1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

tiểu luận Khoa học quản lý nâng cao

18 728 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 205,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài: Áp dụng mối quan hệ giữa công nghệ và hoạt động sản xuất để phân tích đánh giá các yếu tố đầu ra và đầu vào trong quá trình sản xuất của công ty TNHH Nhà nước MTV Công nghiệp tàu thủy Bến Kiền

Trang 1

UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

TIỂU LUẬN MÔN: KHOA HỌC QUẢN LÝ NÂNG CAO

ĐỀ TÀI: “ Áp dụng mối quan hệ giữa công nghệ và hoạt động sản xuất để phân tích đánh giá các yếu tố đầu ra và đầu vào trong quá trình sản xuất của công ty TNHH Nhà nước MTV Công nghiệp tàu thủy Bến Kiền”

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS.TS NGUYỄN HOÀNG TIỆM

HỌC VIÊN: HOÀNG VƯƠNG LONG LỚP : CH – QLKT - K3D

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Hải Phòng là thành phố trực thuộc Trung ương lớn thứ 3 của Việt Nam sau Thành phố Hồ Chí Minh và Thủ đô Hà Nội Hải Phòng nằm ở phía Bắc của Việt Nam, trên bờ biển thuộc Vịnh Bắc Bộ, trong tọa độ địa lý 20o01’15’’ vĩ độ Bắc và 106o23’50’’ – 107o45’ kinh độ Đông: Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, Phía Nam giáp Tỉnh Thái Bình, Phía Tây giáp Tỉnh Hải Dương và phía Đông là Vịnh Bắc Bộ

Từ xưa, Hải Phòng được biết đến với tư cách là một thành phố cảng, thành phố nhộn nhịp, tấp nập với những chuyến tàu ra vào Ngày nay, trong quá trình hội nhập kinh tế của đất nước, vai trò của Hải Phòng càng quan trọng trong việc là cầu nối giao lưu giữa các tỉnh miền Bắc với các tỉnh, thành khác của đất nước cũng như các nước trên thế giới thông qua con đường chủ yếu nhất là cảng biển Với lịch sử phát triển lâu đời và có vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế của miền Bắc cũng như của cả nước Từ xưa đến nay việc giao thương bằng đường biển trở thành một phần không thể thiếu Và các quốc gia phát triển nhất trên thế giới thường là các quốc gia có hệ thống cảng biển hiện đại

Chính vì vậy, việc phát triển ngành hàng hải nói chung và các dịch vụ liên quan đến ngành hàng hải cần phải được chú trọng phát triển như: sửa chữa và đóng mới tàu, logistics, hoa tiêu, xây dựng cảng nước sâu…

Nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động sửa chữa và đóng mới tàu là một lĩnh vực hết sức quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành hàng hải cũng như sự phát triển của Hải Phòng và của đất nước, em tiến hành làm tiểu

luận: “ Áp dụng mối quan hệ giữa công nghệ và hoạt động sản xuất để phân tích đánh giá các yếu tố đầu ra và đầu vào trong quá trình sản xuất của công ty TNHH Nhà nước MTV Công nghiệp tàu thủy Bến Kiền”.

Các nội dung chính bao gồm:

- Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ

- Phân tích các yếu tố đầu vào và đầu ra trong quá trình sản xuất của công

ty TNHH Nhà nước MTV Công nghiệp tàu thủy Bến Kiền

- Vai trò của công nghệ trong việc đầu tư phát triển đóng mới tàu biển của công ty TNHH Nhà nước MTV Công nghiệp tàu thủy Bến Kiền giai đoạn 2015-2020

Trang 3

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1.1 Khái niệm về khoa học và công nghệ

1.1.1 Khái nhiệm về khoa học

1.1.1.1 Khái niệm

Khoa học được hiểu là tập hợp những hiểu biết về tự nhiên, xã hội và tư duy được thể hiện bằng những phát minh dưới dạng các lý thuyết, định lý, định luật và nguyên tắc

Như vậy, thực chất cửa khoa học là sự khám phá các hiện tượng các thuộc tính vốn tồn tại một cách khách quan Sự khám phá này đã làm thay đổi nhận thức của con người tạo điều kiện nghiên cứu, ứng dụng hiểu biết này vào thực tế

1.1.1.2 Đặc điểm khoa học

Như ta đã nói khoa học là những phát minh của con người vì những phát minh này không thể trực tiếp áp dụng vào sản xuất nên không có đảm bảo độc quyền không phải là đối tượng để mua và bán Các tri thức khoa học có thể được phổ biến rộng rãi Khoa học thường được phân loại theo khoa học tự nhiên và khoa học xã hội

Khoa học tự nhiên khám phá những quy luật của tự nhiên xung quanh chúng ta Khoa học xã hội nghiên cứu cách sống, cách hành động và ứng xử của con người

Vậy khoa học là kết quả nghiên cứu của quá trình hoạt động thực tiễn, nhưng đến lượt mình thì nó lại có vai trò to lớn tác động mạnh mẽ trở lại hoạt động sản xuất Do đó con người hoàn toàn có khả năng đưa khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp

1.1.2 Lý luận về công nghệ

1.1.2.1 Khái niệm công nghệ

Có nhiều cách hiểu khác nhau về công nghệ tùy theo góc độ và mục đích nghiên cứu Nhưng một cách chung nhất công nghệ được hiểu như sau:

Công nghệ là tập hợp những hiểu biết để tạo ra các giải pháp kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất và đời sống

Ngày nay công nghệ thường được coi là sự kết hợp giữa phần cứng và phần mềm Phần cứng đó là trang thiết bị Phần mềm bao gồm (thành phần con

Trang 4

người thành phần thông tin, thành phần tổ chức) bất kỳ quá trình sản xuất nào đều phải đảm bảo bốn thành phần trên mỗi thành phần đảm nhiệm những chức năng nhất định

1.1.2.1 Đặc điểm công nghệ

Qua khái niệm về công nghệ ở trên ta thấy, trước đây cách hiểu truyền thống về công nghệ đồng nhất kỹ thuật với thiết bị không lưu ý với thực tế vận hành, tay nghề của công nhân, năng lực tổ chức quản lý hoạt động sản xuất, do vậy hiện nay thuật ngữ (công nghệ) thường được dùng thay cho thuật ngữ (kỹ thuật) việc hiểu nội dung công nghệ như vậy đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong giai hiện nay khi công nghệ thực sự trở thành nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước cũng như quốc tế

Khác với khoa học các giải pháp kỹ thuật của công nghệ đóng góp trực tiếp vào sản xuất và đời sống nên nó được sự bảo hộ của Nhà nước dưới hình thực sở hữu công nghiệp và do đó nó là thứ hàng để mua bán Nghị định số 63/CP của Thủ tướng Chính phủ quy định 5 đối tượng được bảo hộ ở Việt Nam

đó là:

Sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghệ, nhãn hiệu hàng hóa và tên gọi, xuất xứ hàng hóa

1.1.3 Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ

Khoa học và công nghệ có nội dung khác nhau nhưng chúng lại có mối quan hệ chạt chẽ với nhau Mối liên hệ chặt chẽ này thể hiện ở chỗ khi còn ở trình độ thấp, khoa học tác động tới kỹ thuật và sản xuất còn rất yếu, nhưng đã phát triển đến trình độ cao như ngày nay thì nó tác động mạnh mẽ và trực tiếp tới sản xuất Khoa học và công nghệ là kết quả sự vận dụng những hiểu biết tri thức khoa học của con người để sáng tạo cải tiến các công cụ, phương tiện phục

vụ cho sản xuất và các hoạt động khác

Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ được phát triển qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử

Vào thế kỉ 17 -18 khoa học công nghệ tiến hóa theo những con đường riêng có những mặt công nghệ đi trước khoa học

Vào thể kỉ 19 khoa học công nghệ bắt đầu có sự tiếp cận, mỗi khó khăn của công nghệ gợi ý cho sự nghiên cứu của khoa học và ngược lại những phát minh khoa học tạo điều kiện cho các nghiên cứu, ứng dụng

Trang 5

Sang thể kỉ 20 khoa học chuyển sang vị trí chủ đạo dẫn dắt sự nhảy vọt về công nghệ Ngược lại sự đổi mới công nghệ tạo điều kiện cho nghiên cứu khoa học tiếp tục phát triển

1.2 Các yếu tố và điều kiện chi phối đến việc đưa công nghệ vào phát triển kinh tế - xã hội

Công nghệ là “công cụ để giải quyết vấn đề” chứ không phải là “lực lượng độc lập và tự trị” cho nên công nghệ còn phụ thuộc vào môi trường xã hội – kinh tế - chính trị của mỗi quốc gia

Một công nghệ có thể phù hợp với điều kiện khác Yêu cầu chất lượng, chủng loại, định hướng thị trường của một sản phẩm… là yếu tố lựa chọn công nghệ

Xét về mặt kinh tế, trong mối quan hệ sản xuất, công nghệ được coi là phương tiện để thực hiện quá trình sản xuất, biến đổi các đầu vào thành đầu ra là các sản phẩm và dịch vụ mong muốn

Hình 1.1: Sơ đồ các yếu tố và điều kiện chi phối đến việc đưa

công nghệ vào phát triển kinh tế - xã hội

1.3 Vai trò của công nghệ (CN) trong phát triển kinh tế - xã hội

Vì kinh tế luôn luôn phát triển, nên vai trò công nghệ thay đổi Ngày nay

Môi trường văn hóa-chính trị - xã hội

Môi trường quốc tế

Đầu vào

Đầu ra

Các hoạt động xã hội

Môi trường quốc tế

Công nghệ

Trang 6

các công nghệ mới và ngành mới có hàm lượng khoa học – kỹ thuật cao phát triển theo hướng sau:

+ Tạo ra các quy trình sản xuất được tự động hóa trên cơ sở kết hợp thành tựu của ngành điện tử vi điện tự cho máy tính điện tử, kỹ thuật Laser, tin học… + Tạo ra vật liệu mới, các vật liệu chuyên dụng, vật liệu Compusit mới, compusit hỗn hợp, vật liệu gốm, siêu sạch, siêu dẫn nhiệt độ cao

+ Mở rộng và hoàn thiện cơ sở năng lượng của nền sản xuất trên cơ sở phát triển năng lượng nguyên tử, nhiệt hạch, năng lượng sinh học, năng lượng địa nhiệt và năng lượng mặt trời

+ Trên cơ sở các thành tựu của kỹ thuật gen, tạo ra các ngành sản xuất, sử dụng

kỹ thuật và công nghệ sinh học

+ Công nghệ mới là kết quả của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và động lực chính của quá trình công nghiệp hóa Việc phát triển công nghiệp mới là yếu

tổ quan trọng làm thay đổi trực tiếp phạm vi sản xuất công nghiệp

+ Các công nghệ mới về bản chất mang tính cải tạo, nghĩa là chúng thay đổi cơ bản điều kiện sản xuất hàng hóa Chúng không chỉ tạo ra nhiều loại sản phẩm mới mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình sản xuất

+ Công nghiệp mới thực hiện những đột phá quan trọng có tác động mạnh mẽ đến quá trình công nghiệp hóa, có thể nói phát triển công nghiệp trong tương lai trên cơ sở của công nghiệp mới

1.4 Mối quan hệ giữa công nghệ và hoạt động sản xuất

Hình 1.2: Sơ đồ mối quan hệ giữa công nghệ và hoạt động sản xuất

1.4.1 Yếu tố đầu vào

- Nguồn lực tự nhiên: đất đai, tài nguyên, vùng nước …

Yếu

tố

đầu

vào

Nguồn lực tự nhiên

Nguồn lực xã hội

Hoạt động sản xuất

Hàng hóa Vật lực Máy móc

Cơ cấu hạ tầng Năng lượng

Công nghệ, công cụ biến đổi

Trang 7

- Nguồn lực sản xuất gồm: nhân lực, vật lực, tài lực …

1.4.2 Hoạt động sản xuất

Hoạt động sản xuất là toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất ra một sản phẩm

1.4.3 Công nghệ, công cụ biến đổi

Là việc áp dụng quy trình công nghệ áp dụng để sản xuất ra một sản phẩm

1.4.4 Đầu ra

Đầu ra gồm hàng hóa, vật lực, máy móc, năng lực, dịch vụ, kết cấu hạ tầng

Trang 8

Chương 2: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO VÀ ĐẦU RA TRONG QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT CỦA CÔNG TY TNHH

NHÀ NƯỚC MTV CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY BẾN KIỀN

2.1 Giới thiệu chung về công ty

Nằm phía Tây Bắc, cách thành phố Hải Phòng 12 km, bên dòng sông Cấm

và cây cầu Kiền hiện đại vừa được xây dựng, Nhà máy đóng tàu Bến Kiền đã có truyền thống xây dựng và phát triển gần 20 năm So với nhiều tên tuổi kỳ cựu trong ngành đóng tàu thì quãng thời gian ấy không phải là dài nhưng những thành tích nhà máy đạt được trong những năm gần đây thật đáng trân trọng

Nhà máy đóng tàu Bến Kiền nay là công ty TNHH Nhà nước một thành viên công nghiệp tàu Bến Kiền là một thành viên của Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam Nhà máy có diện tích mặt bằng chính là 15.9 ha có các ngành nghề kinh doanh:

- Đóng mới và sửa chữa phương tiện nổi,

- Kết cấu thép và gia công cơ khí

- Nhà máy có khả năng đóng mới các loại tàu: tàu kéo, tàu dầu, tàu hàng các loại, tàu container, tàu viễn dương và các xà lan vận tải cỡ lớn

Từ năm 2002 đến nay, nhà máy đã mua sắm mới nhiều máy móc, trang thiết bị hiện đại như: máy cắt tự động, bán tự động, máy hàn bán tự động, máy uốn thủy lực, máy phun sơn, phun cát, cần cẩu tự hành 50 tấn, khẩu trục 80 tấn, máy cắt Plasma, máy uốn ống theo chương trình, các công cụ đặc chủng như máy tiện băng dài 6 -8 m, máy phay lăn răng… Để đáp ứng yêu cầu hội nhập, nhà máy còn đầu tư phần mềm kỹ thuật và quản lý, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO, hoàn chỉnh công nghệ gia công, hàn vỏ hợp kim nhôm trong chế tạo tàu cao tốc và tàu cứu nạn …

Cùng với liên tục đầu tư nâng cấp máy móc, thiết bị, nhà máy đóng tàu Bến Kiền cũng rất chú trọng đào tạo nhân lực với nhiệm vụ trọng tâm là nâng cao trình độ người lao động thông qua việc tổ chức các chuyên đề kỹ thuật, công nghệ, các lớp học nghề hàn, thủy lực, cắt … Nhà máy cũng khuyến khích người lao động học đại học tại chức, gửi đi tham quan, học tập tại các cơ sở đóng tàu trong và ngoài nước và có chế độ khuyến khích công nhân nâng cao tay nghề Đến nay, doanh nghiệp đã xây dựng được một đội ngũ lao động có tay nghề giỏi gồm trên 650 CBCNV, trong đó 95 người có trình độ từ cao đẳng trở lên, 30 người có trình độ trung học chuyên nghiệp, còn lại chủ yếu là công nhân kỹ

Trang 9

thuật từ bậc 3, được đào tạo rèn luyện về nhân cách, trình độ, tính tổ chức và kỷ luật cao Tiếp xúc với công nhân của nhà máy mới thấy hết được ưu đãi ở Bến Kiền, đặc biệt là sự chăm lo chu đáo tới đời sống người lao động Tại nhà máy,

có tới hai thế hệ cùng công tác, con em của người lao động ở đơn vị sau khi ra trường được tiếp nhận vào làm việc nếu có đủ điều kiện Mức thu nhập trung bình của cán bộ công nhân viên Bến Kiền đạt khá trong Tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam, tạo nên tâm lý đoàn kết, tập trung nâng cao tay nghề

và hết mình đóng góp cho sự phát triển của doanh nghiệp

Với điều kiện không được thuận lợi như nhiều doanh nghiệp đóng tàu khác do nằm bên dòng sông nhỏ, hạn chế về luồng lạch không thể đóng được những con tàu trọng tải lớn, nhà máy đã phát huy thế mạnh trong lĩnh vực cơ khí chế tạo để định hướng chọn những sản phẩm đặc trưng phù hợp với năng lực của mình là đóng mới các loại tàu nhỏ chuyên dùng, có giá trị kinh tế cao như: tàu đánh cá, tàu cao tốc vỏ hợp kim nhôm phục vụ tuần tra, cứu nạn và đánh bắt thủy sản, tàu nghiên cứu đại dương, tàu hút bùn, các loại tàu công trình … Nhà máy cũng là đơn vị đầu tiên trong ngành đóng tàu hợp tác với nước ngoài để đóng tàu cá và tàu cuốc xuất khẩu sang Trung Đông Trong những năm qua, Bến Kiền đã hợp tác sản xuất với nhiều công ty của Nhật Bản, Trung Quốc, Đan Mạch, Hà Lan cho ra đời những sản phẩm đạt chất lượng cao, tạo được uy tín lớn với khách hàng Năm 2001, nhà máy đóng thành công tàu hút xén thổi công suất 1.000m3/h xuất khẩu sang I-rắc (trị giá 2,8 triệu USD) Con tàu này đảm bảo những tiêu chuẩn quốc tế theo hợp đồng ký kết nên Tổng công ty Cảng I-rắc quyết định ký tiếp hợp đồng đóng mới tàu hút xén thổi có công suất 1.500m3/h Sau khi xem xét năng lực thiết bị và kinh nghiệm đóng mới tàu công trình của doanh nghiệp, Tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam lại ủy quyền cho nhà máy thực hiện tiếp hợp đồng này Chỉ sau thời gian ngắn, 2 tàu hút xén thổi công suất 1.500m3/h (tổng trị giá 10,8 triệu USD) đã được đóng mới thành công Đặc điểm chung của các tàu công trình nói trên là sử dụng nhiều thiết bị điều khiển bằng thủy lực như nâng hạ dàn phay, quay đầu xén, nâng hạ cọc bước, tời neo, tời cô dây…

2.2 Phân tích các yếu tố đầu vào và đầu ra trong quá trình sản xuất cửa công ty TNHH Nhà nước một thành viên công nghiệp tàu Bến Kiền

2.2.1 Các yếu tố đầu vào

- Nguồn lực tự nhiên bao gồm đất đai, tài nguyên, vùng nước … đối với công ty TNHH Nhà nước một thành viên công nghiệp tàu Bến Kiền gồm:

Trang 10

+ Cơ sở hạ tầng diện tích 15,9 ha

+ Độ sâu luồng 3,5 m

+ Các khu âu tàu, ụ nổi

- Nguồn lực sản xuất bao gồm: nhân lực, vật lực, tài lực đối với công ty TNHH Nhà nước một thành viên công nghiệp tàu Bến Kiền gồm:

+ Nhân lực với hơn 650 CBCNV, trong đó 95 người có trình độ từ cao đẳng trở lên, 30 người có trình độ trung học chuyên nghiệp, còn lại chủ yếu là công nhân kỹ thuật bậc 3,

+ Vật lực bao gồm:

 Mát hàn tự đồng và bán tự động

 Máy lốc tôn

 Máy ép thủy lực CTC-400T

 Các thiết bị nâng hạ

 Máy cắt hơi bằng tay và bán tự động

 Máy cắt CNC

2.2.2 Hoạt động sản xuất của công ty

Quy trình sản xuất của một con tàu mới được theo 19 khu vực sau:

2.2.2.1 Khu I: Đà dọc tàu (kích thước 30mx194m)

- Dùng để hạ thủy các loại tàu lớn và tàu đa chức năng 9200T đang trên đà

- Đà được trang bị cẩu cổng 200T và cẩu trục 80T để phục vụ tổng lắp thân tàu

2.2.2.2 Khu II: Nhà xưởng gia công chi tiết và lắp ráp vỏ tàu cỡ lớn

- Gồm hai nhà có diện tích 5832m

- Dùng để gia công và láp ráp các phân đoạn có trọng lượng tới 40T

- Thiết bị nâng hạ gồm 4 cầu trục 30T

2.2.2.3 Khu III: Phân xưởng vỏ gia công

- Có diện tích 1890m2 và văn phòng phân xưởng (có diện tích 60m2)

- Là phân xưởng hạ liệu, cắt hơi tập trung, gia công các chi tiết kết cấu cửa tàu và các chi tiết của sản phẩm khác, tạo phôi phục vụ cho phân xưởng gia công cơ khí

Ngày đăng: 17/10/2017, 15:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w