1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Hình thành kĩ năng vận dụng kiến thức thực tiễn cho học sinh qua hệ thống câu hỏi mang hơi thở cuộc sống trong chương i thành phần hóa học của tế bào sinh học 10 cơ bản

21 624 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 246 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng thực tế giảng dạy ở các trường phổ thônghiện nay, hầu hết các giáo viên chỉ chú trọng việc cung cấp kiến thức lí thuyết,rèn luyện kĩ năng làm các bài thi, bài kiểm tra bằng các câu

Trang 1

MỤC LỤC Trang

1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Lí do chọn đề tài 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu 2

2 NỘI DUNG 3

2.1 Cơ sở lí luận 3

2.1.1 Thế nào là hình thành kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh trong dạy học môn Sinh học ở bậc THPT 3

2.1.2 Một số lưu ý khi rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh trong dạy học Sinh học 3

2.2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu 4

2.3 Các giải pháp thực hiện 5

2.3.1 Hướng dẫn chung 5

2.3.1.1 Đặt tình huống vào bài mới 5

2.3.1.2 Lồng ghép tích hợp kiến thức có liên quan đến thực tiễn đời sống về môi trường vào bài dạy 5

2.3.1.3 Liên hệ kiến thức có liên quan đến thực tiễn đời sống trong bài dạy 6

2.3.2 Hệ thống câu hỏi mang hơi thở cuộc sống để hình thành kĩ năng vận dụng kiến thức thực tiễn cho học sinh trong dạy học chương I: Thành phần hóa học của tế bào - Sinh học 10 cơ bản 6

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 16

2.4.1 Đối tượng thực nghiệm 16

2.4.2 Kết quả thực nghiệm sư phạm: 16

3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 18

3.1 Kết luận 18

3.2 Kiến nghị 18

TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

Trang 2

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài

Sinh thời Bác Hồ kính yêu đã từng nói: “ Học phải đi đôi với hành” hay “ Lýluận phải gắn liền với thực tiễn” nghĩa là học phải suy nghĩ, phải liên hệ vớithực tế, phải có thí nghiệm và thực hành Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04tháng 11 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mớicăn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiệnđại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hộinhập quốc tế cũng đã xác định mục tiêu giáo dục phổ thông: "Đối với giáo dụcphổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lựccông dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho họcsinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng,truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thựchành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềmvui, hứng thú học tập cho học sinh”

Như vậy muốn đổi mới giáo dục thì phải đổi mới cách dạy và cách học,người giáo viên cần coi trọng việc hình thành và phát triển tiềm lực trí tuệ chohọc sinh, đặc biệt là năng lực tư duy, năng lực hành động Cần tạo điều kiện chohọc sinh có ý thức và biết vận dụng tổng hợp kiến thức vào cuộc sống thực tiễn,đồng thời chú ý rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo; chú ý các thaotác tư duy cơ bản như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, chống thóiquen áp đặt, truyền thụ kiến thức theo một chiều, phải tạo cơ hội cho học sinhphát hiện kiến thức và tiếp cận kiến thức để giải quyết vấn đề một cách linh hoạt

và sáng tạo

Là một giáo viên giảng dạy môn Sinh học ở trường THPT luôn hiểu rõ mônSinh học là bộ môn khoa học thực nghiệm, có nhiều nội dung kiến thức gắn liềnvới thực tiễn đời sống Vì vậy, việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực nhằmphát triển tư duy sáng tạo cho học sinh là vô cùng quan trọng, đặc biệt là kĩ năngvận dụng kiến thức sinh học để giải quyết các vấn đề thực tiễn là rất thiết thực

và cần phải đặc biệt quan tâm Nhưng thực tế giảng dạy ở các trường phổ thônghiện nay, hầu hết các giáo viên chỉ chú trọng việc cung cấp kiến thức lí thuyết,rèn luyện kĩ năng làm các bài thi, bài kiểm tra bằng các câu hỏi lí thuyết, trắcnghiệm còn việc rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức sinh học vào giải quyếtcác vấn đề thực tiễn từ đó làm tăng hứng thú học tập của học sinh với môn họcvẫn chưa được chú trọng Vì vậy ở các tiết học tạo ra sự khô khan, nhàm cháncho học sinh, các em ngày càng mất dần hứng thú với bộ môn, coi đây chỉ làmôn phụ, không học hoặc học đối phó dẫn đến kết quả học tập không cao, nănglực vận dụng kiến thức vào thực tiễn hạn chế Trong khi thế kỉ XXI, thế kỉ đượccoi là bùng nổ công nghệ thông tin nhưng cách mạng sinh học vẫn đang tiếp tục,dân số và môi trường là vấn đề nhân loại đang quan tâm, môn sinh lại đóng vaitrò quan trọng về các vấn đề đó Trước bối cảnh đó, đổi mới phương pháp dạyhọc sinh học là một yêu cầu cấp thiết để giúp người dạy và người học không

Trang 3

dừng lại ở việc nắm vững lí thuyết mà phải biết vận dụng kiến thức vào đờisống.

Qua những năm giảng dạy cùng với sự nỗ lực tìm tòi, thay đổi phương phápdạy học phù hợp với đặc điểm học sinh và trường sở tại, tôi phát hiện ra sự hiệuquả của phương pháp dạy học gắn với thực tiễn cuộc sống, mang hơi thở củacuộc sống vào tiết học làm cho học sinh hứng thú học tập hơn, có khả năng ápdụng những kiến thức đã học trên ghế nhà trường vào cuộc sống hàng ngày.Vìvậy, tôi chọn đề tài:

“Hình thành kĩ năng vận dụng kiến thức thực tiễn cho học sinh qua hệ thống câu hỏi mang hơi thở cuộc sống trong chương I: Thành phần hóa học của tế bào - Sinh học 10 cơ bản” làm sáng kiến kinh nghiệm

1.2 Mục đích nghiên cứu

Hình thành kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh nhằm

giáo dục ý thức và tăng hứng thú học tập bộ môn cho học sinh qua hệ thống câuhỏi mang hơi thở cuộc sống vào dạy học các bài thuộc chương I Thành phầnhóa học của tế bào – Phần II Sinh học tế bào - Sinh học 10 trong chương trìnhTHPT Từ đó, góp phần nâng cao hiệu quả dạy - học của giáo viên và học sinh,nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại trà

Đưa ra để các đồng nghiệp cùng tham khảo, để cùng nhau xây dựng hệ thốngcác phương pháp dạy học hiệu quả cụ thể với từng phần kiến thức, nâng cao thếmạnh của môn Sinh học

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

Đề tài nghiên cứu về vấn đề sử dụng kiến thức bộ môn gắn liền với thực tiễncuộc sống, mang hơi thở cuộc sống để dạy học Sinh học theo hướng dạy họctích cực trong phạm vi dạy học các bài dạy về “Sinh học tế bào” thuộc chương I.Thành phần học học của tế bào - Sinh học 10 cơ bản ở trường THPT

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài, tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như:

- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích lý thuyết, khái quát, tổng hợp cáckinh nghiệm được rút ra từ việc trao đổi, học hỏi ở các tiết dự giờ của đồngnghiệp

- Phương pháp điều tra sư phạm

- Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp xử lí số liệu thu được từ đó khẳng định đề tài

Trang 4

2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận

Để đáp ứng được xu thế phát triển của xã hội trong thời đại bùng nổ côngnghệ thông tin, vai trò của giáo dục là phải tạo nên những con người khôngnhững giỏi lý thuyết mà còn phải biết áp dụng lý thuyết một cách thành thạo vàocuộc sống hàng ngày Trong giáo dục nói chung và dạy học môn Sinh học nóiriêng, muốn làm được điều đó không thể không nhắc đến vai trò của phươngpháp “Dạy học Sinh học gắn với thực tế bộ môn”, mang hơi thở cuộc sống vàobài học, qua đó hình thành cho học sinh các kĩ năng vận dụng kiến thức vào thựctiễn cuộc sống Vậy:

2.1.1 Thế nào là hình thành kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh trong dạy học môn Sinh học ở bậc THPT

Vận dụng kiến thức vào thực tiễn bao gồm cả việc vận dụng kiến thức đã có

để giải quyết các vấn đề thuộc về nhận thức và việc vận dụng kiến thức vào thựctiễn sản xuất trong đời sống, sinh hoạt hàng ngày như làm bài thực hành, làm thínghiệm, áp dụng trong chăn nuôi, trồng trọt, giải thích các hiện tượng tự nhiên,các vấn đề sinh học trong nông nghiệp

Kĩ năng vận dụng kiến thức thúc đẩy việc gắn kiến thức lý thuyết và thựchành trong nhà trường với thực tiễn đời sống, đẩy mạnh thực hiện dạy học theophương châm "học đi đôi với hành"

Như vậy, kĩ năng vận dụng kiến thức là năng lực hay khả năng của chủ thểvận dụng những kiến thức đã thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó áp dụngvào thực tiễn

2.1.2 Một số lưu ý khi rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh trong dạy học Sinh học

Để thực hiện nguyên tắc kết hợp lí luận với thực tiễn trong việc dạy họcSinh học, cần:

- Đảm bảo cho học sinh nắm vững kiến thức Sinh học để có thể vận dụng chúngvào thực tiễn

- Chú trọng nêu các ứng dụng của Sinh học vào thực tiễn

- Chú trọng đến các kiến thức Sinh học có nhiều ứng dụng trong thực tiễn

- Chú trọng rèn luyện cho học sinh có những kĩ năng sinh học vững chắc

- Chú trọng công tác thực hành sinh học trong học chính khóa cũng như ngoạikhóa

Đồng thời để dạy theo cách tích hợp như trên, người giáo viên phải biết chọnnhững vấn đề quan trọng, mấu chốt nhất của chương trình để giảng dạy cònphần kiến thức dễ hiểu nên hướng dẫn học sinh về nhà đọc sách giáo khoa hoặccác tài liệu tham khảo Ngoài ra giáo viên phải chọn lựa các hiện tượng thực tiễnphù hợp với nội dung bài mới tăng hứng thú, say mê học tập và tìm hiểu bộmôn của học sinh

Nếu người giáo viên kết hợp tốt phương pháp dạy học tích hợp sử dụng cáchiện tượng, ứng dụng thực tiễn, ngoài việc giúp học sinh chủ động, tích cực say

mê học tập còn lồng ghép được các nội dung khác nhau như: bảo vệ môi trường,

Trang 5

chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người thông qua các kiến thức thực tiễn đó.Đây cũng là hướng đi mà ngành giáo dục nước ta đang đẩy mạnh trong các nămgần đây.

2.2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu

Chương trình Sinh học trung học phổ thông ở nước ta hiện nay bao gồmnhiều phần khác nhau như: Di truyền học, tế bào học, sinh học vi sinh vật …Mỗi phần được thể hiện bằng nhiều đơn vị kiến thức khác nhau, tương ứng vớicác cách tiếp cận kiến thức khác nhau Những tưởng, với một khối lượng kiếnthức đồ sộ như vậy, thực tế cuộc sống của các em sẽ vô cùng phong phú, các emhoàn toàn có khả năng làm chủ được kiến thức của mình, việc vận dụng kiếnthức đã học vào đời sống thực tế ở chính gia đình của mình, hoặc giải thíchnhững hiện tượng xảy ra hàng ngày xung quanh các em chỉ là “vấn đề đơngiản” Nhưng điều đó đã không diễn ra như những gì chúng ta mong đợi Bởi vì,trên thực tế sau khi học xong chương trình sinh học 10, nhiều học sinh vẫn cònngỡ ngàng không biết tại sao trong khẩu phần ăn hàng ngày phải đa dạng cácmón ăn mà không ăn liên tục một món mặc dù món này rất bổ dưỡng? Thực tếcho thấy nhiều học sinh có thể mô tả một cách đầy đủ và chính xác về cấu trúcaxit nucleotit, cấu trúc protein Thế nhưng, với những câu hỏi đại loại như: Tạisao khi cho rau vào ngăn đá tủ lạnh, khi lấy ra ngoài thì rau lại bị nhàu nát?Hoặc: Tại sao những người mắc bệnh tiểu đường lại không nên ăn các sản phẩmgiàu tinh bột? cũng thực sự làm cho các em lúng túng mà đúng ra sau khi họcxong chương trình sinh học 10 các em phải giải thích được tất cả những vấn đềđó

Trao đổi vấn đề này với nhiều đồng nghiệp, hầu như họ cũng có nhận địnhnhư vậy Trăn trở với thực trạng đáng buồn trên, tôi đã thử đi tìm đâu là nhữngnguyên nhân cơ bản của vấn đề và những nguyên nhân ấy bộc lộ dưới nhữnghình thức nào?

Sau khi tìm hiểu tôi thấy rằng, nguyên nhân cơ bản phải kể đến, là sự quátải của chương trình sách giáo khoa hiện nay Trong khoảng thời gian 45 phútcủa một tiết học, với nội dung kiến thức tương đối nhiều, đối với nhiều bài họctheo phân phối chương trình quy định việc làm cho học sinh hiểu được kiến thứcbài học thôi cũng đã là khó khăn, vì thế giáo viên không còn đủ thời gian để liên

hệ kiến thức mà học sinh vừa lĩnh hội được với thực tế đời sống, hoặc nếu cóliên hệ được thì cũng chỉ thể hiện ở phần củng cố kiến thức ở cuối tiết học màthôi

Nguyên nhân thứ hai là việc giảng dạy kiến thức cho học sinh nói chung vàkiến thức sinh học nói riêng ở nhiều trường vẫn còn tiến hành theo lối “thôngbáo - tái hiện” Do những khó khăn nhất định về kinh phí, cơ sở vật chất, thiết bị

mà nhiều trường trung học phổ thông đã chưa khuyến khích được giáo viên đổimới phương pháp dạy học, không tạo được cho họ những điều kiện tốt để có thể

sử dụng các hình thức dạy học tiên tiến (sử dụng các phương tiện dạy học nhưtranh ảnh tự làm, tự sưu tầm, máy tính, thực hiện các tiết học bằng bài giảng

Trang 6

điện tử, dã ngoại ) và do đó lối “dạy chay” vẫn là cách dạy học ngự trị ở nhiềutrường trung học phổ thông hiện nay.

Nguyên nhân thứ ba thuộc về chủ quan của mỗi giáo viên đứng lớp, nhiềugiáo viên chưa có sự chuẩn bị tốt nhất cho bài giảng, giáo án còn thiên về cungcấp kiến thức giáo khoa một cách thuần túy, chưa coi trọng việc soạn và sử dụngbài giảng theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, điều nàylàm cho học sinh khá thụ động trong việc lĩnh hội và vận dụng kiến thức Đồngthời cũng phải thừa nhận rằng, nhiều địa phương hiện nay còn thiếu các tài liệuliên quan đến câu hỏi thực tế, thiếu các phương tiện nghe nhìn, thiếu các thôngtin dưới dạng băng đĩa hình, thiếu các tài liệu lí luận về đổi mới phương phápdạy học, nhất là các trường ở vùng nông thôn và miền núi Điều đó gây không ítkhó khăn cho giáo viên khi xây dựng bài giảng theo ý muốn của mình

Nguyên nhân thứ tư không thể không nhắc tới là cách kiểm tra đánh giá hiệnnay Nội dung các bài thi và kiểm tra ở nhiều trường phổ thông chủ yếu tậptrung vào nội dung kiến thức mà chưa có những câu hỏi mang tính vận dụngkiến thức vào thực tiễn, đây chính là một nguyên nhân khá rõ để giải thích chothực trạng nêu trên Mặt khác học sinh THPT hiện nay học tập mang tính thựcdụng, tức là các em chỉ tập trung học các môn phục vụ cho khối thi Đại học -cao đẳng, trong khi đó số lượng học sinh ở các trường phổ thông học khối B lạirất ít Vì vậy hầu hết học sinh xem môn Sinh học như là “môn phụ” nên khôngchịu học hoặc học một cách đối phó

Nguyên nhân thứ năm phải kể đến đó là: một bộ phận giáo viên không muốnđầu tư cho môn Sinh học 10 vì nội dung chương trình hầu như không có hoặc

có rất ít trong các đề thi học sinh giỏi đặc biệt là kì thi THPT quốc gia hiện nay Giải quyết thực trạng trên như thế nào? đó là một vấn đề khó Như đã nêu,tôi chỉ xin đưa ra một số giải pháp mang tính đơn lẻ, mong rằng những giải phápnày có thể giúp ích cho chúng ta cải thiện được ít nhiều thực trạng trên, nhằmgiúp học sinh hứng thú học tập qua hệ thống câu hỏi mang hơi thở cuộc sốngtrong dạy học các bài thuộc chương I Thành phần hóa học của tế bào - Sinh học

10 cơ bản

2.3 Các giải pháp thực hiện

2.3.1 Hướng dẫn chung

Trước hết, giáo viên cần phải xác định rõ các hình thức dạy học mang hơi

thở cuộc sống từ đó hình thành kĩ năng vận dụng kiến thức thực tiễn cho họcsinh, gồm một số hình thức sau:

2.3.1.1 Đặt tình huống vào bài mới.

Tiết dạy có gây sự chú ý của học sinh hay không nhờ vào người hướng dẫn(giáo viên) rất nhiều Trong đó phần mở đầu đặc biệt quan trọng, nếu ta biết đặt

ra một tình huống thực tiễn hoặc một tình huống giả định yêu cầu học sinh cùngtìm hiểu, giải thích qua bài học sẽ cuốn hút được sự chú ý của học sinh trong tiếtdạy

2.3.1.2 Lồng ghép tích hợp kiến thức có liên quan đến thực tiễn đời sống về môi trường vào bài dạy.

Trang 7

Vấn đề môi trường: nước, không khí, đất, đang được con người nhắc đếnrất nhiều Trong cuộc sống hằng ngày các hiện tượng thường xuyên bất gặp như:nước thải của một ao cá, chuồng heo, chuồng vịt ; khói bụi của các nhà máyxay lúa, các lò gạch, các cánh đồng sau thu hoạch, có liên quan gì đến nhữngdiễn biến bất thường của thời tiết hiện nay không Giáo viên dạy học bộ mônsinh có thể lồng ghép các hiện tượng đó vào phần sản xuất các sản phẩm sinhhọc, hay ứng dụng của một số vi sinh vật Ngoài việc gây sự chú ý của học sinhtrong tiết dạy còn giáo dục ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường cho từng họcsinh Tùy vào thực trạng của từng địa phương mà ta lấy các hiện tượng cho cụthể và gần gủi với các em.

2.3.1.3 Liên hệ kiến thức có liên quan đến thực tiễn đời sống trong bài dạy.

Khi học xong vấn đề gì học sinh thấy có ứng dụng thực tiễn cho cuộc sốngthì các em sẽ chú ý hơn, tìm tòi, chủ động tư duy để tìm hiểu, để nhớ hơn Do đómỗi bài học giáo viên đưa ra được một số ứng dụng thực tiễn sẽ lôi cuốn được

sự chú ý của học sinh Giáo viên cũng cần chú ý khi sử dụng các hiện tượng sinhhọc thực tiễn nên khéo léo trong giải thích vấn đề, vì cấp độ bộ môn sinh ởTHPT nhiều khi chưa tìm hiểu sâu quá trình diễn biến của sự việc hay hiệntượng Do đó giáo viên phải biết lựa chọn cách giải thích cho phù hợp, nếu họcsinh tỏ ra tìm tòi hơn chúng ta có thể khích lệ, mở ra hướng giáo dục vai tròquan trọng của bộ môn mà các em sẽ được tìm hiểu ở các cấp cao hơn

Lưu ý: Không phải bài nào cũng có thể áp dụng tất cả các hình thức nêu trên mà phải tuỳ từng bài, từng nội dung mà giáo viên có thể sử dụng từng hình thức để từ đó có thể đạt được hiệu quả cao nhất

Đồng thời để hướng tới được mục tiêu cao nhất là dạy học hình thành cho học sinh kĩ năng vận dụng kiến thức bài học vào thực tiễn cuộc sống thì giáo viên phải xác định rõ mục tiêu bài học, phần nào thuộc kiến thức trọng tâm thì xây dựng cách dạy, cách học phù hợp (ví dụ: thảo luận nhóm, hướng dẫn về nhà

tự học ), để rút ngắn thời gian, dành thời gian cho phần kiến thức thực tiễn từ

đó làm tăng hứng thú học tập của học sinh với môn học.

Dưới đây là một số câu hỏi mang hơi thở cuộc sống, tôi xin đưa ra để các bạn đồng nghiệp cùng tham khảo từ đó có thể áp dụng để dạy học chương I: Thành phần hóa học của tế bào - Sinh học 10 cơ bản nhằm hình thành kĩ năng

vận dụng kiến thức thực tiễn cho học sinh Vì thời lượng của một tiết học chỉ có

45 phút nên trong quá trình sử dụng giáo viên phải tùy đối tượng học sinh để áp dụng cho phù hợp, có những câu hỏi không sử dụng dạy trên lớp thì có thể giao bài tập về nhà cho các e tìm hiểu.

2.3.2 Hệ thống câu hỏi mang hơi thở cuộc sống để hình thành kĩ năng vận dụng kiến thức thực tiễn cho học sinh trong dạy học chương I: Thành phần hóa học của tế bào - Sinh học 10 cơ bản

Tiết 4 – Bài 3: Nước và vai trò của nước

Chú ý: Đối với bài này, không phải là một bài nặng về kiến thức lý thuyết, giáo

viên có thể lựa chọn cách tổ chức hoạt động dạy - học, song song giữa việc tìm hiểu kiến thức lý thuyết đồng thời lồng ghép kiến thức thực tế mang hơi thở cuộc

Trang 8

sống vào bài học nhằm làm tăng hứng thú học tập cho học sinh bằng hệ thống câu hỏi mang hơi thở cuộc sống sau đây:

Câu 1: Sinh vật nói chung và cơ thể người nói riêng được cấu tạo từ những

nguyên tố nào?

Giải thích: Trong tất cả các nguyên tố hóa học có trong tự nhiên thì chỉ có

khoảng hơn 20 nguyên tố cấu tạo nên tế bào của sinh vật nói chung và cơ thểngười nói riêng Trong đó nhóm nguyên tố C, H, O, N là nhóm chính và cacbon

là nguyên tố quan trọng nhất

Áp dụng: Có thể sử dụng cho phần đặt vấn đề vào bài mới “ Các nguyên tố hóa

học và nước” nhằm kích thích sự tò mò của học sinh khi muốn tìm hiểu về cácnguyên tố hóa học cấu tạo nên cơ thể mình, từ đó lôi cuốn các em vào tìm hiểunội dung của bài học

Câu 2: Tại sao trong cơ thể người hàm lượng nguyên tố iốt, sắt chiếm khối

lượng rất ít nhưng nếu thiếu chúng sẽ gây hậu quả rất nghiêm trọng?

Giải thích: Vì cả iốt, sắt đều là những nguyên tố vi lượng có hàm lượng rất nhỏ

trong tế bào nhưng có vai trò đặc biệt quan trọng: Tham gia vào các quá trìnhsống cơ bản của tế bào, cấu trúc các enzim, hoocmon hay vitamin, cụ thể: + Iốt là vi chất quan trọng để tuyến giáp tổng hợp hormon tiroxin điều chỉnh quátrình phát triển của cơ thể, thiếu iốt sẽ làm cơ thể phát triển không bình thườnggây một số bệnh: bướu cổ, trí tuệ chậm phát triển ở trẻ em

+ Sắt là một trong những nguyên tố vi lượng tham gia cấu tạo nên hemoglobin

là chất có mặt trong tế bào hồng cầu ở người, tham gia vào quá trình vận chuyểnôxi trong máu Nếu thiếu sắt, sự vận chuyển oxy đến các mô cơ thể cũng như sự

dự trữ oxy ở mô cơ vân sẽ giảm sút, làm cho cơ thể hoạt động không hiệu quả,mau mệt mỏi, kém tập trung, trí nhớ kém, hay quên

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi cho phần liên hệ thực tế ở mục I Các

nguyên tố hóa học, hoặc phần củng cố cuối bài từ đó giáo dục cho học sinh cách

ăn uống khoa học để bảo vệ sức khỏe

Câu 3: Tại sao phải bón phân hợp lí cho cây trồng?

Giải thích: Vì cây trồng muốn sinh trưởng phát triển tốt cho năng suất cao thì

phải được cung cấp đầy đủ các nguyên tố vi lượng và đa lượng Mà nguồn cácnguyên tố này được bổ sung phần lớn là từ phân bón, nhưng nếu bón quá nhiềuhoặc quá ít đều ảnh hưởng không tốt đến sự sinh trưởng của cây Vì vậy ta phảibón một cách hợp lí

Áp dụng: Giáo viên sử dụng để dạy phần liên hệ thực tế mục: Các nguyên tố

hóa học trong bài “ Các nguyên tố hóa học và nước” từ đó liên hệ đến việc nângcao năng suất cây trồng trong trồng trọt

Câu 4: Tại sao ở một số vùng trồng táo, người ta lại đóng các đinh bằng kẽm

vào thân cây?

Giải thích: Vì kẽm là một nguyên tố vi lượng rất cần cho sự sinh trưởng của

cây, một số vùng đất bị thiếu kẽm nên trong quá trình trồng táo người ta đóngđinh kẽm vào cây táo để kẽm từ đinh sẽ khuếch tán từ từ vào cây bổ sung lượngkẽm bị thiếu hụt từ đất giúp cây sinh trưởng bình thường

Trang 9

Áp dụng: Giáo viên sử dụng để dạy phần liên hệ thực tế mục: Các nguyên tố

hóa học trong bài “ Các nguyên tố hóa học và nước” từ đó liên hệ đến việc nângcao năng suất cây trồng trong trồng trọt

Câu 5: Tại sao khi tìm kiếm sự sống ở các hành tinh trong vũ trụ, các nhà khoa

học trước hết lại tìm xem ở đó có nước hay không?

Giải thích: Vì nước là thành phần chủ yếu của tế bào, không có nước tế bào sẽ

chết Vì thế không có nước sẽ không có sự sống

Áp dụng: Giáo viên sử dụng cho phần chuyển tiếp từ mục I sang mục II hoặc

phần liên hệ thực tế của bài “ Các nguyên tố hóa học và nước” từ đó giáo dục ýthức bảo vệ môi trường đặc biệt là bảo vệ nguồn tài nguyên nước cho học sinh

Câu 6: Nếu trong vài ngày cơ thể không được uống nước thì điều gì sẽ xảy ra? Giải thích: Mọi sinh vật sống trên Trái Đất đều cần nước để tồn tại Nướcchiếm khoảng 65% khối lượng của cơ thể người trưởng thành và nó là chất dung

môi "chung" mang các dưỡng chất và hoóc-môn đi đến mọi cơ quan nội tạng,

điều hòa nhiệt độ cơ thể, bôi trơn các khớp gối Nếu trong vài ngày chúng takhông uống nước thì cơ thể sẽ có biểu hiện: đầu tiên là khô miệng, sau đó nướctiểu sẽ tối màu lại và mùi nặng hơn vì cơ thể đã mất khả năng giữ nước Thực tế,lúc thiếu nước thì não trở nên teo lại, nếu không được cung cấp nước trong 1-2ngày, bạn sẽ dừng tiểu, gặp khó khăn khi nuốt, các cơ bắp bị co thắt và buồn ói.Nếu thiếu nước lâu ngày sẽ dẫn đến tử vong, vì vậy khi gặp những dấu hiệu

"khát nước" trên, hãy bổ sung nước cho cơ thể càng sớm càng tốt

Áp dụng: Giáo viên sử dụng cho phần củng cố cuối bài của bài “ Các nguyên

tố hóa học và nước” từ đó giáo dục thói quen uống nước một cách khoa học chohọc sinh để bảo vệ sức khỏe đồng thời giúp học sinh có ý thức bảo vệ tài nguyênthiên nhiên nước

Câu 7: Tại sao ở người khi bị sốt cao lâu ngày hay bị tiêu chảy, cơ thể bị mất

nước phải bù lại lượng nước đã mất bằng cách uống ozezon?

Giải thích: Vì mọi sinh vật sống trên Trái Đất đều cần nước để tồn tại, nước là

dung môi mang các dưỡng chất và hooc môn đi đến mọi cơ quan nội tạng, điềuhòa nhiệt độ cơ thể, bôi trơn các khớp gối Người bị sốt cao lâu ngày hay bịtiêu chảy sẽ làm cơ thể bị mất nước và một số chất điện giải làm cho mọi hoạtđộng sống của cơ thể diễn ra không bình thường, ozeron có tác dụng giúp cơ thể

bù lại lượng nước và những chất điện giải đã mất, điều hòa hoạt động của cơthể

Áp dụng: Giáo viên sử dụng cho phần củng cố cuối bài của bài “ Các nguyên

tố hóa học và nước” từ đó giáo dục ý thức bảo vệ sức khỏe cho học sinh

Câu 8: Tại sao không nên bỏ rau quả tươi vào ngăn đá tủ lạnh?

Giải thích: Vì khi bỏ rau quả tươi vào ngăn đá tủ lạnh sẽ làm cho nước trong tế

bào của rau quả bị đông thành đá, ở trạng thái rắn khoảng cách của các phân tửnước tăng lên làm thể tích tế bào tăng từ đó phá vỡ thành tế bào làm cho rau quả

bị mềm nhũn giảm chất lượng

Áp dụng: Sử dụng cho dạy mục “Nước và vai trò của nước trong tế bào”, ở bài:

“Các nguyên tố hóa học và nước” hoặc phần liên hệ thực tế cuối bài cho học

Trang 10

sinh, từ đó giáo dục cho học sinh cách bảo quản rau quả trong cuộc sống hàngngày.

Câu 9: Tại sao lá rau để vào ngăn đá tủ lạnh, khi đã ra ngoài lại rất nhanh bị hỏng

trong khi đó lá của một số cây sống ở vùng băng tuyết lại vẫn xanh?

Giải thích:

Lá rau bỏ trong ngăn đá tủ lạnh khi lấy ra ngoài rất nhanh bị hỏng vì: khi bỏ

lá rau vào ngăn đá tủ lạnh sẽ làm cho nước trong tế bào của lá bị đông thành đá,

ở trạng thái rắn khoảng cách của các phân tử nước tăng lên làm thể tích tế bàotăng từ đó phá vỡ thành tế bào làm cho lá rau bị mềm nhũn giảm chất lượng khilấy ra ngoài

Trong khi đó, lá của một số cây sống trong vùng băng tuyết vẫn xanh vì:Những cây chịu rét được duy trì được tính ổn định của màng, có tỷ lệ các axitbéo không no, tế bào chất có khả năng giữ nước cao, tổng hợp các chất thẩmthấu như: axit amin prolin, saccarozơ và đặc biệt sản sinh ra một loại proteinchống lại sự đóng băng nước trong tế bào lá khi nhiệt độ xuống thấp

Áp dụng: Đây là một câu hỏi liên hệ thực tế rất hay, dựa vào tính chất của nước

và kết hợp với kiến thức vật lý đã học, học sinh có thể giải thích ý đầu vì vậygiáo viên có thể sử dụng cho dạy mục “Nước và vai trò của nước trong tế bào”,

ở bài: “Các nguyên tố hóa học và nước” hoặc phần liên hệ thực tế cuối bài chohọc sinh, từ đó giáo dục cho học sinh cách bảo quản rau quả trong cuộc sốnghàng ngày Tuy nhiên với ý thứ hai là một câu hỏi nâng cao rất khó với học sinh

vì vậy giáo viên có thể hỏi ở một số lớp có học sinh giỏi và gợi ý cho học sinhtrả lời, với những lớp học lực bình thường có thể yêu cầu các em về nhà tìm hiểu

thêm

Câu 10: Tại sao khi nghe dự báo có mưa tuyết sắp đến, nhiều nông dân tưới

nước lên cây trồng để bảo vệ cho cây?

Giải thích: Khi tưới nước lên cây tạo lớp nước bao phủ trên bề mặt tế bào của

Áp dụng: Giáo viên sử dụng để dạy phần liên hệ thực tế mục: “Nước và vai trò

của nước” trong bài “ Các nguyên tố hóa học và nước” từ đó liên hệ đến việcbảo vệ cây trồng chống lại các điều kiện bất lợi của thời tiết, từ đó nâng caonăng suất cây trồng trong trồng trọt

Câu 11: Tại sao khi cơ thể đang ra mồ hôi, nếu có gió thổi sẽ có cảm giác mát

hơn?

Ngày đăng: 17/10/2017, 11:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w