Những vấn đề đặt ra ở trên đã khẳng định nhiệm vụ của giáo dục trong thời đạimới: Dạy học không chỉ đơn thuần là cung cấp kiến thức mà phải giúp học sinh nhậnthức con đường chiếm lĩnh tr
Trang 1♦MỤC LỤC
Tiêu đề Trang
I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 2
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
II NỘI DUNG SÁNG KIẾN 1 Cơ sở lí luận 3
2 Thực trạng vấn đề
4 3 Giải pháp thực hiện 5
3.1 Hướng dẫn học sinh thực hiện một sơ đồ tư duy 5
3.2 Hướng dẫn học sinh cách ghi chép trên sơ đồ tư duy 6
3.3 Tiến trình dạy học sử dụng sơ đồ tư duy trong hình thành kiến thức mới 3.3.1 Phân chia học sinh trong lớp thành các nhóm học tập 7
3.3.2 Tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm 7
4 Một số giáo án đã áp dụng trong giảng dạy Tiết 13 - Bài 15: TIÊU HÓA Ở ĐỘNG VẬT 9
Tiết 14 - Bài 16: TIÊU HÓA Ở ĐỘNG VẬT (tiếp) 13
5 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục 5.1 Kết quả thực nghiệm 18
5.2 Tác dụng của sáng kiến kinh nghiệm đến chất lượng giảng dạy .19
III KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 1.Kết luận: 19
2 Kiến nghị: 20
IV TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2I MỞ ĐẦU.
1 Lí do chọn đề tài.
Trong xã hội hiện đại, khoa học phát triển nhanh như vũ bão với sự xuấthiện của nhiều ngành khoa học mới đặc biệt là sự bùng nổ công nghệ thông tinlàm cho khối lượng tri thức tăng lên một cách nhanh chóng điều đó đặt ra chodạy học một yêu cầu mới không chỉ dạy học kiến thức mà quan trọng hơn là dạycho học sinh cách học và tự học
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, Đảng và nhà nước đã và đang tiến hànhđổi mới toàn diện về giáo dục ở các cấp học trong đó có cấp học THPT nhằmnâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo Sự đổi mới này liên quan đếnnhiều lĩnh vực như: đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức
và kiểm tra đánh giá, trong đó đổi mới phương pháp được đặt lên hàng đầu Luậtgiáo dục điều 28.2 đã ghi: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tínhtích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm củatừng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vậndụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thúhọc tập cho học sinh” Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tớihoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động
Tuy nhiên, những đổi mới này có đem lại hiệu quả hay không phụ thuộcrất nhiều vào người giáo viên, những người trực tiếp thể hiện tinh thần đổi mớinói trên trong từng tiết học Để làm được điều đó thì vấn đề đầu tiên của người giáoviên phải nhận thức rõ ràng về qui luật nhận thức của người học Người học là chủ thểhoạt động chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kỹ xảo chứ không phải là “cái bình chứa kiếnthức” một cách thụ động Trong thực tế hiện nay, còn nhiều học sinh học tập mộtcách thụ động, chỉ đơn thuần là nhớ kiến thức một cách máy móc mà chưa rènluyện kĩ năng tư duy Mặt khác Sinh học là môn khoa học tự nhiên nghiên cứu các
sự vật, hiện tượng, có tính ứng dụng thực tế cao Trong quá trình giảng dạy ở trườngTHPT Hà Trung tôi thấy học sinh gặp khó khăn trong việc ghi nhớ khái niệm, địnhluật, … Việc ghi nhớ của các em gần như tái hiện nguyên văn trong sách giáo khoalàm cho việc học trở nên nhàm chán, máy móc, thụ động, không sáng tạo, khả năngphân tích, so sánh, tư duy vận dụng còn hạn chế
Những vấn đề đặt ra ở trên đã khẳng định nhiệm vụ của giáo dục trong thời đạimới: Dạy học không chỉ đơn thuần là cung cấp kiến thức mà phải giúp học sinh nhậnthức con đường chiếm lĩnh tri thức, giúp học sinh biết cách lựa chọn, hệ thống hóa, ghinhớ kiến thức hiệu quả đồng thời biết liên kết nhiều nguồn kiến thức lại với nhau vàvận dụng một cách hiệu quả vào trong học tập cũng như trong thực tiễn Sử dụng sơ
đồ tư duy (SĐTD) giúp các em giải quyết được các vấn đề trên nâng cao hiệu
quả học tập Vì vậy tôi lựa chọn đề tài “sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy, học kiến thức mới” giúp các em hứng thú học tập, phát huy tính tích cực, tự giác của học
sinh trong học tập nâng cao hiệu quả giảng dạy
Trang 32 Mục đích nghiên cứu.
Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy, học kiến thức mới một cách có hiệu quảphát huy tính tích cực, tự giác, hứng thú của học sinh trong học tập góp phầnnâng cao chất lượng dạy và học ở trường Trung học phổ thông
Hướng dẫn học sinh sử dụng quy trình lập sơ đồ tư duy để ghi chép trongquá trình tìm tòi kiến thức mới
Tiến hành thực nghiệm để xác định tính khả thi và tính hiệu quả của đềtài
3 Đối tượng nghiên cứu.
Nội dung bài 15,16 : Tiêu hóa ở động vật – Sinh học 11 cơ bản
4 Phương pháp nghiên cứu.
Nghiên cứu cơ sở lý thuyết hoạt động dạy học, các phương pháp dạy học Sinhhọc THPT
Trực tiếp sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy – học kiến thức mới để rút kinhnghiệm
Sử dụng phương pháp thực nghiệm, thống kê, so sánh
II NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1 Cơ sở lí luận :
Hiện nay, chúng ta ghi chép thông tin bằng các ký tự, đường thẳng, con
số Với cách ghi chép này, chúng ta mới chỉ sử dụng một nửa của bộ não – nãotrái, mà chưa hề sử dụng kỹ năng nào bên não phải, nơi giúp chúng ta xử lý cácthông tin về nhịp điệu, màu sắc, không gian Hay nói cách khác, chúng ta vẫnthường đang chỉ sử dụng 50% khả năng bộ não của chúng ta khi ghi nhận thông
tin Với mục tiêu giúp chúng ta sử dụng tối đa khả năng của bộ não, Tony Buzan
đã đưa ra sơ đồ tư duy để giúp mọi người thực hiện được mục tiêu này
Sơ đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ýtưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức… bằng cách kết hợpviệc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tíchcực Việc xây dựng được một “hình ảnh” thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức
sẽ mang lại những lợi ích đáng quan tâm về các mặt: ghi nhớ, phát triển nhậnthức, tư duy, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo…
Việc sử dụng các từ khóa, chữ số, màu sắc và hình ảnh đã đem lại một
công dụng lớn vì đã huy động cả bán cầu não phải và trái cùng hoạt động Sự kết
hợp này sẽ làm tăng cường các liên kết giữa 2 bán cầu não, và kết quả là tăngcường trí tuệ và tính sáng tạo của chủ nhân bộ não
Sơ đồ tư duy đã thể hiện ra bên ngoài cách thức mà não bộ chúng ta hoạt
động Đó là liên kết, liên kết và liên kết Mọi thông tin tồn tại trong não bộ của
con người đều cần có các mối nối, liên kết để có thể được tìm thấy và sử dụng.Khi có một thông tin mới được đưa vào, để được lưu trữ và tồn tại, chúng cầnkết nối với các thông tin cũ đã tồn tại trước đó Ở vị trí trung tâm sơ đồ là một
Trang 4hình ảnh hay một từ khóa thể hiện một ý tưởng hay khái niệm chủ đạo Ý trung
tâm sẽ được nối với các hình ảnh hay từ khóa cấp 1 bằng các nhánh chính, từcác nhánh chính lại có sự phân nhánh đến các từ khóa cấp 2 để nghiên cứu sâuhơn Cứ thế, sự phân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm hay hình ảnh luôn đượcnối kết với nhau Chính sự liên kết này sẽ tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả
về ý trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng
Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy Đây là phương pháp dễ nhất
để chuyển tải thông tin vào bộ não của học sinh rồi đưa thông tin ra ngoài bộnão Nó là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng
nghĩa của nó là “Sắp xếp” ý nghĩ của học sinh.
Với cách thể hiện gần như cơ chế hoạt động của bộ não, Bản đồ tư duy sẽgiúp học sinh:
• Sáng tạo hơn
• Tiết kiệm thời gian
• Ghi nhớ tốt hơn
• Nhìn thấy bức tranh tổng thể
• Phát triển tư duy logic, khái quát hóa
Do đó có thể khẳng định Sơ đồ tư duy là một công cụ hữu ích trong giảngdạy và học tập ở trường phổ thông cũng như ở các bậc học cao hơn Bằngphương pháp này giáo viên và học sinh có thể trình bày các ý tưởng một cách rõràng, suy nghĩ sáng tạo, học tập thông qua biểu đồ, tóm tắt thông tin của một bàihọc, hệ thống lại kiến thức đã học, tăng cường khả năng ghi nhớ, đưa ra ý tưởngmới, v.v…
2 Thực trạng vấn đề.
Hiện nay trong thực tế, còn nhiều học sinh học tập một cách thụ động, đơnthuần là chỉ nhớ kiến thức một cách máy móc mà không rèn luyện kỹ năng tư duyhay thuyết trình Với cách học truyền thống đã khiến tư duy của nhiều học sinh đivào lối mòn, học sinh chỉ ghi chép thông tin bằng các ký tự, đường thẳng… vớicách ghi chép này chúng ta không kích thích được sự phát triển của trí não, điều
đó làm cho một số học sinh tuy học tập rất chăm chỉ nhưng sự tiếp thu vẫn hạnchế Học sinh học bài nào biết bài đó, cô lập nội dung của các phân môn mà chưanhận thấy sự liên hệ của kiến thức vì thế chưa phát triển được tư duy logic và tưduy hệ thống, việc vận dụng kiến thức vào các bài học tiếp theo và ứng dụngtrong thực tiễn còn rất hạn chế Các em không nắm bắt được kiến thức trọng tâm,mối liên kết của chúng, bài học trở nên đơn điệu, khó nhớ kiến thức, không kíchthích được tính sáng tạo của cá nhân và tập thể Bên cạnh đó học sinh luôn cảmthấy mất tự tin khi đứng trước tập thể, không biết làm thế nào để trình bày mộtvẫn đề cho logic và mang tính thuyết phục Kết quả dẫn đến học sinh không tậptrung trong giờ học, mất tự tin khi đến lớp, buồn chán, thất vọng và đánh mất sựđam mê học hỏi
Vì thế việc giúp các em nâng cao trình độ nhận thức, tiếp thu bài họcnhanh, phát huy tính sáng tạo, khả năng tư duy và tự giác học tập là một vấn đềnan giải đối với đội ngũ giáo viên Cũng chính từ lý do này, tôi đã nghiên cứu,
Trang 5áp dụng và mạnh dạn đưa phương pháp học tập tích cực đó là sử dụng sơ đồ tưduy trong dạy học kiến thức mới.
3 Giải pháp thực hiện
3.1 Hướng dẫn học sinh thực hiện một sơ đồ tư duy
Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm
+ Vẽ chủ đề ở trung tâm từ đó phát triển ra các ý khác
+ Không nên đóng khung hoặc che chắn mất hình vẽ chủ đề vì chủ đềcần được làm nổi bật, dễ nhớ
+ Có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề
Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ ( Nhánh cấp 1)
+ Tiêu đề phụ có thể viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh to để làmnổi bật
+Tiêu đề phụ được gắn với trung tâm
+ Tiêu đề phụ nên được vẽ chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được
vẽ tỏa ra một cách dễ dàng
Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ
+ Khi vẽ các ý chính và các chi tiết hỗ trợ nên tận dụng các từ khóa vàhình ảnh
+ Nên dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian vẽ vàthời gian Mọi người ai cũng có cách viết tắt riêng cho những từ thông dụng.Bạn hãy phát huy và sáng tạo thêm nhiều cách viết tắt riêng
+ Mỗi từ khóa, hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trênnhánh Trên mỗi khúc chỉ nên có tối đa một cụm từ khóa
+ Sau đó nối các nhánh chính cấp 1 đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánhcấp 2 đến các nhánh cấp 1, nối các nhánh cấp 3 đến các nhánh cấp 2… bằngđường kẻ Các đường kẻ càng ở gần trung tâm thì càng được tô đậm hơn
+ Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường kẻ thẳng vì đường kẻcong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt nhiều hơn
+ Tất cả các nhánh tỏa ra cùng một điểm nên có cùng một màu Chúng tathay đổi màu sắc khi đi từ ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn
Bước 4: Người viết có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọngthêm nổi bật cũng như giúp lưu chúng vào trí nhớ tốt hơn
Trang 6Sơ đồ tư duy minh họa
3.2 Hướng dẫn học sinh cách ghi chép trên sơ đồ tư duy:
• Nghĩ trước khi viết
• Viết ngắn gọn
• Viết có tổ chức
• Viết lại theo ý của mình, nên chừa khoảng trống để bổ sung sau này cần
• Điều cần tránh khi ghi chép trên sơ đồ tư duy:
- ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng
- ghi chép quá nhiều ý vụn vặt không cần thiết
- dành quá nhiều thời gian để ghi chép
3.3 Tiến trình dạy học sử dụng sơ đồ tư duy trong hình thành kiến thức mới.
Bản đồ tư duy có thể sử dụng vào nhiều mục đích nhiều dạng bài trongdạy và học như: sử dụng sơ đồ tư duy trong việc kiểm tra kiến thức cũ, hìnhthành một vài đơn vị kiến thức mới hoặc toàn bài học, củng cố kiến thức từngphần hay từng chương, thiết kế đề cương ôn tập, học sinh sử dụng sơ đồ tư duykhi làm bài tập được giao về nhà hoặc chuẩn bị bài mới
Trong đề tài này tôi sử dụng sơ đồ tư duy trong hình thành kiến thức mới
Để có hiệu quả cao trong dạy và học lĩnh hội kiến thức mới, tôi sử dụng sơ đồ tưduy phối hợp với hoạt động nhóm hướng học sinh vào các hoạt động tích cực,giảm việc ghi chép trên lớp Quá trình thực hiện dạy kiến thức mới sử dụng sơ
đồ tư duy, giáo viên sẽ đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, nhận xét, bổsung và đánh giá học sinh, chứ không đơn thuần chỉ là người truyền đạt kiếnthức giáo khoa một cách khô khan
Để giúp học sinh phối hợp tốt hoạt động nhóm, thảo luận, rèn luyện kỹnăng báo cáo, sử dụng SĐTD hiệu quả chúng ta cần tiến hành các giai đoạn cơbản như sau:
3.3.1 Phân chia học sinh trong lớp thành các nhóm học tập.
Trước khi tiến hành hoạt động dạy học giáo viên tiến hành phân nhóm đểcác em hoạt động cố định trong các tiết học Thông thường với sĩ số học sinh
Trang 7trung bình của trường tôi là 40 học sinh/lớp, tôi chia mỗi lớp thành 4 nhóm,trong đó có cả học sinh giỏi, khá, trung bình và yếu xen lẫn nhau Việc phânnhóm và hoạt động cùng nhau một cách cố định trong mỗi tiết học sẽ giúp các
em làm quen với nhau và tinh thần hỗ trợ sẽ được nâng cao bởi vì kết quả hoạtđộng của mỗi nhóm sau mỗi tiết học đều được đánh giá, xếp loại Kết quả hoạtđộng của mỗi thành viên chính là kết quả hoạt động chung của cả nhóm
Việc cá nhân nào sẽ đại diện cho cả nhóm lên báo cáo hay trả lời câu hỏi
sẽ không được biết trước Chính điều này sẽ giúp tất cả các thành viên của nhómđều phải nỗ lực và hoạt động hết sức mình, nếu cá nhân nào không hiểu nộidung kiến thức, các em bắt buộc phải tìm tòi hay hỏi bạn bè để hiểu và trả lờiđược những vấn đề đó, thông quá hoạt động nhóm để hoàn thiện cá nhân
3.3.2 Tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm
* Chuẩn bị tiết học:
Giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị bài trước khi đến lớp bằng cách tìmcác mục chính và nội dung chính của bài học Học sinh trả lời các câu hỏi trongsách giáo khoa và tự mình tìm những kiến thức trọng tâm của của bài học Giáoviên cần kiểm tra việc chuẩn bị bài trước khi tiến hành nội dung bài mới mộtcách kỹ lưỡng để tập cho học sinh thói quen tự học tập nghiên cứu ở nhà Nếu
bỏ qua khâu này, học sinh sẽ không tự giác chuẩn bị SĐTD khi giáo viên đưa rayêu cầu ở các bước sau
* Tiến trình hoạt động nhóm:
Hoạt động 1: Thảo luận - Lập sơ đồ tư duy :
Mở đầu bài học, giáo viên có thể cho học sinh lập sơ đồ tư duy theo cánhân – nhóm bằng cách giải quyết hệ thống câu hỏi cho trước trên bảng (hoặctrong phiếu học tập).Hệ thống câu hỏi này bám sát nội dung bài học Mục đíchcủa bước này nhằm giúp học sinh tìm ra những nội dung cơ bản nhất trong cácmục của bài mới để từ đó biết cách tìm ra từ chìa khóa sau này
Thời gian hoạt động này thông thường sẽ chiếm 1/3 thời lượng tiết học.Trong quá trình học sinh thảo luận theo nhóm, giáo viên sẽ bao quát và hỗ trợcác em, định hướng cho các em có thể tìm ra những câu trả lời hợp lý
Hoạt động 2: Báo cáo, thuyết minh về sơ đồ tư duy :
Sau khi học sinh đã thảo luận hoàn thiện sơ đồ tư duy, giáo viên sẽ chỉ địnhmột vài học sinh của các nhóm học sinh lên báo cáo, thuyết minh về sơ đồ tưduy mà nhóm mình đã thiết lập Qua hoạt động này vừa biết rõ việc hiểu kiếnthức của các em vừa là một cách rèn cho các em khả năng thuyết trình trướcđông người, giúp các em tự tin hơn, mạnh dạn hơn, đây cũng là một trong nhữngđiểm cần rèn luyện của học sinh hiện nay
Hoạt động 3: Thảo luận, chỉnh sửa, hoàn thiện sơ đồ tư duy :
Học sinh cả lớp sẽ đưa ra ý kiến nhận xét về cả hình thức và nội dung kiếnthức, đóng góp cho thành viên vừa báo cáo
Trang 8Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh sơ đồ
tư duy về hình thức, dẫn dắt đến kiến thức trọng tâm của bài học Giáo viên sẽchốt lại những ý chính cần phải nắm được trong mục này, đồng thời dùng dụng
cụ học tập như tranh ảnh, mô hình, mẫu vật để hỗ trợ, lấy thêm ví dụ và giảnggiải những nội dung khó, mang tính tư duy hay nâng cao Ở bước này giáo viênđóng vai trò người điều khiển, nhận xét, đánh giá và hoàn thiện kiến thức cầnnắm được ở mục vừa thảo luận
Thời gian đầu học sinh sẽ cảm thấy bỡ ngỡ khi tự tìm tòi kiến thức cũngnhư đứng trước cả lớp để trình bày một vấn đề, nhưng chỉ sau vài tiết học nhưthế, học sinh sẽ quen dần với cách học này, các em thảo luận để tìm ra được nộidung kiến thức cơ bản của bài học và tự tin báo cáo Học sinh cả lớp sẽ xem lại
sơ đồ tư duy của mình và bổ sung những phần kiến thức còn thiếu Như vậy giáoviên sẽ không còn nặng nề về vở soạn hay vở ghi chép của học sinh nữa, vì họcsinh sẽ kết hợp hai loại vở để tích lũy thông tin cho mình
Hoạt động 4: Củng cố kiến thức và đánh giá hoạt động của học sinh
Giáo viên cho học sinh lên trình bày, thuyết minh về kiến thức bài họcthông qua một sơ đồ tư duy do giáo viên đã chuẩn bị sẵn, hoặc sơ đồ tư duy màcác em vừa thiết kế và cả lớp đã chỉnh sửa, hoàn thiện
Giáo viên có thể giới thiệu sơ đồ tư duy khác của học sinh chuẩn bị ở nhàbằng phần mềm mind – map (vì sơ đồ tư duy là một sơ đồ mở nên không yêucầu tất cả các nhóm học sinh có chung 1 kiểu sơ đồ tư duy, Giáo viên chỉ nênchỉnh sửa cho học sinh về mặt kiến thức và góp ý thêm về đường nét vẽ và hìnhthức – nếu cần)
Giáo viên có thể sử dụng các câu hỏi để củng cố bài học
Khi học sinh đã thiết kế sơ đồ tư duy và tự “ghi chép” phần kiến thức nhưtrên là các em đã hiểu sâu kiến thức và biết chuyển kiến thức từ sách giáo khoa
theo cách trình bày thông thường thành cách hiểu, cách ghi nhớ riêng của mình.
Giáo viên nhận xét, đánh giá và xếp loại A, B, C, D cho các nhóm Vớinhững cá nhân có thành tích tốt sẽ được cộng điểm hay cho điểm ngay sau tiếthọc Điều này động viên các em rất nhiều để học tốt hơn
4 Một số giáo án đã áp dụng trong giảng dạy.
Tiết 13- Bài 15 : TIÊU HÓA Ở ĐỘNG VẬT
Ngày soạn 20/9/2015 Ngày dạy 1/10/2015.
I Mục tiêu:
Sau khi học xong bài này học sinh cần:
1 Kiến thức:
- Hiểu được khái niệm tiêu hóa
- Phân biệt được tiêu hóa nội bào với tiêu hóa ngoại bào
- Hiểu được quá trình tiêu hóa thức ăn ở động vật chưa có cơ quan tiêuhóa, tiêu hóa thức ăn trong túi tiêu hóa và trong ống tiêu hóa
- Nêu được sự tiến hóa về hệ tiêu hóa ở động vật
Trang 92 Kĩ năng:
a Kĩ năng kiến thức: Phân tích kênh hình, rút ra kiến thức
b Kĩ năng sống:
- Kĩ năng thể hiện sự tự tin khi trình bày ý kiến trước nhóm, tổ lớp
- Kĩ năng lắng nghe tích cực, trình bày suy nghĩ/ý tưởng
- Kĩ năng tìm kiến và xử lý thông tin
- Kĩ năng trình bày suy nghĩ/ý tưởng, quản lý thời gian, đảm bảo nhậntrách nhiệm, hợp tác trong hoạt động nhóm
III Phương pháp dạy học:
Thảo luận nhóm và hỏi đáp
IV Tiến trình lên lớp:
HS: Cơ thể động vật lấy chất dinh dưỡng từ thức ăn
thức ăn được động vật lấy vào cần phải được tiêu hóa?
HS: Vì các chất có trong thức ăn ở dạng phức tạp, muốn trở thành cácchất dinh dưỡng cơ thể hấp thụ được phải trải qua quá trình tiêu hóa
=> Quá trình tiêu hóa ở động vật diễn ra như thế nào? chúng ta sẽ tìm hiểu quabài học hôm nay
Hoạt động của thầy – trò Nội dung kiến thức
* Hoạt động 1: Nghiên cứu, thảo luận nhóm, lập
sơ đồ tư duy.
TT1- GV:
- Chiếu tranh ảnh H15.1; H15.2; H15.6, giới thiệu,
hướng hẫn học sinh quan sát
- Yêu cầu HS quan sát tranh, nghiên cứu SGK,
thảo luận nhóm trả lời câu hỏi, lập sơ đồ tư duy
1 Nêu khái niệm về tiêu hóa ?
Sơ đồ tư duy bài học
Trang 10Hoạt động của thầy – trò Nội dung kiến thức
2 Nêu các hình thức tiêu hóa? Đặc điểm của mỗi
hình thức?
3 Dựa vào cấu tạo của cơ quan tiêu hóa, chia động
vật thành mấy nhóm?
4 Nêu đại diện, cấu tạo, hình thức tiêu hóa, quá
trình tiêu hóa của từng nhóm?
5 Nêu ưu điểm của tiêu hóa trong ống tiêu hóa so
với túi tiêu hóa?
6 Nêu hướng tiến hóa ở động vật về:
- cấu tạo của cơ quan tiêu hóa?
- tính chuyên hóa của các cơ quan tiêu hóa?
- hình thức tiêu hóa?
7 Xác định sơ đồ tư duy gồm mấy nhánh cấp 1?
TT2-HS: quan sát tranh, nghiên cứu SGK, thảo
luận, hoàn thành sơ đồ tư duy
TT3-GV: quan sát, hướng dẫn hỗ trợ các nhóm.
Hoạt động 2: Báo cáo, thuyết minh về sơ đồ tư
duy
TT1-GV: vẽ chủ đề trung tâm lên bảng, gọi mỗi
nhóm một học sinh lên vẽ, thuyết minh về sơ đồ tư
TT4-HS: chỉnh sửa, bổ sung trong vở ghi.
* Hoạt động 4: Củng cố kiến thức, đánh giá hoạt
động của học sinh
TT1- GV: gọi học sinh lên trình bày, thuyết minh
về kiến thức bài học thông qua một sơ đồ tư duy
do giáo viên đã chuẩn bị sẵn
TT2- HS: trình bày
TT3- GV: chiếu tranh H15.3; 15.4; 15.5; 15.6 yêu
cầu học sinh quan sát trả lời câu hỏi:
Trang 11Hoạt động của thầy – trò Nội dung kiến thức
1 Ống tiêu hóa của giun đất, châu chấu, chim
(hình 15.3 => hình 15.5) có bộ phận nào khác với
ống tiêu hóa ở người? Các bộ phận đó có chức
năng gì?
2 Khi ta mổ gà, trong dạ dày cơ thường có những
viên sỏi, nhưng viên sỏi này có tác dụng gì?
TT4- HS: trả lời
TT5- GV: nhận xét đánh giá, xếp loại hoạt động
của các nhóm, các thành viên trong nhóm, cho