Tôi nghĩ rằng phươngpháp sử dụng sơ đồ để dạy học không còn là mới và đã có nhiều giáo viên áp dụngnhưng đối với một trường đóng trên địa bàn vùng đặc biệt khó khăn như trường tôithì phư
Trang 1A MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
Trong những năm vừa qua, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nói chung
và đổi mới phương pháp dạy học trong bộ môn Lịch sử nói riêng được đông đảomọi người quan tâm Trong các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước ta cũng đã quantâm đầu tư cho giáo dục, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Đồng thời Bộ giáodục và Đào tạo đã chủ trương đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện quá trìnhdạy học tích cực, lấy học sinh làm trung tâm Đưa phương pháp dạy học lấy họcsinh làm trung tâm trong các cấp học, các môn học, thay sách giáo khoa cho phùhợp và đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội cũng như việc thực hiện đổi mớiphương pháp dạy học
Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông theophương pháp mới còn gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi sự cố gắng, nỗ lực lớn của thầy
và trò Nhằm thực hiện mục tiêu dạy học theo quan điểm đổi mới, phương phápdạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động cho học sinh (HS) cần đạt các kĩ năngcần thiết, đặc biệt là định hướng cho HS tự khai thác, nghiên cứu tư liệu Thực hiệnphương châm đổi mới thay sách: "nghe là quên, nhìn là nhớ, thực hành là hiểu”
Để đạt được kết quả tốt trong dạy và học trong trường phổ thông nói chung,môn Lịch sử nói riêng ta phải đổi mới phương pháp, biện pháp dạy và học Ngườigiáo viên phải tổ chức một cách linh hoạt các hoạt động của học sinh từ khâu đầutiên đến khâu kết thúc giờ học Từ cách ổn định lớp kiểm tra bài cũ đến học bàimới, củng cố dặn dò Những hoạt động đó giúp học sinh lĩnh hội kiến thức mộtcách tự giác chủ động, tích cực sáng tạo và ngày càng yêu thích say mê môn học Vậy làm thế nào để học sinh hứng thú say mê trong giờ học Lịch sử? Điềunày đã khiến tôi trăn trở rất nhiều Từ việc dạy học có ứng dụng công nghệ thôngtin, tổ chức thảo luận nhóm đến dạy học liên môn… cũng đã giúp tôi cải thiện tíchcực trong quá trình dạy học Trong năm học vừa qua tôi áp dụng nhiều phươngpháp sử dụng sơ đồ để dạy học ở các lớp tôi được chuyên môn phân công Kết quả
là đa số HS rất tích cực hoạt động trong giờ học, HS thích được tự làm sơ đồ đểhọc và các em không còn sợ đến giờ cô kiểm tra bài cũ nữa Tôi nghĩ rằng phươngpháp sử dụng sơ đồ để dạy học không còn là mới và đã có nhiều giáo viên áp dụngnhưng đối với một trường đóng trên địa bàn vùng đặc biệt khó khăn như trường tôithì phương pháp này có thể gọi là mới và có tác dụng tích cực đối với việc dạy bộmôn Lịch sử ở đây
Sử dụng sơ đồ trong dạy học Lịch sử là một trong những biện pháp dạy học
có vai trò quan trọng góp phần vào việc hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ của BộGiáo dục và Đào tạo Do đó cải tiến phương pháp dạy học Lịch sử theo hướng sử
Trang 2dụng sơ đồ để dạy học nhằm để nâng cao hiệu quả dạy học ở trường phổ thông làphương pháp cần thiết trong quá trình dạy học bộ môn Lịch sử.
Có nhiều dạng sơ đồ kiến thức giáo viên có thể sử dụng một cách linh hoạtphù hợp với nội dung, thời lượng của tiết học, giáo viên có thể đưa vào cuối mỗimục hay cuối nội dung bài học để học sinh có thể nắm khái quát toàn bộ kiến thức
mà mình đã học
Hiện nay tình trạng học sinh học bài theo kiểu ngồi “đọc vẹt” còn rất nhiều,
vì thế mà sau khi học xong các em không nhớ được hết nội dung, có thể quênngay, hoặc nếu có nhớ thì cũng không nhớ hết, mà nếu có nhớ hết thì các em cũngđọc liền mạch từ đầu đến cuối, giáo viên bảo trình bày một đoạn, hay một mụckiến thức nào đó thì các em trở nên lung túng, trình bày một cách không theo trình
tự Vì thế cần phải tìm ra một phương pháp mới để giúp học sinh có thể nắm đượckiến thức một cách chắc chắn nhất
Qua một thời gian sử dụng phương pháp sử dụng sơ đồ vào dạy học bộ mônLịch sử, tôi thấy rằng các em có sự hứng thú cao trong học tập và chất lượng bộmôn được nâng lên rõ rệt Nhưng về phía bản thân giáo viên cần phải có một số sựchuẩn bị chu đáo về hệ thống sơ đồ kiến thức Trong một tiết giáo án ngoài việcchuẩn bị về nội dung, phương pháp, hình ảnh…thì sơ đồ kiến thức là một khâuquan trọng để kiểm tra kiến thức, khắc sâu kiến thức cơ bản cho học sinh ở mỗimục, hay cuối bài, không những thế còn giúp cho học sinh có thể học bài cũ mộtcách dể nhớ hơn
Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy nhiều giáo viên chỉ chú ý đến nội dung,phương pháp mà không chú ý đến việc học sinh nắm kiến thức như thế nào Bằngcách nào để học sinh nắm được kiến thức, đấy mới là điều quan trọng Từ những
cơ sở lý luận và thực tiễn như vậy qua một thời gian áp dụng hệ thống sơ đồ kiếnthức trong quá trình giảng dạy trên lớp tôi thấy có hiệu quả về nhiều mặt Do đó tôi
quyết định chọn đề tài: “ Hướng dẫn học sinh lớp 12A2 và 12A5 trường THPT
Quan Sơn chủ động trong giờ học Lịch sử bằng việc sử dụng các sơ đồ để dạy học”
II Mục đích nghiên cứu
Nhằm góp một phần giúp các em học sinh có những kiến thức lịch sử nhấtđịnh để trang bị cho những kỳ thi tốt nghiệp, thi học sinh giỏi tỉnh, thi ĐH-CĐ chohọc sinh thi khối C; Khắc phục tình trạng “học vẹt” lịch sử Mục đích chuyển từquan niệm “giáo viên là trung tâm” sang quan niệm “lấy học sinh làm trung tâm” Giúp các em hình thành và phát huy tư duy tự học, tự tìm hiểu và giải quyếtcác vấn đề liên quan đến lịch sử, nhất là những vấn đề mà giáo viên cũng như họcsinh thường sa vào phân tích chính trị, nặng về giáo điều lý luận
Trang 3Đề tài đi sâu nghiên cứu một nội dung mới, người giáo viên chỉ đóng vai tròhướng dẫn và kết luận Sơ đồ để dạy học cũng có thể xem là những phiếu học tập.Khi tiến hành dạy bài mới giáo viên phát cho học sinh những sơ đồ “câm”, giáoviên giảng bài và hướng dẫn học sinh trả lời các thông tin trên sơ đồ Giáo viên cóthể vẽ sơ đồ bài học lên bảng và gọi đại diện các nhóm hoặc các tiểu nhóm lêntrình bày Sau đó giáo viên nhận xét và kết luận.
III Đối tượng nghiên cứu
Đề tài xoay quanh việc nghiên cứu giảng dạy và học tập với phương pháp
“Hướng dẫn học sinh lớp 12A2 và 12A5 chủ động trong giờ học Lịch sử bằng việc sử dụng các sơ đồ để dạy học"
IV Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tốt đề tài này tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu hỗ trợ
- Phương pháp phát vấn, nêu vấn đề
- Thao giảng, dự giờ trao đổi ý kiến với các đồng nghiệp trong quá trình dạy
- Áp dụng kinh nghiệm phương pháp mới trên lớp
- Kiểm tra đánh giá kết quả học sinh và làm bài để từ đó có điều chỉnh và bổ sung
- Ngoài việc soạn giáo án, giáo viên phải thiết kế sơ đồ để vận dụng Vì vậy đòi hỏigiáo viên phải đầu tư một khối lượng thời gian tương đối lớn
- Muốn thiết kế sơ đồ yêu cầu người giáo viên phải cơ bản biết sử dụng máy vitính, phải có sự kiên trì, phải bỏ ra một số kinh phí nhất định để in và photo sơ đồcho các nhóm học sinh, cho các lớp mình dạy học
Trang 4B NỘI DUNG
I Cơ sở lí luận
Việc học tập Lịch sử, cũng như học tập bất cứ bộ môn nào ở nhà trường đềunhằm cung cấp kiến thức khoa học, hình thành thế giới quan khoa học, phẩm chấtđạo đức chính trị cho học sinh
Lịch sử là một dòng chảy không bao giờ ngưng nghỉ Học quá khứ để nhậnthức hiện tại và phán đoán tương lai, đó là đặc thù của môn Lịch sử Muốn học tốtlịch sử phải tường minh ba vấn đề: Thời gian, không gian và con người Đặc trưngnổi bật của nhận thức lịch sử là con người không thể tri giác trực tiếp những gìthuộc về quá khứ Lịch sử không phải là một bộ môn chính trị, nhưng lịch sử gầnvới chính trị
Hướng dẫn học sinh tự học, tự tiếp cận vấn đề là một trong những đặc trưngcủa phương pháp dạy học tích cực Mỗi một tiết dạy, giáo viên có một phươngpháp riêng, tìm ra những con đường để học sinh tiếp nhận nội dung bài học mộtcách thoải mái, tự giác, tích cực Trong chương trình lịch sử lớp 12 rất nhiều bàihọc giáo viên có thể vận dụng sơ đồ để dạy học theo phương pháp nhóm
Trong những năm qua khi thực hiện chương trình dạy học tích cực lấy họcsinh làm trung tâm, việc đổi mới phương pháp dạy học đã được nhiều người quantâm và khẳng định vai trò quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học trongviệc nâng cao chất lượng dạy học… Bộ môn Lịch sử cung cấp cho học sinh nhữngkiến thức cơ sở của khoa học lịch sử, nên đòi hỏi học sinh không chỉ nhớ mà cònphải hiểu và vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống Cho nên, cùng với các mônhọc khác, việc học tập Lịch sử đòi hỏi phát triển tư duy, thông minh, sáng tạo Đã
có quan niệm sai lầm cho rằng học Lịch sử chỉ cần học thuộc lòng sách giáo khoa,ghi nhớ các sự kiện - hiện tượng lịch sử là đạt, không cần phải tư duy - động não,không có bài tập thực hành,… Đây là một trong những nguyên nhân làm suy giảmchất lượng môn học
Điều quan trọng nhất trong trong việc đổi mới phương pháp dạy học là thầydạy thế nào để học sinh động não, làm thay đổi chất lượng hoạt động trí tuệ củahọc sinh, làm phát triển trí thông minh, trí sáng tạo của các em Hiện nay, trongquá trình dạy học trên lớp, hoạt động trí tuệ chủ yếu của học sinh là ghi nhớ và táihiện Ở nhà, học sinh tự học dưới dạng học bài và làm bài… nhưng về căn bản đãđược hướng dẫn ở lớp, nên hoạt động trí tuệ của học sinh vẫn nặng về rèn luyện trínhớ và khả năng tái hiện Như vậy, rèn luyện năng lực tư duy, khả năng tưởngtượng, sáng tạo phát triển trí tuệ, trí thông minh của học sinh nói chung, được xem
là nhiệm vụ chủ yếu, nhiệm vụ quan trọng nhất của quá trình dạy học hiện đại Vìvậy, then chốt của việc đổi mới phương pháp dạy học là điều chỉnh mối quan hệ
Trang 5giữa tái hiện và sáng tạo, đến việc tăng cường các phương pháp sáng tạo nhằm đổimới tính chất hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học.
II Thực trạng của vấn đề
Năm học vừa qua Bộ GD và ĐT chủ trương đổi mới trong thi cử, học sinhđược chọn môn thi tốt nghiệp và kết quả là có rất nhiều trường không có học sinhnào đăng ký thi tốt nghiệp môn Lịch sử Có những hội đồng thi chỉ có duy nhấtmột thí sinh thi môn Lịch sử Điều này nói lên thực trạng rất báo động của bộ mônLịch sử trong hệ thống giáo dục của nước ta hiện nay
Mặc dù đội ngũ giáo viên dạy sử ở các trường phổ thông đang rất cố gắng đổimới phương pháp để nâng cao hiệu quả của bài học nhưng kết quả không có mấychuyển biến Khi hỏi về một nhân vật lịch sử Việt Nam, một bộ phim lịch sử ViệtNam học sinh trở nên “mù tịt”, nhưng khi nói về một bộ phim lịch sử Trung Quốcthì có nhiều học sinh kể vanh vách Học xong bài học là trả lại cho thầy cô Thật làmột thực trạng đáng báo động
Một hiện tượng phổ biến bây giờ của học lịch sử là chủ yếu học thuộc lòng,ghi nhớ một cách máy móc, đối phó với thi cử, thiếu kỹ năng miêu tả, phân tích,tổng hợp, đánh giá về một sự kiện lịch sử Trong các cuộc thi như “Đường lên đỉnhOlympia”, các chương trình vui chơi giải trí trên truyền hình như: “Đấu trường100”, “Ai là triệu phú” và kể cả sân chơi ở trường tổ chức như “Rung chuôngvàng”… các thí sinh và những người chơi đa số mất điểm hoặc bị loại ở câu hỏiliên quan đến lịch sử
Có rất nhiều cuộc họp, rất nhiều Hội thảo bàn về cách dạy và học Lịch sử đãdiễn ra trong mấy năm lại đây để tìm ra nguyên nhân, tìm biện pháp khắc phục Vàrất nhiều nguyên nhân được đề cập Theo tôi thì do những nguyên nhân sau đây:Một là, hiện nay nhu cầu xã hội giành cho học sinh theo học các môn khoahọc xã hội rất ít Các trường đại học, cao đẳng mọc lên ngày càng nhiều nhưng chủyếu là giành cho các học sinh theo học các môn khoa học tự nhiên Vì vậy, số họcsinh có nhu cầu theo học các môn khoa học xã hội tại các trường THPT là rất ít Đểchọn được hai, ba em bồi dưỡng vào đội tuyển là rất khó khăn, thậm chí có nhiềutrường không duy trì được lớp khối C
Hai là, học sinh theo học các ngành xã hội tại các trường Đại học, Cao đẳngsau khi ra trường mặc dù có bằng tốt nghiệp khá và giỏi nhưng vẫn không xin đượcviệc làm, nhất là ngành lịch sử Thực tế là những ngành khoa học xã hội đa sốthuộc biên chế của nhà nước, cho nên nhu cầu sử dụng lao động rất ít Nếu có việclàm thì lương cũng rất thấp Đúng là “cơm áo gạo tiền ghì sát đất” Vì vậy, đa sốphụ huynh và học sinh quay lưng với môn học này
Trang 6Ba là, môn Lịch sử trong các trường THPT, THCS vẫn được xem là môn phụ,thường bị coi nhẹ, xã hội nhìn nhận bằng ánh mắt thiếu thiện cảm (vì những giáoviên dạy Toán, Lí có giá hơn!) Còn học sinh và phụ huynh thì có suy nghĩ đơngiản rằng học Lịch sử chẳng có ích gì, vì nó không phục vụ cho việc thi cử và kiếmtiền sau này Chỉ khi nào Bộ GD và ĐT công bố các môn thi tốt nghiệp trong đó cómôn Lịch sử thì học sinh mới có ý thức học tập, nhưng cũng chỉ là đối phó Trong
kỳ thi tốt nghiệp THPTQG vừa qua, môn Lịch sử ít được học sinh lựa chọn vậy màđến khoảng tháng 10, 11 năm 2015 vừa qua Bộ GD và ĐT còn có chủ trương tíchhợp môn Lịch sử với môn Giáo dục công dân và môn Giáo dục quốc phòng Làmnhư vậy chẳng khác nào “khai tử” cho môn Lịch sử một lần nữa
Bốn là, còn nhiều vấn đề về chương trình, sách giáo khoa, đội ngũ giáo viên
và phương pháp giảng dạy Nội dung sống động nhất của lịch sử là phải gắn vớicuộc sống, cuộc sống qua các thời kỳ lịch sử và cuộc sống hôm nay, lại chưa đượcquan tâm và phát huy Tóm lại là cách trình bày lịch sử khô khan, đánh giá lịch sửcòn áp đặt chủ quan, nặng về lý luận, ít có các câu chuyện sinh động về một sựkiện lịch sử, về một nhân vật lịch sử và như vậy, học sinh không thích học là hệquả tất yếu
Và cuối cùng, phương pháp dạy học còn nhiều vấn đề Đây là nguyên nhân dễnhận thấy nhất và cũng được nói đến nhiều nhất nhưng mặt khác đó cũng lại lànguyên nhân khó khắc phục nhất Khi nhắc đến nguyên nhân này, người ta chỉ làmmột việc đơn giản duy nhất là đổ lỗi cho giáo viên Nhưng suy cho cùng thì giáoviên cũng chỉ là người chịu hậu quả của một nền giáo dục lạc hậu đã kéo dài màthôi “Thay đổi một quan niệm khó hơn phá vỡ một quả bom nguyên tử” Tất cảgiáo viên đều biết rất rõ về điều này nhưng với hoàn cảnh hiện nay họ gần nhưkhông có lựa chọn khác
Trước nhiều nguyên nhân trên, Nhà nước, Bộ GD và ĐT đang có rất nhiềugiải pháp về cơ chế, chính sách để khắc phục Còn những người trực tiếp dạy lịch
sử như chúng tôi cũng đang cố gắng vượt qua khó khăn để cố gắng tìm ra phươngpháp dạy học đưa lại hiệu quả tốt nhất, làm cho học sinh phát huy được tính chủđộng, sự hứng thú, nhất là đối với lịch sử dân tộc ta Cho nên, tôi quyết định chọn
đề tài “Sử dụng sơ đồ trong dạy học Lịch sử ” Có thể phương pháp sử dụng sơ đồtrong dạy học Lịch sử đã có nhiều giáo viên áp dụng trong giảng dạy nhưng trong
đề tài này tôi áp dụng đối với học sinh lớp 12A2 và 12A5 trường THPT Quan Sơn
III Các biện pháp sử dụng sơ đồ để dạy học trong một số bài phần Lịch sử Việt Nam lớp 12
Trong chương trình Lịch sử lớp 12 có hai phần Phần một là Lịch sử thế giớihiện đại từ năm 1945 đến năm 2000 Phần hai là Lịch sử Việt Nam từ năm 1919
Trang 7đến năm 2000 Do chương trình khá dài nên tôi chỉ tập trung vào phần Lịch sử ViệtNam.
Trong dạy học lịch sử, do không trực tiếp quan sát các sự kiện nên phươngpháp trực quan góp phần quan trọng trong việc tạo biểu tượng cho học sinh, cụ thểhóa các sự kiện nhằm nâng cao chất lượng dạy học Đồ dùng trực quan có nhiềuloại trong đó sơ đồ thuộc loại đồ dùng quy ước Nhiều bài dạy lịch sử có rất nhiềuthông tin và sự kiện học sinh không thể nhớ hết, nhưng giáo viên hệ thống bằng sơ
đồ thì bài học sẽ trở nên ngắn gọn và dễ hiểu Qua thực tế giảng dạy bản thân xinđưa ra một số kinh nghiệm nhỏ trong việc sử dụng các sơ đồ để dạy học bộ mônLịch sử Trong đề tài này tôi xin chủ yếu đưa ra những sơ đồ không có sẵn trongsách giáo khoa mà giáo viên tự làm để giúp học sinh nhanh chóng cụ thể hóa kiếnthức, củng cố bài học và GV kiểm tra bài cũ của HS Quá trình thực hiện như sau:
1 Sử dụng sơ đồ để cụ thể hóa kiến thức lịch sử cho học sinh trong giờ học
Ví dụ 1: Sử dụng phụ lục 1 để dạy mục 3: Những chuyển biến về kinh tế
và giai cấp xã hội ở Việt Nam (Bài 12, Mục I, trang 77,78)
Bước 1: Trước khi khai thác nội dung của mục này, giáo viên phát cho mỗi
bàn một sơ đồ để trống
Bước 2: GV cho học sinh tìm hiểu các nội dung trong SGK trong khoảng 3
phút
Bước 3: GV hướng dẫn các em điền các thông tin vào sơ đồ: Các ô còn để
trống và được mã hóa bằng số (1), (2) thể hiện thái độ chính trị và khả năng cáchmạng của các giai cấp Ô có đường kẻ đậm là ô có nội dung quan trọng nhất
Bước 4: Cuối cùng, giáo viên gọi đại diện các nhóm trả lời và nhận xét
Có thể, giáo viên vẽ sơ đồ lên bảng, rồi gọi hai hoặc ba học sinh lên điền cácthông tin Giáo viên bổ sung và nhận xét
Sau khi HS đã điền được hết thông tin vào sơ đồ, GV hướng dẫn, gợi mở để
HS rút ra được mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ: Sau Chiếntranh thế giới thứ nhất, trong xã hội Việt Nam tồn tại hai mâu thuẫn chủ yếu là mâuthuẫn dân tộc (toàn thể nhân dân ta với thực dân Pháp) và mâu thuẫn giai cấp (giaicấp địa chủ phong kiến với nông dân) Trong đó mâu thuẫn dân tộc là cơ bản nhất
Ví dụ 2: GV sử dụng phụ lục 2 để dạy Mục II: Đảng Cộng sản Việt Nam
ra đời, (Bài 13, trang 86, 87,88)
Bước 1: GV cũng thực hiện theo tuần tự như ở ví dụ 1, GV nhấn mạnh: Dưới
tác động của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, phong trào dân tộc dân chủngày càng phát triển mạnh mẽ Thực tế này đòi hỏi, Hội VNCMTN phải “lột xác”,tức là phải thành lập một đảng vô sản để lãnh đạo quần chúng Nhưng chỉ có một
Trang 8số hội viên của Hội VNCMTN nhận thức được yêu cầu này Từ đó làm cho HộiVCMTN bị phân hóa thành hai tổ chức cộng sản là Đông Dương Cộng sản đảng và
An Nam Cộng sản đảng Ảnh hưởng ngày càng lớn của Hội VNCMTN cũng làmcho đảng Tân Việt bị phân hóa Một bộ phận đảng viên tiên tiến của đảng Tân Việtcũng đã thành lập ra tổ chức Đông Dương cộng sản liên đoàn
Với sơ đồ này HS sẽ dễ dàng nắm được sự ra đời của ba tổ chức cộng sản nhưthế nào, và HS cũng thấy được việc trong một nước có ba tổ chức cộng sản cùnghoạt động như vậy thì đặt ra yêu cầu gì cho cách mạng Việt Nam
Bước 2: GV hướng dẫn học sinh sử dụng sơ đồ để thể hiện nội dung của
mục 1 và mục 2 Từ đó học sinh sẽ dễ nắm kiến thức về quá trình thành lập ĐảngCộng sản Việt Nam, cũng như nội dung và ý nghĩa của Cương lĩnh Chính trị đầutiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo
Sau khi HS điền được thông tin vào sơ đồ, GV cho HS rút ra nhận xét và ýnghĩa của Cương lĩnh
Ví dụ 3: Sử dụng phụ lục 3 để dạy Mục: Hội nghị BCHTW Đảng CS
Đông Dương tháng 11 năm 1939, ( Bài 16, mục II, trang 104)
Giáo viên hướng dẫn học sinh thể hiện những kiến thức cơ bản trên khung sơ
đồ Giáo viên đặt câu hỏi: Điểm khác cơ bản của Hội nghị này với Hội nghị
BCHTW Đảng tháng 7 năm 1936?.
GV giải thích: Hội nghị tháng 7/1936, đề ra mục tiêu đấu tranh trước mắt làđòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình (tạm gác độc lập dân tộc) Còn đến Hộinghị này, mục tiêu đấu tranh là đòi độc lập dân tộc (tạm gác nhiệm vụ dân chủ)
GV hướng dẫn HS rút ra ý nghĩa của hội nghị
Ví dụ 4: Sử dụng phụ lục 4 để dạy Mục 3: Hội nghị BCHTW Đảng CS
Đông Dương tháng 5 năm 1941, (Bài 16, mục II, trang 108, 109)
GV sử dụng sơ đồ này để cụ thể hóa nội dung của Hội nghị, HS sẽ thấy dễhiểu và nhanh chóng nắm được hoàn cảnh, nội dung và ý nghĩa của Hội nghị Qua hội nghị này, giáo viên giúp học sinh nhận biết được tầm quan trọng củaHội nghị: Đây là hội nghị do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chủ trì, những tư tưởng củaNgười đã bắt đầu được thể hiện Đó là: Nhiệm vụ giải phóng dân tộc và vấn đề dân
tộc Hội nghị khẳng đinh: “Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân
tộc giải phóng, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn phải chịu kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”
Vấn đề dân tộc được thể hiện: Thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập Đồngminh (Việt Minh) thay cho Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương
Trang 9Ví dụ 5: Sử dụng phụ lục 5, 6, 7 để dạy Bài 17: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau ngày 2-9-1945 đến trước ngày 19-12-1946”
Đây là bài có nhiều nội dung, vì vậy việc sử dụng sơ đồ là rất cần thiết Giáoviên hướng dẫn học sinh tập trung vào các phần trọng tâm để phân tích Đây làkhoảng thời gian nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ gặp vô vàn khó khăn
và thử thách Nền độc lập vừa mới giành được đứng trước nguy cơ mất còn Đâycũng là giai đoạn thể hiện bản lĩnh chính trị, tài ngoại giao của Đảng ta đứng đầu làChủ tịch Hồ Chí Minh
Để giúp HS nắm được tình hình nước ta sau Cách mạng tháng Tám vớinhững thuận lợi và khó khăn với rất nhiều kiến thức thì việc sử dụng sơ đồ sẽ giúp
HS hệ thống được một cách nhanh nhất những nội dung cần nắm Trên cơ sởnhững khó khăn của nước ta sau cách mạng, HS sẽ rút ra được nước VNDCCHnon trẻ bị đặt trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”
Trước những khó khăn của nước VNDCCH non trẻ, Đảng và chính phủ đãđưa ra những biện pháp kịp thời, hiệu quả để oối phó với những khó khăn về mặtđối nội, đối ngoại
GV sử dụng phụ lục 7 để giúp HS nắm được hoàn cảnh, nội dung và ý nghĩacủa Hiệp định sơ bộ (6/3/1946) Trong đó phần nội dung được đánh số ô 1, 2, 3 và
ô có đường kẻ đậm (ô số 1) thể hiện nội dung quan trọng nhất: Mặc dù ta khôngyêu cầu được Pháp phải công nhận nền độc lập của Việt Nam, nhưng chúng ta đãbuộc chúng phải công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do
2 Sử dụng sơ đồ để củng cố kiến thức bài học
Sử dụng sơ đồ để củng cố kiến thức bài học là vệc làm rất cần thiết và có hiệuquả đối với mỗi bài học Giáo viên sử dụng sơ để thể hiện lại những nội dung cơbản của bài học, tránh bị bỏ sót ý, khắc sâu những kiến thức trọng tâm Học sinh sửdụng sơ đồ để thể hiện lại sự hiểu biết của mình qua việc tiếp thu nội dung bài học,đồng thời là một kênh thông tin phản hồi mà qua đó giáo viên có thể đánh giá nhậnthức của học sinh, định hướng cho từng học sinh và điều chỉnh cách dạy, cáchtruyền đạt của mình cho phù hợp
Sử dụng sơ đồ để phù hợp với mục đích củng cố kiến thức cho học sinh saumỗi bài học thì dạng bài tập thích hợp là điền thông tin còn thiếu vào sơ đồ Cácthông tin còn thiếu này sẽ bao trùm nội dung toàn bài để một lần nữa nhằm khắcsâu kiến thức và lưu ý đến trọng tâm của bài học
Ví dụ 1: Khi dạy bài 14, Phong trào cách mạng 1930-1935 Bài này theo
phân phối chương trình sẽ học trong hai tiết nên khi học xong tiết hai, GV có thể củng cố bài học bằng một sơ đồ như sau:
Trang 10Với sơ đồ này GV đã nhanh chóng hệ thống lại kiến thức trọng tâm của bàihọc mà HS sẽ rất dễ ghi nhớ Đặc biệt phần “Phong trào cách mạng 1930-1931 vớiđỉnh cao là Xô viết Nghệ tĩnh, GV vẽ đường viền đậm để chú ý với HS đây làtrọng tâm bài học cần nắm vững Vì vậy HS sẽ rất dễ hiểu và có thể nắm được bàihọc ngay trên lớp.
Ví dụ 1: Khi dạy bài 21, Phần IV, Mục 1: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960)
Đây là một bài học khá dài với nhiều nội dung sự kiện khó nhớ, giáo viên cóthể kết thúc bài học bằng cách hệ thống hóa bài học bằng sơ đồ sau :
NHIỆM VỤ CỦA MIỀN BẮC
Tiến hành Cách mạng XHCN NHIỆM VỤ CỦA MIỀN NAM Hoàn thành CMDTDCND
THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 5 NĂM
LẦN THỨ NHẤT
CHỐNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” CỦA ĐẾ QUỐC MĨ
Việt Nam trongnhững
năm 1929-1933 Phong trào cách mạng 1930-1931 với đỉnh cao Xô viết Nghệ Tĩnh
Kinh
tế
Xãhội
Phong tràocách mạng1930-1931
Xô viết NghệTĩnh
Trang 11Khi sử dụng sơ đồ này để củng cố bài học, học sinh sẽ nắm được toàn bộ nộidung bài học dễ dàng Nội dung cơ bản của bài là Miền Bắc và Miền Nam đều thựchiện những nhiệm vụ riêng của mình do Đại hội Đảng toàn quốc đề ra.
Ví dụ 3: Khi dạy bài 23, Phần III, mục 2: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975.
Giáo viên có thể củng cố kết thúc bài học bằng sơ đồ sau :
Khi sử dụng sơ đồ này để kết thúc bài học giáo viên có thể giúp học sinh nhớ
và hiểu toàn bộ kiến thức cơ bản của bài học là Cuộc Tổng tiến công và nổi dậyXuân 1975 gồm có 3 chiến dịch lớn và thời gian diễn ra của mỗi chiến dịch Sơ đồnày là một hình ảnh trực quan giúp học sinh hiểu và nhớ bài lâu hơn
3 Sử dụng sơ đồ để kiểm tra kiến thức cũ
Vì thời gian kiểm tra bài cũ lúc đầu giờ không nhiều chỉ khoảng 5 - 7 phútnên yêu cầu của giáo viên thường không quá khó, không đòi hỏi nhiều sự phântích, so sánh…để trả lời câu hỏi Giáo viên thường yêu cầu học sinh tái hiện lạimột phần nội dung bài học bằng cách gọi học sinh lên bảng trả lời câu hỏi Giáoviên sẽ chấm điểm tuỳ vào mức độ thuộc bài của học sinh Cách làm này vô tình đểnhiều học sinh rơi vào tình trạng học vẹt, đọc thuộc lòng mà không hiểu Do đó,cần phải có sự thay đổi trong việc kiểm tra, đánh giá nhận thức của học sinh, yêucầu đặt ra không chỉ kiểm tra “phần nhớ” mà cần chú trọng đến “phần hiểu” Cáchlàm này vừa tránh được việc học vẹt, vừa đánh giá chính xác học sinh, đồng thờinâng cao chất lượng học tập Sử dụng sơ đồ vừa giúp giáo viên kiểm tra được phầnnhớ lẫn phần hiểu của học sinh đối với bài học cũ Các bản đồ được giáo viên đưa
ra ở dạng thiếu thông tin, yêu cầu học sinh điền các thông tin còn thiếu và rút ranhận xét về mối quan hệ của các nhánh thông tin với từ khoá trung tâm
TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN 1975
CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN
( 10/3->24/3/75)
CHIẾN DỊCH HUẾ-ĐÀ NẴNG (21/3->29/3/75)
CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH
( 26/4->30/4/75)
Trang 12Ví dụ: Trước khi học bài 22 (Nhân đân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế
quốc Mĩ xâm lược ), GV yêu cầu 1 học sinh lên bảng điền các thông tin còn thiếu
để hoàn thiện sơ đồ Những chiến thắng của nhân dân miền Nam trong chiến đấuchống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ
Việc hoàn thiện thông tin ở các nhánh còn thiếu là một yêu cầu đơn giản,không mất thời gian nhưng nếu học sinh không học bài thì sẽ không điền đượcthông tin hoặc điền không chính xác
Sau khi đã hoàn thiện sơ đồ, học sinh cần rút ra nhận xét về những chiếnthắng của nhân dân miền Nam hay nói cách khác là nhận xét về mối quan hệ giữacác nhánh thông tin với từ khoá trung tâm.Đây chính là phần hiểu bài của học sinh
mà giáo viên nên căn cứ vào đó để đánh giá và nhận xét
IV Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm
Mục đích của đề tài là phát huy tinh thần tự chủ động sang tạo của học sinhkhi học lịch sử Đề tài nhằm khắc phục tình trạng “thầy giảng, trò nghe”, “thầyđọc, trò chép” Kiến thức đã có trong sách giáo khoa, điều quan trọng đề tài khaithác một khía cạnh mới, một con đường để đưa các em tiếp cận một cách có hiệuquả, khắc phục tình trạng chán học, ngại học lịch sử như hiện nay
Từ cách làm trên tôi thấy rằng mình đã thành công bước đầu, phần nào đãkhắc phục được sự uể oải, nhàm chán trong giờ học Lịch sử đối với học sinh vàngay cả bản thân giáo viên
Khi vận dụng sơ đồ trong một số giờ dạy, bản thân cảm thấy giờ dạy trôi đi rấtthoải mái, rất nhẹ nhàng và thực hiện giờ dạy bảo đảm sư tương tác giữa cô và trò
Chiến thắng của nhân dân miền Nam trong chiến đấu chống chiến lược
“Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ.
(2)