nói chung và bộ môn lịch sử nói riêng là vô cùng quantrọng và cần thiết
2.2.2 Cấu tạo sách giáo khoa
Sách giáo khoa có 2 phần nội dung chủ yếu: kênh chữ và kênh hình kênhchữ là những thông tin thành văn chủ yếu dùng để trình bày những kiến thức cơbản cần cung cấp cho Học sinh, gồm bài viết chính cho 1 tiết học và các phầnkhác như câu hỏi, tài liệu tham khảo, chú thích Kênh hình gồm những tranhảnh, hình vẽ , sơ đồ… cụ thể hóa kiến thức trình bày ở kênh chữ
Tuy cấu tạo gồm hai phần nhưng không tách rời nhau mà giữa kênh hình vàkênh chữ có mối quan hệ chặt chẽ
2.2.3 Đặc điểm của sách giáo khoa.
Sách giáo khoa là sự thể hiện nội dung cơ bản của chương trình do nhànước ban hành nên có tính pháp lí, là tài liệu bắt buộc đối với học sinh, là tàiliệu giáo viên phải tuân thủ khi chuẩn bị bài lên lớp và khi tiến hành bài giảng Sách giáo khoa không viết riêng cho bất cứ đối tượng nào, nhà trường nào ,vùng miền nào, dân tộc nào? trong khi đó giáo viên phải dạy cho từng đốitượng học sinh cụ thể Vì vậy giáo viên phải biết gia công tài liệu ấy cho phùhợp với từng loại đối tượng học sinh, truyền thêm sức sống cho những kiếnthức còn ẩn trong trang sách
Trang 82.2.4 Thực tế của việc khai thác và sử dụng sách giáo khoa trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay
Trên thực tế dạy học nói chung và dạy học bộ môn lịch sử nói riêng , giáoviên còn mắc phải hai khuynh hướng sai lầm, đó là: thoát li nội dung của sáchgiáo khoa hoặc lập lại nghuyên văn bài viết sách giáo khoa
Trường hợp thoát li hoàn toàn nội dung sách giáo khoa thường mắc phải lànhững giáo viên trẻ, mới ra trường Họ tiếp cận với những phương pháp dạyhọc hiện đại, tiếp cận với nhiều tài liệu tham khảo, nhưng do chưa có kinhngiệm trong việc giảng dạy nên khi vậ dụng còn mắc phải sai lầm
Trường hợp lặp lại nguên văn bài viết sách giáo khoa , phần lớn là nhữnggiáo viên không có điều kiện cập nhật những thông tin về phương pháp dạy họcmới, hoặc những giáo viên có rư tưởng ngại tìm tòi, sáng tạo, họ phụ thuộcnhiều vào sách giáo khoa Vì thế hiện nay kết quả học tập ở trường phổ thông
có thay đổi nhưng mục tiêu chưa cao Thực tế đó đòi hỏi việc dạy học phải tiếptục đổi mới hơn nũa về phương pháp và nội dung bài học Đặc biệt giáo viênkhi soạn giảng phải đầu tư tâm huyết để tránh mắc phải hai khuynh hướng sailầm trên
Giáo viên với vấn đề khai thác và sử dụng sách giáo khoa cần phải có quanniệm đúng , phải nổ lực công tâm để bổ sung bài giảng của mình, đó thực sự làmột lần sáng tạo Do đó vận dụng và sử dụng sách giáo khoa theo sơ đồ Đai ri
về mối quan hệ giữa bài giảng của giáo viên và bài viết trong sách giáo khoa có
ý ngĩa đặc biệt quan trọng và cần phải phát huy tối đa hiệu quả của việc ứngdụng sơ đồ trong dạy học
2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Vận dụng sơ đồ N.G Đai ri sẽ phát huy được vai trò của sách giáo khoa, đó
là một trong những con đường để nâng cao hiệu quả dạy học.Đây cũng làphương pháp dạy học phổ biến nhất cho tất cả các môn học hiện nay
Vân dụng ô số 1 để giáo viên tìm đọc, tra cứu tài liệu tham khảo, để đưathêm vào bài giảng, nhằm cụ thể hóa minh họa cho kiến thức có trong sách giáokhoa Kiến thức đưa thêm vào bài giảng là tài liệu lịch sử, tài liệu văn học ,
Trang 9tranh ảnh, bản đồ lịch sử… việc này tránh cho giáo viên không mắc phảikhuynh hướng sai lầm là bê y nguyên kiến thức có trong sách giáo khoa Việcđưa thêm kiến thức vào bài giảng phải có sự chọn lọc, không lan man, ôm đồm,phải phù hợp với thời gian cho phép trong tiết dạy
Trong khuôn khổ đối tượng nghiên cứu của đề tài : mục 3 của phần II Bài 12 : Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt nam từ 1919-1925 ( thuộc chươngtrình lịch sử lớp 12,Chương trình chuẩn.) tôi đưa ra giải pháp cụ thể để giảiquyết vấn đề thông qua việc xác định kiến thức của từng ô theo sơ đồ N.GĐai ri
Bài 12 : Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt nam
từ năm 1919 đến năm1925 I.Những chuyển biến về vấn đề kinh tế ,xã hội.
Tiết 17 : II.Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt nam từ 1919-1925.
1 Hoạt động của Phan Bội Châu , Phan Châu Trinh và một số người Việt Nam sống ở nước ngoài
2.Hoạt động của tư sản , tiểu tư sản và công nhân Việt nam
3.Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc
Vận đụng sơ đồ Đai ri khi dạy mục này, ta sẽ xác định kiến thức của từng con
số trong sơ đồ
Kiến thức ở ô số 1 : Nếu giáo viên chỉ sử dụng lời nói để truyền tái nội dungcác sự kiên đã có trong sách giáo khoa thì không thể gây hứng thú học tập chohọc sinh, Học sinh không thể hình dung được quãng đường , thời gian , khônggian cụ thể mà Nguyễn Ái Quốc đã qua trên bước đường hoạt động của người không thấy hết được ý nghĩa của từng sự kiện, những sự kiện đó đã tác độngnhư thế nào đến thái độ tình cảm của Nguyễn Ái Quốc và tác động tới cáchmạng Việt nam.Vì thế khi dạy phần này giáo viên phải sử dụng lược đồ : Hànhtrình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc từ 1911-1945 Lược đồ nàyđược thiết kế trên phần mềm powerpoint để tạo nên tính sinh động của sựkiện Đồng thời lồng ghép tranh sảnh theo từng sự kiện lịch sử như : cho họcsinh xem bản yêu sách của Quyễn Ái Quốc gửi tới hội nghị véc sai bằng tiếngpháp và giáo viên khái quát nội dung bản yêu sách này Đối với sự kiện Ngườiđọc bản luận cương của Lê nin giáo viên thêm những kiến thức văn học, bằng
Trang 10việc trích dẫn các câu thơ trong bài thơ: Người đi tìm hình của nước,của nhàthơ Chế Lan Viên, khai thác bức ảnh bác hồ ở đại hội Tua (1920), Cho học sinhxem một số trang báo người cùng khổ khi Bác ở Liên Xô giáo viên giới thiệucho học sinh về viện văn học nơi bác đọc sách trong thời gian ở đây…Nhữngtranh ảnh về Nguyễn Ái Quốc trong từng sự kiện cụ thể đã khắc họa rõ vị trícủa sự kiện quan trọng nhất trong hành trình tìm đường cứu nước của Ngườicũng như đối với cách mạng Việt nam Đồng thời học sinh trực tiếp tri giácđược các sự kiện đó một cách cụ thể, sống động hơn Thấy được những đứctính cao cả trong từng hành động Từ đó bồi dưỡng sự kính yêu của các emđối với Nguyễn Ái Quốc
Kiến thức ô số 2 là kiến thức cơ bản vừa có trong nội dung bài giảng, vừa
có trong sách giáo khoa Đây là các sự kiện , biểu tượng khái niệm quy luật vàbài học lịch sử
Đối với pham vi nghiên cứu của đề tài này thì đó là các đơn vị kiến thức sau :
- Cuối năm 1917 Nguyễn Tất thành trở lại pháp
+ 1919 Người gia nhập Đảng xã hội pháp
+ 18-6-1919 thay mặt những người Việt nam yêu nước tại Pháp , với tên gọimới là Nguyễn Ái Quốc gửi đến hội nghị véc sai Bản yêu sách của nhân dân
An nam đòi chính phủ pháp và các nước đồng minh thừa nhận các quyền tự
do , bình đẳng, quyền tự quyết của các dân tộc Việt nam Bản yêu sách khôngđược chấp nhận Ở sự kiện này giáo viên cho học sinh xem bức ảnh bản yêusách , qua đó giáo viên có thể khái quát nội dung và trích dẫn theo sách giáokhoa trong : Những mẫu chuyện hoạt động của Hồ Chủ Tịch của Trần DânTiên , để thấy ró bài học lịch sử rút ra tù sự kiện này “ Muốn giải phóng cácdân tộc chỉ có thể trông cậy vào chính mình.”
+ Giữa năm 1920 Nguyễn Ái Quốc đọc Bản sơ thảo lần thứ nhất những luậncươngvề vấn đề dân tộc thuộc địa của Lê nin đăng trên báo nhân đạo của Đảng
xã hội Pháp Luận cương này giúp người khẳng định con đường giành độc lập
tự do cho dân tộc Việt nam Sự kiên này đòi hỏi giáo viên phải phân tích để họcsinh hiểu về cách mạng Tháng mười đã thành lập chính quyền của giai cấpcông nhân , nhân dân lao động , chỉ đi theo con đường cách mạng tháng Mười ,