Những giải pháp hỗ trợ các em không chỉtrong việc tiếp thu kiến thức mà còn mang lại kết quả đánh giá môn học tốt nhất,những giải pháp này bước đầu đã thu được những kết quả đáng khích l
Trang 11 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Đối với học sinh THPT kết quả thi THPT Quốc gia với mục đích xét tuyểnđại học, cao đẳng (trước đây gọi là kì thi tuyển sinh đại học, cao đẳng) đã trởthành mối quan tâm hàng đầu, là mục tiêu, là động lực chi phối suy nghĩ và hànhđộng của các em Kết quả thi THPT Quốc gia của học sinh không chỉ là dấu mốcđánh dấu cho một sự khởi đầu mới, đó là giáo dục ở cấp cao hơn (giáo dụcchuyên nghiệp), mà nó còn mang tính chất quyết định đến sự lựa chọn môitrường giáo dục chuyên nghiệp Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lí, độnglực, cống hiến của mỗi cá nhân cho việc học tập, nghiên cứu và làm việc saunày Trong giai đoạn hiện nay, Đảng, Nhà nước cùng với ngành giáo dục đangtiến hành đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục theo tinh thần NQ số 29 củaTrung Ương… thì kết quả thi THPT Quốc gia cao mang lại cho học sinh rấtnhiều lợi thế, từ tự tin xét tuyển đến việc lựa chọn cho mình môi trường giáo dụcchuyên nghiệp phù hợp với sở thích, nhu cầu và năng lực, điều này góp phầnkhông nhỏ đến đầu ra của các em sau này
Nhưng để có được kết quả cao trong kì thi THPT Quốc gia thì không phải
là dễ dàng Đặc biệt với môn Sinh học là môn thi trắc nghiệm, với đặc thù là phổkiến thức rộng, thời gian làm bài ngắn, học sinh phải kết hợp tốt cả kiến thức và
kĩ năng làm bài để đạt được điểm cao thì lại càng khó
Là một giáo viên giảng dạy môn Sinh học THPT, tôi luôn nhận thức rõ vềtrách nhiệm của bản thân đối với hiệu quả của môn học Bởi thế tôi đã khôngngừng suy nghĩ, học hỏi và rút ra những kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng,
ôn thi THPT Quốc gia môn sinh học Những giải pháp hỗ trợ các em không chỉtrong việc tiếp thu kiến thức mà còn mang lại kết quả đánh giá môn học tốt nhất,những giải pháp này bước đầu đã thu được những kết quả đáng khích lệ, làm tôi
yêu nghề hơn và mạnh dạn chia sẻ: “Một số kinh nghiệm ôn luyện giúp học sinh THPT nâng cao điểm thi môn Sinh học trong kì thi THPT Quốc gia với mục đích xét tuyển đại học, cao đằng” để cùng trao đổi với đồng nghiệp trong
quá trình giảng dạy
- Định hướng phát triển một số năng lực ở học sinh như: Năng lực tự học,năng lực tự giải quyết vấn đề, năng lực khai thác sách giáo khoa và các tài liệuhọc tập, năng lực vận dụng sáng tạo các kiến thức đã học…
Trang 2- Góp phần thực hiện đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của họcsinh theo định hướng phát triển năng lực và thực hiện đổi mới căn bản, toàn diệnGiáo dục và Đào tạo.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Để có cơ sở đánh giá về hiệu quả của việc áp dụng đề tài vào thực tế dạy học,tôi đã nghiên cứu đối với 2 lớp ban khoa học tự nhiên có điểm đầu vào cao nhấtkhối, thuộc 2 khóa học của trường THPT Triệu Sơn 3, cụ thể:
- Lớp thực nghiệm: Lớp H6 (khóa học 2012 – 2015)
- Lớp đối chứng: Lớp G6 (khóa học 2011 – 2014)
Các lớp được chọn tham gia nghiên cứu cho đề tài có nhiều điểm tương đồngnhau về tỉ lệ giới tính, ý thức học tập của học sinh, đặc biệt là năng lực học tậpmôn Sinh học trước khi tác động
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để có cơ sở tiến hành nghiên cứu và áp dụng đề tài vào thực tế dạy học, tôiđã:
- Tìm hiểu về các kĩ năng làm bài trắc nghiệm
- Tìm hiểu nhận thức của học sinh về vai trò của môn Sinh học trong địnhhướng nghề nghiệp của bản thân
- Nhận thức về cấu trúc đề thi THPT Quốc gia và tìm hiểu về kĩ thuật ra đềtrắc nghiệm
- Tổ chức áp dụng đề tài vào thực tế dạy thêm môn Sinh học THPT tạitrường THPT Triệu Sơn 3
- Tiến hành so sánh, đối chiếu và đánh giá về hiệu quả của đề tài khi ápdụng
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Môn Sinh học là môn được lựa chọn đánh giá theo hình thức trắc nghiệmkhách quan trong kì thi THPT Quốc gia, với thời gian làm bài 90 phút, học sinhphải hoàn thiện 50 câu trắc nghiệm Như vậy, mỗi câu trắc nghiệm trung bìnhhọc sinh chỉ có 1,8 phút để thực hiện, trong khi đó hiện nay với cách thức ra đềtích hợp, để trả lời mỗi câu trắc nghiệm đòi hỏi học sinh cùng lúc phải giải quyếtnhiều bài toán nhỏ liên quan Vậy để có được kết quả cao trong kì thi THPT
Quốc gia đòi hỏi học sinh phải kết hợp tốt giữa kiến thức môn học và kĩ năng làm bài.
Với phổ kiến thức trong thi trắc nghiệm được phủ khắp chương trình lớp
12, đồng thời kết hợp với đặc thù bộ môn Sinh học là kết hợp giữa lí thuyết –thực hành – thực tiễn, kết hợp giữa các cơ chế với cơ sở lí luận thì việc trang
bị kiến thức cho học sinh đã khó, nhưng học sinh vận dụng được những kiếnthức này vào giải quyết các vấn đề của môn học lại càng khó hơn
Bên cạnh đó, kĩ năng làm bài trắc nghiệm lại cũng là khâu quyết định đếnhiệu quả đánh giá môn học Thi trắc nghiệm đòi hỏi học sinh phải nhanh nhạytrong nhận định đề và giải quyết yêu cầu của đề Làm thế nào để học sinh trả lời
Trang 3đúng, trả lời trúng và trả lời nhanh? Thì đây lại là yêu cầu đặt ra đối với giáo
viên, người trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn các em làm bài Chỉ khi nào giáoviên giải quyết được bài toán kết hợp giữa kiến thức môn học và kĩ năng làm bàithì các câu trả lời trên mới được giải đáp bằng điểm số cao trong kì thi THPTQuốc gia Đặc biệt trong thời kì đất nước hội nhập, yêu cầu môn học và kĩ thuật
ra đề của nước ta ngày một hoàn thiện hơn, hay hơn và hiệu quả hơn, nhữngtrường đại học hàng đầu ngày càng khẳng định đẳng cấp của mình với điểm đầuvào cao ngất ngưởng, thì đối với người học để đạt được kết quả cao trong kì thiTHPT Quốc gia với mục đích xét tuyển cao đẳng, đại học lại càng “bức thiết”hơn
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Đối với yêu cầu bộ môn Sinh học: Nội dung thi THPT Quốc Gia gói gọntrong chương trình lớp 12, tuy nhiên kiến thức Sinh học lớp 12 với đặc thù bộmôn gồm nhiều chuyên đề như cơ chế di truyền - biến dị, tiến hóa, sinh thái vừa nhiều lí luận nhưng nhiều phần lại khó vận dụng vào thực tiễn, vừa nhiều líthuyết, nhiều cơ chế nhưng lại khó thực hành dẫn đến học sinh rất khó nhớkiến thức, khó vận dụng vào giải quyết các bài toán Bên cạnh đó có nhiều bàithời lượng phân bố trong giảng dạy ngắn nhưng lại nặng về cơ sở lí luận và các
cơ chế (như phần tính quy luật của hiện tượng di truyền) vì vậy càng khó khăncho học sinh trong việc lĩnh hội kiến thức Mặt khác, những năm gần đây chấtlượng đề thi THPT Quốc gia các môn nói chung và môn Sinh học nói riêng luônđược chú trọng, được các nhà chuyên môn cũng như giáo viên và học sinh đánhgiá cao, đề thi luôn có sự đổi mới, bất ngờ, đảm bảo chuẩn kiến thức – kĩ năng đặc biệt trong cách ra đề, cách hỏi đối với môn Sinh học vừa mang tính đặc thù,vừa phủ kiến thức, vừa đảm bảo cấu trúc, vừa đảm bảo phân loại học sinh vàvừa đổi mới Vì thế, trung bình điểm thi THPT Quốc gia của các em không cao
là điều dễ hiểu
Đối với giáo viên giảng dạy môn Sinh học THPT: Không phải giáo viênnào cũng tham gia trực tiếp vào bồi dưỡng, ôn luyện cho học sinh thi THPTQuốc gia và bản thân giáo viên được giao trọng trách này cũng không phải aicũng nhận thức đúng về hình thức thi trắc nghiệm khách quan, nhận thức đúng
về kĩ thuật ra đề, từ đó có nhận định đúng, có cách làm đúng, cách làm phù hợp.Đối với học sinh: Có nhiều nguyên nhân kiến cho học sinh ngày càngkhông mặn mà với môn Sinh học, ngày càng ít học sinh lựa chọn thi khối B hay
sử dụng tổ hợp xét tuyển đại học có môn Sinh học, nhưng trong đó phải kể đếnhai nguyên nhân chính, đó là các trường chuyên nghiệp tuyển sinh khối B (hoặc
tổ hợp xét tuyển) ít và điểm đầu vào các trường, chuyên ngành này lại quá cao.Trước thực trạng này nhiều trường THPT số học sinh học khối B rất ít, trong khi
đó những học sinh đã lựa chọn thi khối B thì môn Sinh học là môn mà các em
“ngại” học nhất trong các môn khối, bởi theo nhiều học sinh đây là môn rất đặc
thù, nhiều lí thuyết, lí thuyết thì khó nhớ, khó suy luận, bài tập dài, nhiều dữkiện, nội dung kiến thức tập trung vào chương trình 12 nên gây áp lực tâm lí
Trang 4Bên cạnh đó trường THPT Triệu Sơn 3, nơi tôi công tác là ngôi trường nằm
ở vùng cao nhất của huyện Triệu Sơn, một vùng được đánh giá là trũng cả về kinh tế và giáo dục, vì thế nâng cao chất lượng giáo dục, cụ thể là nâng cao điểm thi THPT Quốc gia ở đây không phải là vấn đề dễ dàng
Thực trạng trên đã làm tôi trăn trở rất nhiều, tự kiểm điểm lại bản thân và nghĩ ra rất nhiều phương án khác nhau để cải thiện, nhưng để nâng cao được kết quả thi THPT Quốc gia thật không dễ, đòi hỏi phải có kế hoạch, phương pháp hợp lí và kiên trì trong một khoảng thời gian dài
2.3 Giải pháp thực hiện
2.3.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho học sinh về môn học
Từ khi thực hiện thay sách giáo khoa thì bản thân ở mỗi trường THPT ngay từ đầu mỗi khóa học đều có sự khảo sát và sắp xếp lớp học cho phù hợp với năng lực và nguyện vọng của học sinh Môn Sinh học trở thành môn được lựa chọn thi đại học khối B đối với học sinh học theo ban khoa học tự nhiên Và đối với giáo dục THPT thì kết quả thi THPT Quốc gia là khâu quan trọng nhất
để đánh giá hiệu quả giáo dục Bản thân là giáo viên tôi nhận thức rõ để có được kết quả cao thì phải có sự hợp tác chặt chẽ giữa thầy và trò Vì thế ngay trong buổi đầu tiên gặp mặt các em học ban khoa học tự nhiên, với vai trò là một giáo viên bộ môn tôi đã nắm bắt nhanh thông tin, nguyện vọng và mục tiêu của các
em thông qua việc yêu cầu các em hoàn thiện bản “thông tin cá nhân” như sau:
Sau khi hoàn thành “thông tin cá nhân” của mỗi hoc sinh, tôi đã có thể nắm bắt tổng quát về tâm tư, nguyện vọng cũng như mục tiêu của mỗi học sinh
Từ đó, tôi đi sâu vào tâm lí và đánh thức sự quyết tâm ở mỗi học sinh đối với từng môn học khối và đặc biệt là môn Sinh học, môn mà tôi đang trực tiếp khảo sát Tôi phân tích cho học sinh thấy được:
Thứ nhất: Trọng lượng ngang nhau của các môn đóng góp vào kết quả chung
thi đại học, từ đó để học sinh nhận thức được sự “đầu tư” cho mỗi môn là ngang nhau, không nên học lệch và cũng không nên kì vọng quá vào một môn nào đó
Ví dụ: Thời gian biểu học tập ở nhà cần có quỹ thời gian tương ứng để ôn tập đối với từng môn khối
THÔNG TIN CÁ NHÂN
1 Họ và Tên………Giới tính………
2 Ngày sinh………Dân tộc………
3 Nghề muốn làm trong tương lai:………
4 Trường đại học muốn học: ………
5 Khối thi (xét tuyển) đại học
6 Mục tiêu điểm thi THPT Quốc gia từng môn:
Môn: đạt: điểm Môn: đạt: điểm Môn: đạt: điểm Môn: đạt: điểm Môn: đạt: điểm Môn: đạt: điểm
Trang 5Thứ hai: Tôi nhấn mạnh đối với học sinh để đạt được mục tiêu xét tuyển đại
học của mình thì “gánh nặng” tổng điểm cần chia đều cho 3 môn khối Như vậy,vừa phù hợp với khả năng phấn đấu của bản thân, khả năng đậu lại cao hơn rấtnhiều so với việc học lệch
Ví dụ: Để đạt được điểm xét tuyển đại học là 21 điểm, nếu tính trung bìnhmỗi môn phấn đấu 7 điểm thì không khó khăn gì, bởi mức 7 điểm đồi với đề thiđại học là mức dành cho học sinh khá Tuy nhiên, cũng với 21 điểm này, nếuhọc lệch hoặc có mục tiêu sai như mục tiêu môn 1 là 10 điểm, tổng điểm môn 2
và môn 3 là 11 điểm Với mục tiêu như thế này học sinh đó chỉ chuyên tâm vàomôn 1, còn sơ cua đối với môn 2 và môn 3 Tuy nhiên, để môn 1 đạt 10 điểmkhông phải là dễ dàng, trong khí đó việc quan niệm sơ cua, không chú tâm thìmôn 2 và môn 3 của học sinh này cũng chưa chắc được tổng 11 điểm Trongthực tế cũng đã không ít học sinh có kết cục như vậy
Thứ ba: Tôi khẳng định với học sinh là các em vẫn còn 3 năm để nuôi ước mơ,
để thay đổi tương lai và để nhận thức đúng hơn về “nghề” và “nghiệp”, vì thếngay từ bây giờ các em phải nổ lực trong học tập, tu dưỡng, không nên saonhãng với bất kì môn học nào, trong đó có môn Sinh học Bởi không ít học sinhkhông đặt mục tiêu xét tuyển đại học, cao đẳng môn Sinh ngay từ đầu, không để
ý nhiều đến học tập môn Sinh học nhưng rồi đầu lớp 12, thậm chí mãi đến học
kì II của lớp 12 lại đột ngột chuyển sang thi khối B và lúc đó mới bắt đầuchuyên tâm học môn Sinh học Điều này sẽ gây khó khăn cho chính học sinh đó,gây sốc vì học dồn dập một khối lượng kiến thức lớn và từ đó sẽ dẫn đến kếtquả thi đại học không cao
2.3.2 Biện pháp 2: Nâng cao nhận thức cho học sinh về hình thức thi trắc nghiệm và bước đầu hướng dẫn học sinh cách làm bài thi trắc nghiệm.
Tôi nhận thức rõ sự cần thiết nâng cao nhận thức cho học sinh về thi trắcnghiệm, bởi đây là hình thức đánh giá khá mới mẻ đối với học sinh mới bướcvào THPT Khác với cách đánh giá truyền thống là thi tự luận thì thi trắc nghiệmvượt trội hơn hẳn về:
- Lượng kiến thức cần đánh giá: Kiến thức đánh giá là phủ được toàn bộ cấutrúc, mà đối với môn Sinh học thì phần lớn thuộc chương trình lớp 12 Trong nộidung cấu trúc đề thi thì kiến thức kiểm tra là không có giới hạn, nó có thể là mộtvấn đề lớn, một cơ chế, một quá trình nhưng cũng có thể là một ví dụ, là mộthình chú thích Vì vậy, trong quá trình học tập dù là chi tiết rất nhỏ thì các emcũng không được bỏ qua
- Tốc độ làm bài: Với thi trắc nghiệm tốc độ làm bài được thể hiện rất rõ, trongthời gian 90 phút các em sẽ phải hoàn thiện 50 câu trắc nghiệm, trong đó nhiềucâu hỏi là dạng tổ hợp cùng lúc của nhiều bài tập nhỏ, vì thế tuy chỉ mang lại 0,2điểm cho mỗi câu nhưng những câu này đòi hỏi học sinh phải làm nhiều bài tậpnhỏ mới có thể lựa chọn được đáp án đúng Bên cạnh đó, cách ra đề thi của Bộ
GD – ĐT ngày càng được đánh giá cao, đặc biệt là đối với môn Sinh học, đềnăm sau phân loại tốt hơn năm trước; đề năm sau phản ánh đúng bản chất Sinhhọc hơn năm trước; đề năm sau dài hơn năm trước Vì vậy, tốc độ tư duy làm
Trang 6bài của học sinh có tính chất quyết định cao đồi với kết quả thi THPT Quốc gia
và chính vì thế muốn tư duy nhanh thì phải nắm chắc kiến thức đồng thời cầnrèn luyện kĩ năng làm bài
- Kĩ năng làm bài: Trong thi trắc nghiệm, kĩ năng làm bài cũng là một yếu tốgóp phần không nhỏ vào thành tích môn học Học sinh phải biết cách làm câunào trước, câu nào sau; đánh dấu câu chưa làm hoặc cần xem lại; biết cách đọc
đề, sử lí số liệu ngay trên đề; gạch chân phần lời dẫn hoặc câu hỏi dễ làm mìnhmắc sai lầm
Như vậy, để có điểm số cao trong thi THPT Quốc gia thì học sinh cầnphải kết hợp tốt kiến thức môn học mà bản thân lĩnh hội được và kĩ năng làm bài
(đối với câu lí thuyết) hoặc tính toán tìm kết quả (đối với câu bài tập)
Thứ ba: Đối với câu lí thuyết ngay cả khi thấy phương án A là phù hợp thì vẫn
cần phải kiểm tra các phương án còn lại, vì có thể đây chưa phải là phương ánđúng Đối với câu bài tập tính toán, để làm trắc nghiệm hiệu quả thì cần phải rènluyện khả năng giải bài tập tự luận Vì vậy, tuy là thi trắc nghiệm nhưng khôngthể xem nhẹ kĩ năng làm bài tự luận
Thứ tư: Chú trọng trau rồi kiến thức lí thuyết Với đặc thù môn Sinh học thì lí
thuyết vẫn chiếm trọng lượng lớn trong đề thi THPT Quốc gia, đặc biệt lí thuyếtlại là cơ sở của nhiều dạng bài tâp (bởi khác với các môn khác bài tập được khaithác từ các công thức thì môn Sinh học trong toàn bộ chương trình THPT xuấthiện rất ít công thức vận dụng mà đa số bài tập phải tự suy luận từ lí thuyết cănbản)
Với những hướng dẫn bước đầu để học sinh làm quen với hình thức đánhgiá trắc nghiệm này, tôi yêu cầu học sinh ghi chép cẩn thận Tuy rằng, ban đầuhọc sinh sẽ thấy mơ hồ về các kĩ năng này, nhưng kết hợp với quá trình rènluyện dần qua các đơn vị kiến thức thì những kĩ năng này lại trở nên rất hữu ích,góp phần không nhỏ vào thành tích học tập của các em
2.3.3 Biện pháp 3 Bồi dưỡng, bổ sung kiến thức cho học sinh.
Cấu trúc đề thi THPT Quốc gia được chia thành 7 phần, tương ứng với 7chuyên đề nghiên cứu như sau:
Chuyên đề 1 Cơ chế di truyền, biến dị
Chuyên đề 2 Tính quy luật của hiện tượng di truyền
Chuyên đề 3 Ứng dụng di truyền vào chọn giống
Chuyên đề 4 Di truyền quần thể
Chuyên đề 5 Di truyền học người
Chuyên đề 6 Tiến hóa
Chuyên đề 7 Sinh thái
Trang 7Chính vì vậy, quá trình ôn luyện cho học sinh tôi luôn bám sát vào cấutrúc này Tuy nhiên, những chuyên đề có lượng kiến thức lớn, tôi tiến hành chianhỏ hơn thành các phần với nội dung tương ứng để dễ dàng nghiên cứu, khaithác kiến thức, học sinh cũng dễ nắm bắt và vận dụng.
Ví dụ: Chuyên đề 1: Cơ chế di truyền, biến dị tôi tách thành 2 phần:
- Phần 1: Cơ chế di truyền, biến dị cấp phân tử
- Phần 2: Cơ chế di truyền, biến dị cấp tế bào
Song song với việc lĩnh hội kiến thức trong các tiết chính khóa thì trongcác buổi học thêm tôi tiến hành bồi dưỡng, bổ sung kiến thức cho các em, bằngcách:
Thứ nhất: Tổng hợp các kiến thức liên quan đến mỗi chuyên đề
Bước 1 Đưa ra các đơn vị kiến thức liên quan với chuyên đề (hoặc nội dung)
đang nghiên cứu
Ví dụ: Khi nghiên cứu về chuyên đề di truyền học người, gồm các đơn vị kiến thức:
(1)Các phương pháp nghiên cứu di truyền người
(2)Các bệnh, tật di truyền ở người
(3)Di truyền học với bệnh ung thư và bệnh ADIS
(4)Bảo vệ vốn gen của loài người
(5)Một số vấn đề xã hội của di truyền học
Bước 2 Hệ thống lại các kiến thức ở mỗi đơn vị kiến thức, bổ sung, mở rộng
các kiến thức liên quan mà với thời lượng 45 phút của tiết chính khóa chưa có điều kiện bổ sung
Ví dụ: Khi học về phương pháp nghiên cứu trẻ đồng sinh (thuộc đơn vịkiến thức: Các phương pháp nghiên cứu di truyền người), để khắc sâu kiến vàđưa ra cách thức xác định sự phụ thuộc của kiểu gen vào môi trường, tôi bổ sungcho học sinh sơ đồ xác định như sau:
Trang 8Qua sơ đồ này, học sinh có thể xác định được sự phụ thuộc của kiểu genvào môi trường ở mỗi trường hợp cụ thể, từ đó xác định được tính trạng nghiêncứu có hệ số di truyền cao hay thấp, thuộc tính trạng số lượng hay tính trạngchất lượng
Thứ hai: Nếu chuyên đề có bài tập liên quan, tôi chia bài tập của chuyên đề đó
thành các dạng bài tập nhỏ
Ví dụ: Các dạng bài tập trong chuyên đề di truyền học người gồm:
Dạng 1 Cách xác định kiểu gen của các thành viên trong gia đình
Dạng 2 Cách xây dựng phả hệ
Dạng 3 Khai thác bài toán từ phả hệ
Dạng 4 Bài tập xác suất liên quan đến di truyền học người
Dạng 5 Vận dụng di truyền quần thể để giải các bài tập liên quan đến di truyềnhọc người
Với mỗi dạng bài tập, tôi lại tìm tòi, nghiên cứu và cùng với học sinh xâydựng các bước giải toán phù hợp nhất, từ đó học sinh dễ dàng nắm bắt đượctrọng tâm của vấn đề và vận dụng linh hoạt vào giải bài tập
Ví dụ: Với dạng 3 trong bài tập di truyền học người ở trên, có 7 bước cơbản để nhận dạng và giải bài tập, như sau:
Bước 1:
- Lập sơ đồ phả hệ theo số liệu đã cho ở đề bài (nếu đề bài chưa cho phả hệ)
- Chú thích các kí hiệu trong sơ đồ
Bước 2: Xác định tính trạng bệnh do gen trội hay gen lặn quy định.
Bước 3: Xác định tính trạng (gen bệnh) nằm trên NST thường hay NST giới tính Bước 4: Quy ước gen
Bước 5: Tìm kiểu gen của từng người trong phả hệ theo yêu cầu của đề bài Bước 6: Giải quyết các yêu cầu khác của đề bài nếu có.
Bước 7: Khẳng định cách di truyền của gen bệnh nếu đề bài yêu cầu.
Trang 9Ví dụ: Nếu gen gây bệnh nằm trên NST X > sự di truyền của gen bệnh tuân theo quy luật di truyền chéo Nếu gen gây bệnh nằm trên NST Y > sự di truyền của gen bệnh tuân theo quy luật di truyền thẳng.
Chú ý: Những bước nào đề đã cho hoặc không yêu cầu thì bỏ qua Tuỳ vào từng bài cụ thể mà thứ tự các bước có thể thay đổi
Sau khi đã có phương pháp tổng quát để giải bài tập, tôi tiến hành hướngdẫn các em luyện tập để nắm chắc được kĩ năng làm bài
Ví dụ: Câu 9 (ĐH 2011 – Mã đề 248) Cho sơ đổ phả hệ sau:
◘
Sơ đồ phả hệ trên mô tả sự di truyền một bệnh ở người do một trong haialen của một gen quy định Biết rằng không xảy ra đột biến ở tất cá các cá thểtrong phả hệ Trong những người thuộc phả hệ trên, những người chưa thể xácđịnh được chính xác kiểu gen do chưa có đủ thông tin là:
Hướng dẫn giải:
Bước 1 Bỏ qua bước này (vì đề bài đã cho phả hệ và chú thích các kí hiệu).Bước 2 Xét P: III12 x III13 ta thấy, bố mẹ bị bệnh nhưng sinh con bình thường,nên tính trạng bệnh phải do gen trội quy định và không xuất hiện tính trạngtrung gian nên tính trạng trội là trội hoàn toàn
Bước 4 Quy ước
A- Bị bệnh trội hoàn toàn so với a – bình thường
Vậy, người bị bệnh có kiểu gen
Người bình thường có kiểu gen aa
Bước 5 Lập luận logic ta có thể điền thông tin về kiểu gen của các cá thể có mặttrong sơ đồ phả hệ (sơ đồ trên), như sau:
Trang 10Buớc 6 Khẳng định yêu cầu của đề bài Căn cứ vào sơ đồ kiểu gen của phả hệvừa tìm được ta có thể kết luận đáp án cần chọn theo yêu cầu của đề bài: Trongnhững người thuộc phả hệ trên, những người chưa thể xác định được chính xáckiểu gen do chưa có đủ thông tin là: Cá thể số 17 và 20
→ Đáp án C 17 và 20
Với cách chia nhỏ nội dung thành các đơn vị kiến thức, đồng thời hướngdẫn chi tiết tiến trình giải quyết yêu cầu của đề tạo sự thống nhất về nội dung, sựliền mạch trong tư duy và kết quả học sinh đã tiếp thu tốt kiến thức lại còn vậndụng linh hoạt kiến thức lĩnh hội được
Thứ ba: Bổ sung ngay câu hỏi trắc nghiệm tương ứng với từng đơn vị kiến thức
và yêu cầu học sinh nghiêm túc thực hiện
Sau mỗi đơn vị kiến thức có thể là một mục, một bài lí thuyết, một dạngbài tập, một nội dung kiến thức hay đôi khi là một chuyên đề, một phần tôi đềutìm tòi, thiết kế cho các em đề trắc nghiệm phù hợp với đơn vị kiến thức đó,điều này vừa giúp các em củng cố ngay kiến thức vừa học nhưng đồng thời còntăng cường khả năng tư duy, vận dụng vào trả lời trắc nghiệm, cũng như kết hợp
để rèn luyện kĩ năng làm bài trắc nghiệm cho học sinh
Ví dụ: Sau khi dạy về phương pháp giải bài tập khai thác bài toán từ phả
hệ và cho học sinh luyện tập, thì tôi yêu cầu học sinh vận dụng các kiến thức và
kĩ năng vừa học vào thực hiện đề trắc nghiệm ở phụ lục 1.
Kết quả làm trắc nghiệm ở mỗi đề này tôi đều lưu lại, để lấy cơ sở đánhgiá khả năng nhận thức, vận dụng kiến thức và sự tiến bộ của các em
2.3.4 Biện pháp 4 Gắn việc bồi dưỡng, bổ sung kiến thức với việc kiểm tra, đánh giá học sinh qua từng chuyên đề.
aa aa aa
Trang 11Việc kiểm tra, đánh giá học sinh là một công việc diễn ra thường xuyên,nhằm tạo cho cho học sinh thoái quen học tập chủ động và liên tục Đồng thờicũng qua việc kiểm tra này tôi có thể động viên, uốn nắn kịp thời những họcsinh chưa tiến bộ, học sinh chậm tiến bộ, học sinh chưa thực sự cố gắng bêncạnh đó cũng kích lệ được những học sinh có khả năng tiếp thu tốt Nhận thức rõđược điều này, nên sau mỗi nội dung kiến thức, hoặc sau một chuyên đề cónhiều nội dung, hoặc sau một phần tôi đều tiến hành kiểm tra, đánh giá các emthông qua hình thức thi trắc nghiệm
Tuy nhiên để kết quả kiểm tra trở thành động lực phấn đấu đối với mỗihọc sinh, tôi đã tiến hành như sau:
Thứ nhất: Lưu kết quả làm trắc nghiệm đối với từng đơn vị kiến thức và rèn
luyện khả năng làm bài tự luận cho học sinh
- Với mỗi đơn vị kiến thức, sau khi học sinh làm bài và công bố đáp án, tôi đềulưu lại kết quả đạt được tương ứng với số điểm của mỗi em
- Yêu cầu các em phải giải tất cả các câu bài tập ra giấy, trình bày cách thức màcác em tìm ra được đáp án của bài toán và gắn vào phía sau mỗi đề trắc nghiệm,nộp lại để giáo viên kiểm tra
Với cách làm này, không những học sinh chỉ quan tâm đến hoàn thiện đềthi mà còn phải bố trí thời gian để giải các bài tập tương ứng, điều này vừa giúpcác em rèn luyện khả năng làm bài tự luận cũng như ý thức làm bài nghiêm túc,đồng thời hình thành cho học sinh thoái quen biết cách thiết lập thời gian biểuhợp lí cho việc học hành của bản thân
Thứ hai: Kiểm tra sau một nội dung (hoặc một chuyên đề).
Sau mỗi nội dung hoặc chuyên đề tôi đều tiến hành kiểm tra và đánh giáhọc sinh, như sau:
Bước 1 Thiết kế đề kiểm tra gồm 50 câu trắc nghiệm, với 4 mã đề, kiến thức
thuộc nội dung hoặc chuyên đề cần kiểm tra
Ví dụ: Sau khi học xong phần 1: Cơ chế di truyền, biến dị cấp phân tử thuộc chuyên đề cơ chế di truyền, biến dị tôi thiết kế đề kiểm tra như ở phụ lục
2.
Bước 2 Tiến hành kiểm tra trong thời gian 90 phút.
Bước 3 Thu bài, chấm bài và tổng hợp kết quả đạt được của mỗi học sinh.
Bước 4 Sửa bài và đánh giá khả năng tiếp thu của các em qua nội dung hoặc
chuyên đề Quá trình chấm bài tôi liệt kê các câu sai của mỗi học sinh, từ đó tiếnhành phân tích về:
- Khả năng tiếp thu của học sinh
- Khả năng vận dụng kiến thức đã học
- Sự linh hoạt, mức độ nhạy bén và khả năng huy động kiến thức liên quan
Ví dụ: Em Phạm Đình Dương; trung bình các bài trắc nghiệp sau từng
đơn vị kiến thức ở nội dung 2: cơ sở vật chất, cơ chế di truyền và biến dị cấp tế bào của em rất tốt, đạt 9,75 điểm Tuy nhiên, khi làm bài tổng hợp về kiến thức
phần này (50 câu trắc nghiệm) thì em lại vướng mắc ở 2 câu, cụ thể:
Trang 12Câu 1: Ở 1 loài 2n = 10, giả sử cặp NST số I chỉ chứa 1 cặp gen dị hợp và xảy ratrao đổi chéo đơn, cặp NST số II chỉ chứa 2 cặp gen dị hợp và xảy ra trao đổichéo kép, các cặp NST khác đều có cấu trúc khác nhau và không xảy ra trao đổichéo trong giảm phân Số loại giao tử tối đa tạo ra là
A 256 B 64 C 128 D 8
Đáp án em Dương chọn là đáp án A.Câu 2 Ở người, bộ nhiễm sắc thể 2n = 46 Số nhóm gen liên kết ở nam là
Đáp án em Dương chọn là đáp án B.Phân tích bài làm của em Dương, tôi nhận thấy:
Một là em chỉ làm sai 2 câu trong tổng số 50 câu kiểm tra, điều này cho
thấy khả năng tiếp thu bài của em tốt
Hai là tôi chỉ ra lỗi sai ở 2 câu:
- Với câu 1: Em đã áp dụng công thức một cách máy móc là trao đổi chéo đơn cho 4 loại giao tử; trao đổi chéo kép cho 8 loại giao tử; không có trao đổi chéo nhưng cấu trúc NST khác nhau thì cho 2 loại giao tử Từ đó, kết quả em lựa chọn là 4x8x23 = 256 loại giao tử Tuy nhiên với bài tập này tôi đã chỉ cho các
em thấy rõ: Nếu 1 cặp NST tương đồng chỉ chứa 1 cặp gen dị hợp thì tối đa chỉ cho 2 loại giao tử; nếu 1 cặp NST tương đồng chỉ chứa 2 cặp gen dị hợp thì tối
đa chỉ cho 4 loại giao tử và từ đó kết quả phải là 2x4x23 = 64 loại giao tử
- Với câu 2: Em đã biết vận dụng kiến thức về số nhóm gen liên kết bằng số NST trong bộ NST đơn bội của loài (ở người n = 23), tuy nhiên ở nam có cặp NST giới tính là XY không tương đồng Vì vậy, trong quần thể người thì số nhóm gen liên kết ở nam phải là 24
Từ những phân tích trên, tôi nhận định tuy em nắm chắc kiến thức đã học
về cách xác định số kiểu gen, số nhóm gen liên kết nhưng khi gắn với nhưng trường hợp đã biến đổi bài tập so với công thức đã học (như câu 1) hoặc liên hệ với kiến thức phần khác (như câu 2) thì em chưa linh hoạt trong xử lí bài tập, dẫn đến kết quả bị sai
Hay với trường hợp em Lê Thị Hà, trung bình kết quả các bài trắc nghiệm
ở từng đơn vị kiến thức của em chỉ đạt trung bình 5,5 điểm, những câu trả lời đúng chủ yếu là câu lí thuyết và bài tập mức độ dễ và vừa phải; còn đối với bài kiểm tra cuối chuyên đề em đạt 5,0 điểm, các câu khó em cũng không làm được
Từ kết quả này tôi có thể đánh giá khả năng tiếp thu và vận dụng kiến thức của
em chỉ đạt ở mức trung bình
Bước 5 Gửi kết quả về gia đình Kết quả đạt được của các em sau mỗi nội dung
hoặc chuyên đề cùng những nhận xét về khả năng tiếp thu; vận dụng kiến thức;
ý thức học tập; khả năng phát huy…tôi gửi về gia đình các em và yêu cầu phảnhồi từ phía phụ huynh
Ví dụ: Thông báo kết quả như ở phụ lục 3.
Với cách làm này không chỉ có thể kịp thời nắm bắt, nhận xét, đánh giá vềkhả năng của từng học sinh mà còn kịp thời phối hợp với phụ huynh học sinhtrong giáo dục các em, tạo sự đồng thuận, sự ủng hộ từ phía gia đình các em
Trang 132.3.5 Biện pháp 5 Ôn tập tổng hợp
Bước 1 Phân nhóm đối tượng học sinh theo khả năng tiếp thu.
Do sâu sát với học sinh từ lớp 10 THPT nên đến giai đoạn ôn tập cuốikhóa chuẩn bị cho kì thi THPT Quốc gia bản thân tôi có thể đánh giá chính xáckhả năng tiếp thu của từng học sinh Từ kết quả các lần khảo sát, tôi chia cáchọc sinh thành hai nhóm với dự kiến điểm thi THPT Quốc gia tương ứng nhưsau:
Nhóm 1: Nhóm có khả năng đạt từ điểm 7 trở lên
Nhóm 2: Nhóm có khả năng đạt dưới điểm 7
Sau khi chia nhóm, tôi tiến hành:
- Cho học sinh đăng kí lại mục tiêu điểm thi THPT Quốc gia của bản thân đốivới môn Sinh học Căn cứ để đăng kí là dựa vào hai kênh thông tin:
Một là: Điểm trung bình các bài kiểm tra khảo sát sau khi học xong các nội dunghoặc chuyên đề
Hai là: Điểm trung bình môn Sinh học các lần tham gia khảo sát thi THPT Quốcgia do nhà trường tổ chức Đây là một kênh thông tin đáng tin cậy, bởi nhiềunăm trở lại đây các trường THPT đều cho học sinh khảo sát kiến thức thi THPTQuốc gia, đề khảo sát tuân thủ cấu trúc của Bộ GD – ĐT, được thẫm định và coithi nghiêm túc bởi các giáo viên trong trường
Trên cơ sở đó tôi khuyến kích các em đăng kí mục tiêu cao hơn khả năngcủa mình, từ đó để học sinh có động lực phấn đấu, quyết tâm hơn ở giai đoạncuối này
Ví dụ:
bình chung
Mục tiêuKiểm tra
chuyên đềhoặc cácnội dung
Khảo sátkiến thứcthi THPTQuốc gia
- Nêu yêu cầu đối với mỗi nhóm ở mỗi bài trắc nghiệm
Đối với nhóm 1: Yêu cầu các em hoàn thiện tất cả các câu trắc nghiệm Đối với nhóm 2: Yêu cầu học sinh tập trung hoàn thiện 30 câu đầu tiêntrong mỗi đề (đề 50 câu được sắp xếp từ dễ đến khó) hoặc đối với đề không sắpxếp các câu từ dễ đến khó thì tôi đánh dấu các câu khó và yêu cầu học sinh phảihoàn thiện các câu dễ trước sau đó mới được làm các câu khó Cuối cùng thì câunào cũng phải lựa chọn phương án trả lời
Bước 2 Bổ sung một số kĩ năng làm bài trắc nghiệm cho học sinh.
Thứ nhất: Câu đã chắc chắn có phương án đúng, phải khoanh ngay vào tờ đề
và tô vào phiếu trả lời trắc nghiệm, còn những câu còn lưỡng lự, chưa làm thìphải có kí hiệu riêng trên đề để sau đó quay trở lại kiểm tra hoặc làm
Trang 14Thứ hai: Những từ ngữ dễ bị nhầm lẫn thì phải gạch chân hoặc khoanh tròn để
chú ý khi làm bài Ví dụ: Chọn kết luận sai hoặc không đúngcho các phát biểu
sau? Thì học sinh cần gạch chân chữ sai hoặc chữ không đúng để tránh nhầm
lẫn khi lựa chọn các đáp án
Thứ ba: Với nhưng câu trắc nghiệm phải đếm số phương án thì với mỗi phương
án lựa chọn theo yêu cầu của đề cần tích ngay ở đầu các phương án đó, từ đóviệc đếm, kiểm tra lại bài làm sẽ chính xác và tiết kiệm được nhiều thời gian
Thứ tư: Đối với những câu bài tập thì sử dụng ngay những những khoảng trống
trên đề để nháp Điều này rất có lợi vì tiết kiệm được thời gian chuyển thông tinbài làm từ đề sang giấy nháp khác, đồng thời khi cần kiểm tra lại bài cũng thuậnlợi hơn
Thứ năm: Đối với những câu chọn phương án trả lời đúng thì với mỗi phương
án đưa ra cần tìm xem phương án này sai ở chỗ nào, từ đó loại trù để tìm raphương án đúng
Bước 3 Luyện tập các chuyên đề và làm các bài tập trắc nghiệm có nội dung kiến thức liên quan.
Đến giai đoạn này thì học sinh đã có kiến thức tổng quát đối với môn Sinhhọc THPT Vì vậy, tôi tiến hành:
- Hệ thống kiến thức của từng chuyên đề: Kiến thức của mỗi chuyên đề được hệ
thống lại, đặc biệt tôi sử dụng sơ đồ tư duy để hệ thống kiến thức, nhằm giúp
các em vừa hệ thống được kiến thức, vừa không bỏ sót các kiến thức đã học
Ví dụ: Khi ôn tập về các bệnh di truyền ở người tôi dùng sơ đồ tư duy
như ở phụ lục 4.
- Lưu ý về các vấn đề thường gặp và những lỗi thường mắc phải của học sinh.Đây là vấn đề rất quan trọng bởi học sinh sẽ định hướng rõ ràng hơn về các vấn
đề liên quan và không mắc phải các sai lầm không đáng có
- Làm đề trắc nghiệm liên quan: Tôi tiến hành cắt các câu trắc nghiệm liên quanvới chuyên đề ôn tập từ đề thi THPT Quốc gia các năm trước hoặc cắt từ đề thikhảo sát kiến thức thi THPT Quốc gia của các trường THPT
Ví dụ ở phụ lục 5
Với cách làm này, không những giúp học sinh nắm kiến thức, ôn luyệnkiến thức mà còn giúp các em đào sâu suy nghĩ và rèn kĩ năng làm bài ở mỗichuyên đề Cuối cùng tôi nhận xét, đánh giá kết quả đạt được của các em
Bước 4 Luyện đề tổng hợp theo đúng cấu trúc của Bộ.
Đây là khâu rất quan trọng, mang tính chất quyết định, vì vậy để có đượckết quả tốt thì tôi đã tiến hành như sau:
Thứ nhất Thiết kế đề
Đề cho học sinh làm trong giai đoạn này cần:
Một là: Đúng theo cấu trúc của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việc ra đề thihay lựa chọn đề thi trên mạng cho học sinh làm, tôi đều thận trọng lựa chọnnhững đề thi theo đúng cấu trúc của Bộ, vì thế học sinh sẽ có cái nhìn tổng quát
về trọng lượng các phần kiến thức và mức độ nhận biết ở mỗi phần
Trang 15Hai là: Phân loại câu hỏi theo mức độ nhận thức Từ năm 2015 khi thựchiện kì thi THPT Quốc Gia, đề thi được ra chung để xét tốt nghiệp và đại họcnên đề đã có sự sắp xếp rất rõ ràng các câu hỏi từ dễ đến khó, các câu thuộc mức
độ dễ (mức độ nhận biết và thông hiểu) được xếp ở 30 câu đầu tiên, còn các câukhó, có tính phân loại sắp xếp ở 20 câu tiếp theo Với cách làm này của Bộ Giáodục và Đào tạo đã tạo thuận lợi cho học sinh, đặc biệt học sinh thi THPT Quốcgia chỉ với mục đích xét tốt nghiệp, từ đó xu hướng ra đề của nhiều trường trên
cả nước cũng bám theo cấu trúc này, đây được coi là bước đột phá trong côngtác ra đề Tuy nhiên, ở những năm trước nhận thức được tầm quan trọng củaviệc phân loại học sinh, nên với mỗi đề thi tuy chưa sắp xếp các câu dễ tới khónhư hiện nay nhưng tôi đã đánh dấu những câu khó trong đề trước khi photo đưacho các em làm bài
Thứ 2 Làm đề, đánh giá kết quả.
Thực hiện bước này, tôi yêu cầu học sinh:
- Sắp xếp chỗ ngồi: Tôi chia các em ngồi thành hai dãy, tương ứng với hai nhómhọc sinh mà tôi đã phân loại Với cách bố trí này, những em thuộc nhóm một sẽngồi một bên và những em thuộc nhóm hai sẽ ngồi bên còn lại
- Phát đề, yêu cầu các em ghi tên vào tờ đề và làm bài trong thời gian 90 phútnhư quy định của Bộ Giáo dục
- Trong suốt quá trình các em làm đề, tôi luôn giám sát tới học sinh để đảm bảocác em không trao đổi bài, đặc biệt các em thuộc nhóm hai thì tôi yêu cầu phảilàm xong các câu không đánh dấu hoặc 30 cầu đầu (đối với đề được xắp sếp câuhỏi từ dễ đến khó) thì mới được làm các câu đánh dấu Ngoài ra, việc tôi sâu sáttới học sinh giúp tôi đánh giá được khả năng làm bài, vận dụng những lợi thế từ
tờ đề thi trắc nghiệm để làm bài, như nháp bài, gạch chân dưới những từ dễ gâynhầm lẫn hay tích vào các phương án phù hợp với yêu cầu của đề đối với câutrắc nghiệm nhiều lựa chọn…
- Chấm bài: Sau 90 phút học sinh làm bài tôi thu bài của các em lại và phát ngẫunhiên cho các bạn khác, sau đó tôi mới tiến hành đọc đáp án để các em kiểm tra.Việc học sinh chấm chéo bài trắc nghiệm cũng phải tuân thủ theo yêu cầu: Câuchọn đúng được tích ở phía trước; câu chọn sai thì ghi đáp án đúng lên phíatrước cho bạn; số câu trả lời đúng được tổng hợp lên phía trên
- Sửa đề: Đây có thể coi là khâu quan trọng nhất trong giai đoạn ôn tập tổnghợp, bởi việc sửa đề vừa giúp các em có thêm kĩ năng làm bài, vừa chỉ ra chỗchưa hợp lí trong tư duy cũng như cách làm bài của học sinh Bên cạnh đó việcsửa đề hợp lí còn là động lực để các em phấn đấu, đạt được mục tiêu đặt ra Vìvây:
Đối với câu lí thuyết: Thông thường có hai loại câu hỏi là chọn phương án trả
lời đúng hoặc phương án trả lời sai (hoặc không đúng) Cả hai loại câu hỏi nàythì đều có hai cách để lựa chọn:
Một là: Học sinh phải nhớ được kiến thức, từ đó chọn phương án phù hợp Hai là: Học sinh chọn phương án trả lời phù hợp bằng cách loại trừ
Trang 16Đối với mỗi học sinh việc trả lời các câu lí thuyết là một trải nghiệm khithực hiện linh hoạt cả hai cách làm này và trong thực tế học sinh lựa chọn cáchhai làm bài nhiều hơn cách một, bởi để nhớ chi tiết tất cả các kiến thức là rất khókhăn, kể cả đối với học sinh giỏi.
Tuy nhiên, để khắc sâu kiến thức đối với học sinh, tôi yêu cầu các emphải chỉ ra được:
- Với câu trắc nghiệm chọn phương án đúng thì các phương án còn lại sai ở chỗnào? Từ đó học sinh phải chỉ ra được lí do sai ở mỗi phương án, nó có thể sai ở
một từ, một cụm từ hoặc nghĩa của câu…
Ví dụ: Câu 32 (ĐH 2014 – Mã đề 169): Khi nói về đột biến cấu trúc
nhiễm sắc thể, phát biểu nào sau đây đúng?
A Đột biến đảo đoạn làm cho gen từ nhóm liên kết này chuyển sang nhóm liên
kết khác (Đột biến đảo đoạn không làm thay đổi nhóm gen liên kết)
B Đột biến chuyển đoạn có thể không làm thay đổi số lượng và thành phần gen của một nhiễm sắc thể
C Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể chỉ xảy ra ở nhiễm sắc thể thường mà không
xảy ra ở nhiễm sắc thể giới tính (Đột biến cấu trúc NST xảy ra ở cả NST thường
và NST giới tính)
D Đột biến mất đoạn không làm thay đổi số lượng gen trên nhiễm sắc thể (Đột
biến mất đoạn làm giảm số lượng gen trên NST).
- Với câu trắc nghiệm chọn phương án trả lời sai (hoặc không đúng), thì họcsinh cũng phải nêu rõ phương án đó sai ở chỗ nào?
Ví dụ: Câu 27 (ĐH 2014 – Mã đề 169): Khi nói về quần xã sinh vật, phát biểu nào sau đây không đúng?
A Quần xã càng đa dạng về thành phần loài thì lưới thức ăn càng đơn giản
B Sinh vật trong quần xã luôn tác động lẫn nhau đồng thời tác động qua lại với môi trường
C Mức độ đa dạng của quần xã được thể hiện qua số lượng các loài và số lượng
cá thể của mỗi loài
D Phân bố cá thể trong không gian của quần xã tùy thuộc vào nhu cầu sống của từng loài
Học sinh phải chỉ ra được phương án A không đúng ở chỗ: Quần xã càng
đa dạng thành phần loài thì lưới thức ăn càng phức tạp.
Đối với câu bài tập: Tôi yêu cầu học sinh về nhà giải tất cả các câu bài tập, kẹp
vào sau tờ đề và nộp vào buổi học sau hoặc chỉ định học sinh giải trực tiếp lênbảng
Thứ 3 Nhận xét, đánh giá.
Để nhận xét về sự tiến bộ của học sinh cũng như khả năng có thể đạt được
so với mục tiêu đặt ra, tôi thiết kế bảng theo dõi điểm làm bài các đề luyện tậpnhư sau:
Trang 17Stt Họ và tên Mục tiêu
điểm thiTHPTQuốc gia
Điểm làm bài các đề ôn tập
Thứ tư Dặn dò học sinh trước kì thi THPT Quốc Gia
- Viết và tô mã đề ngay khi được phát đề
- Bình tĩnh làm bài
- Tận dụng thời gian phát đề để làm ngay bài thi
- Làm được câu nào thì khoanh đáp án ngay vào tờ đề và tô ngay vào tờ phiếutrả lời trắc nghiệm, tránh để cuối giờ thi dồn dập có thể dẫn đến tô nhầm
- Nháp ngay vào các khoảng trống của đề
- Chỉ được đối chiếu bài làm của mình với đáp án của Bộ GD – ĐT khi đã hoàntất cả đợt thi Điều này giúp các em tránh được hoang mang không cần thiết vàảnh hưởng tới tâm lí làm bài tiếp theo
2.4 Hiệu quả của SKKN
Đối với hoạt động giáo dục và chất lượng của học sinh:
Khóa học: 2011 – 2014 ở lớp G6 (lớp đối chứng - ĐC) tôi tiến hành giảngdạy bình thường, không áp dụng các giải pháp như trong sáng kiến Lớp H6,khóa học 2012 - 2015 (lớp thực nghiệm - TN) tôi đã áp dụng đầy đủ 5 giải phápnhư trong sáng kiến Bằng sự nỗ lực phấn đấu trong suốt hai khóa học của cả cô
và trò, thống kê kết quả điểm thi môn Sinh học kỳ thi THPT Quốc Gia của hailớp ở hai khóa học này như sau:
- Phổ điểm và trung bình điểm thi như sau:
Lớp Sĩsố
SốHSthimônSinhhọc
Khoảng điểm
ĐiểmTB
Trang 18Qua bảng số liệu ta nhận thấy:
+ Trung bình điểm thi đã tăng từ 5,16 lên 6,85 (lệch 1,69 điểm) đây là kết quả tác động rất tích cực đối với học sinh, đồng thời đóng góp không nhỏ vào trung bình chung điểm thi môn Sinh học của cả trường
+ Phổ điểm thi môn Sinh học của học sinh đã có sự chuyển dịch rõ rệt: Số học sinh có điểm dưới 5 giảm (từ 5 học sinh xuống còn 3 học sinh); số học sinh có điểm từ 6,5 trở lên tăng lên đáng kể (từ 11 học sinh lên 20 học sinh) và chiếm tới 58,8% số học sinh tham gia dự thi môn Sinh học của lớp, trong khi phổ điểm thi môn Sinh học của cả nước chủ yếu ở trong khoảng từ 4 đến 5 điểm
- Số học sinh đạt điểm cao: Kì thi THPT Quốc gia môn Sinh học năm 2015 cả nước có 205 học sinh có điểm từ 9 – 10, tuy nhiên lớp H6 đã có 3 học sinh đạt
từ 9 điểm trở lên Trong đó, em Nguyễn Thị Linh đạt 9,4 điểm; em Nguyễn Thị Hương đạt 9,2 điểm; đặc biệt, em Hà Sỹ Tùng xuất sắc khi đạt 9,8 điểm Bên cạnh đó thống kê điểm thi môn Sinh học từ 8 điểm trở lên cả lớp có tới 8 học sinh, chiếm 23,5%, trong khi tỉ lệ điểm thi này của cả nước là rất thấp (chỉ
chiếm khoảng 10%)
Tuy rằng, các em đều thuộc lớp có điểm đầu vào cao nhất khối, nhưng để
có được kết quả này thì không phải dễ dàng Kết quả đạt được của các em trong
kì thi THPT Quốc gia 2015, không chỉ cho thấy sự nỗ lực của chính bản thân các em, mà còn khẳng định sự hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm, sự tác động tích cực trong phương pháp ôn luyện tới kết quả thi THPT Quốc gia
Đối với hoạt động dạy học của bản thân:
Bản thân tôi được trau rồi về kiến thức ôn luyện môn Sinh học và kĩ năng làm bài trắc nghiệm, sự phối kết hợp giữa kiến thức môn học và kĩ năng làm bài chính là yếu tố quyết định đến kết quả thi THPT Quốc gia, đóng góp vào thành tích chung của môn học Kết quả mà các em đạt được ở cuối khóa học càng củng cố thêm niềm tin của bản thân tôi vào phương pháp ôn luyện đồi với các
em, tạo động lực để tôi tiếp tục hoàn thiện, nâng cao ở các khóa học tiếp theo
Đối với hoạt động dạy học của tổ chuyên môn và nhà trường:
Sáng kiến kinh nghiệm đã có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động dạy học của các đồng chí trong nhóm chuyên môn, bởi tôi thường xuyên trao đổi về kế hoạch, phương pháp, cách thức ôn luyện thi THPT Quốc gia trong các buổi sinh hoạt chuyên môn Điều này góp phần đổi mới trong cách thức sinh hoạt tổ
chuyên môn, đồng thời mang lại hiệu quả giáo dục tích cực Ngoài ra, sự hiệu quả bước đầu của đề tài cũng đã ảnh hưởng đến nhiều đồng nghiệp khác trong trường, đặc biệt với các đồng nghiệp giảng dạy môn Lí, Hóa và Ngoại ngữ, bởi những môn này hình thức đánh giá trong kì thi THPT Quốc gia cũng là thi trắc nghiệp
3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1 Kết luận
Là một giáo viên, ngay từ khi còn ngồi trên ghế giảng đường đại học tôi đã
ý thức được rằng sản phẩm lao động của bản thân không phải là một sản phẩm
Trang 19có giá trị sử dụng giới hạn, mà là con người Vì thế, bên cạnh giáo dục ý thứcđạo đức, kĩ năng sống hay định hướng phát triển năng lực… cho các em, thì đốivới một giáo viên dạy môn Sinh học, kết quả thi THPT Quốc gia là một mục
tiêu mà bất kì người giáo viên nào cũng đều trăn trở Khi vận dụng “Một số kinh nghiệm ôn luyện giúp học sinh THPT nâng cao điểm thi môn Sinh học trong kì thi THPT Quốc gia với mục đích xét tuyển đại học, cao đằng” đã gặt
hái được những kết quả khả quan và đã được chứng minh
Trên đây là những kinh nghiệm nhỏ của bản thân tôi, một giáo viên luôntâm huyết với nghề Với những kinh nghiệm này của tôi bước đầu đã mang lạihiệu quả Tôi xin ghi lại để đồng nghiệp tham khảo và góp ý xây dựng
3.2 Kiến nghị
Nhà trường, Sở Giáo dục và Đào tạo hằng năm nên tổ chức các hội thảo
về các chuyên đề như ôn luyện thi THPT Quốc gia hiệu quả, những đổi mới trong cách thức ra đề thi… để giáo viên có dịp trao đổi, học hỏi kinh nghiệm và tìm ra những giải pháp tốt, tích cực nâng cao chất lượng giảng dạy
Triệu sơn, ngày 10 tháng 5 năm 2016
Người viết
Hoàng Thị Hạnh