7 Thế giới động vật8 Cấu tạo cơ thể người 9 Di truyền, biến dị, cơ thể và môi trường 10 Sinh học tế bào và vi sinh vật 11 Sinh học cơ thể 12 Biến dị, di truyền, chọn giống, tiến hóa, sin
Trang 13 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 8
Trang 27 Thế giới động vật
8 Cấu tạo cơ thể người
9 Di truyền, biến dị, cơ thể và môi trường
10 Sinh học tế bào và vi sinh vật
11 Sinh học cơ thể
12 Biến dị, di truyền, chọn giống, tiến hóa, sinh thái học
Nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản được đề cập tới trong chương trìnhlớp 8 (Chương XI: Sinh sản) và lớp 11 (Chương III: Sinh trưởng và phát triển;Chương IV: Sinh sản) tuy nhiên nội dung chưa nhiều, chủ yếu nói về cơ chế sinhhọc sinh giao tử, thụ thai và các biện pháp tránh thai Trong sách giáo khoa chưa
đi vào tâm lý học của lứa tuổi nên việc giáo dục này trong 1 tiết có nhiều hạnchế Chủ yếu chỉ nói rằng có nhiều thay đổi mạnh mẽ về thể chất và tâm lý chứchưa đi vào cụ thể về diễn biến, hành vi và cách điều chỉnh bản thân cho phùhợp với ngoại cảnh và được an toàn
Nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản chỉ được giáo dục tích hợp ở một số
bộ môn như Hóa, Sinh, Văn, Địa, GDCD và hoạt động ngoài giờ lên lớp, khôngphải là môn học chính thức Các tài liệu về sức khỏe sinh sản chưa nhiều vàchưa đi vào từng đối tượng cụ thể là học sinh theo từng cấp, từng lớp học Nộidung các tài liệu còn dài nên học sinh khó có thể khai thác những kiến thức cơbản liên quan đến bản thân mình
Hiện nay chưa có tài liệu nào bàn sâu về vấn đề này cho học THPT, đặcbiệt là học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng cao biên giới Các đồngnghiệp, các nhà trường còn nhiều lúng túng trong việc tiếp cận, triển khai vấn đềnày nên hiệu quả giáo dục sức khỏe sinh sản còn nhiều hạn chế
Một số giáo viên, các tổ chức cứ nói rằng học sinh thiếu kỹ năng sống khihọc sinh có những sai phạm hoặc hạn chế Tuy nhiên không phải các giáo viênđều hiểu thế nào là kỹ năng sống, vì vậy có thể dẫn đến nói chung chung màkhông đưa ra được cách thức thực hiện cụ thể để giải quyết vấn đề được thíchhợp và kịp thời
Trường THPT Quan Sơn là một trường nằm trên vùng núi cao biên giới,địa hình phúc tạp, hiểm trở, dân cư thưa thớt Học sinh chủ yếu là người dân tộcThái, một số là dân tộc Kinh, Mường và số ít là dân tộc H’Mông Mặt bằngchung dân trí thấp, đầu vào lớp 10 cũng rất thấp Học sinh đi học đến trườngđường xa, cách trở Đa số học sinh phải trọ lại gần trường hoặc ở lại khu bán trúnhà trường Cuộc sống sinh hoạt đời thường gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn vàkhông ít các vấn đề phức tạp, nhạy cảm nảy sinh mà tâm lý học sinh khó kiểmsoát và điều chỉnh cho phù hợp, an toàn
Xa gia đình, không người kiểm soát, hướng dẫn cho những kỹ năng sốngđời thường, trong đó có vấn đề sức khỏe sinh sản nên học sinh có nhiều lúngtúng trong xử lý các tình huống Xung quanh có nhiều cám dỗ, mối nguy hiểmdình dập mà học sinh có thể không lường hết được để đối phó
Trong thời đại cuộc sống công nghệ, đặc biệt là điện thoại thông minh,facebook tạo nhiều tình cảm ảo mà học sinh không đủ bản lĩnh, tỉnh táo và hiểu
Trang 3biết để kiểm soát bản thân, xử lý tình huống có thể dẫn đến nhiều hậu quảnghiêm trọng, không an toàn cho bản thân.
Hằng năm có nhiều học sinh bỏ học do kinh tế khó khăn, học yếu, đi lấy
vợ, lấy chồng… và không ít học sinh mang thai, đẻ con ngay khi còn chưa tốtnghiệp THPT khiến cho việc học tập gặp nhiều khó khăn Đặc biệt một số họcsinh còn có biểu hiện quan hệ tình cảm quá giới hạn, một số còn có biểu hiệnviệc đi mua bán dâm Đã từng có học sinh trở thành nạn nhân của buôn bánngười
Nhà trường đã có một số lần tổ chức giáo dục sức khỏe sinh sản cho họcsinh, đặc biệt là học sinh nữ Tuy nhiên hiệu quả vẫn chưa cao, chuyển biếntrong nhận thức và hành động của học sinh chưa rõ rệt Tình hình về sức khỏesinh sản của học sinh có nhiều vấn đề đáng lo ngại, mang tính cấp thiết:
2 Bệnh đường tình dục Có
3 Mang thai sớm Có, thậm chí lớp 10
Bản thân tôi đã nhiều đã quan tâm đến vấn đề này và đã thử nghiệm nhiềuphương cách khác nhau để giải quyết và thấy từng bước có hiệu quả và dễ triểnkhai, mở rộng quy mô, phạm vi thực hiện góp phần nâng cao kỹ năng sống tựchăm sóc sức khỏe sinh sản bản thân các em Việc giáo dục này là rất cần thiết
và càng sớm càng tốt để các em có được an toàn hơn Nên tôi đã chú trọng giáo
dục ngay từ lớp 10 với phương châm “phòng hơn chống”.
Chính vì các lý do trên nên tôi đã đúc rút thành sáng kiến kinh nghiệm với
đề tài:
“Giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh lớp 10 trường THPT Quan Sơn giúp các em nâng cao kỹ năng
tự chăm sóc sức khỏe sinh sản bản thân”
Trong khuôn khổ đề tài của một sáng kiến kinh nghiệm tôi chỉ trình bàymột số kinh nghiệm của bản thân tự rút ra trong thực tế những năm qua
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu để tìm ra cách giáo dục cho học sinh kỹ năng sống cơ bản về
tự chăm sóc sức khỏe sinh sản của bản thân các em với các nội dung chủ yếusau:
- Giới và giới tính
- Sự phát triển của tuổi vị thành niên
- Tình bạn, tình yêu, hôn nhân
Trang 4Để có hành vi thích ứng và tích cực, giúp cá nhân có thể ứng xử hiệu quảtrước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hằng ngày, làm chủ bản thân,ứng xử phù hợp với người khác, ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộcsống Đảm bảo sức khỏe sinh sản được tốt, tâm hồn luôn được trong sáng củatuổi học trò.
Các kỹ năng này cần được trang bị ngay từ khi các em mới vào cấp hocTHPT Quan Sơn Một môi trường mới có nhiều điều mới lạ mà học sinh cầntiếp cận ngay Chứ không để có hậu quả rồi mới rút kinh nghiệm
3 Đối tượng nghiên cứu
Tôi chọn là học sinh lớp 10 trường THPT Quan Sơn Là ngôi trường màtôi đã công tác nhiều năm, đã chứng kiến nhiều các sự kiện của nhà trường.Trong đó có vấn đề sức khỏe sinh sản của học sinh Nhận thấy kỹ năng của các
em còn nhiều hạn chế
Học sinh lớp 10 mới vào trường còn nhiều bỡ ngỡ, đa số xa gia đình, sốngtại các nhà trọ đơn sơ, khu bán trú nhiều thiếu thốn An ninh trật tự phức tạp,nhiều cái cám dỗ nên dễ bị tổn thương hơn cả
Phương pháp giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh là những nội dung
gì và cách thức tổ chức như thế nào cho hiệu quả
Từ đó học sinh có được các kỹ năng tự chăm sóc cho bản thân mình vànhững người thân xung quanh Đó là các kỹ năng tưởng chừng đơn giản nhưnglại rất quan trọng trong cuộc sống đời thường hằng ngày của mỗi học sinh lớp
10 trường THPT Quan Sơn Từ đó các em phải tự chăm sóc và bảo vệ sức khỏesinh sản cho chính bản thân mình Học sinh có thể nhận ra các thủ đoạn của tộiphạm để ứng phó hiệu quả
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này tôi đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau
để có cái nhìn tổng quan, khách quan hơn để đưa ra các giải pháp cho hợp lý vớiđối tượng học sinh của mình Với đặc thù là vấn đề nhạy cảm nên tôi chọn cácphương pháp cũng nhạy cảm để thu thập số liệu như sau:
Trang 5- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Sử dụng phiếu điều tra như sau (sử dụng phiếu cho học sinh cả 5 lớp 10 cho tự viết câu trả lời mà không cần ghi tên Kiểm tra mức độ nhận thức của các em)
Phân biệt giới và giới tính? ………
Tuổi vị thành niên có những phát triển quan trọng nào? ………
Phân biệt tình bạn, tình yêu và hôn nhân Là học sinh có nên yêu không? Vì sao? ………
Thế nào là sức khỏe tình dục ………
Thụ thai dựa trên cơ sở nào? ………
Vệ sinh phụ nữ cần phải làm những gì ………
Vệ sinh nam giới cần phải làm những gì? ………
Mang thai sớm là thế nào? Hậu quả? ………
Nêu các biện pháp tránh thai Với em biện pháp nào là tốt nhất? ………
Kể tên các bệnh lây truyền qua đường sinh sản và tình dục Nêu các phòng tránh ………
Thế nào là mại dâm? Cách phòng, chống ………
Thế nào là buôn bán người? Đối tượng? Thủ đoạn và cách phòng chống? ………
Kết quả cho thấy đa số các em hiểu biết quá ít về các vấn đề này
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Qua các năm học có số liệu thu thập như sau
+ Bệnh lây truyền qua đường tình dục: Bệnh viện Đa khoa Quan Sơn và Trung tâm Y tế dự phòng nhận định
+ Mại dâm: Lấy số liệu từ Ban quản lý bán trú, Ban cờ đỏ, thông tin từ Ban nữ công, nữ sinh, ý kiến của học sinh ở trong khu bán trú và khu nhà trọ gần trường, ý kiến từ lễ tân nhà nghỉ
+ Buôn bán người: Xin nhận định của Công an huyện Quan Sơn
(Không công bố số liệu chi tiết, đích danh vì là vấn đề cần bảo mật)
Phần 2 NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận
Hiện nay giáo dục kĩ năng sống đã được nhiều quốc gia trên thế giới đưa vào dạy học cho học sinh các trường phổ thông, dưới nhiều hình thức khác nhau Chương trình hành động Dakar về Giáo dục cho mọi người (Senegal – 2000) đã
Trang 6đặt ra trách nhiệm cho mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cậnvới chương trình giáo dục kỹ năng sống phù hợp và kỹ năng sống cần được coinhư một nội dung của chất lượng giáo dục.
Ở Việt Nam, để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ,đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học,giáo dục phổ thông đã và đang được đổi mới mạnh mẽ theo 4 trụ cột của giáodục thế kỉ XXI, mà thực chất là cách tiếp cận kỹ năng sống, đó là: Học để biết,Học để làm, học để tự khẳng định mình và học để cùng chung sống Mục tiêucủa giáo dục phổ thông đã và đang chuyển hướng từ chủ yếu là trang bị kiếnthức sang trang bị kỹ năng cần thiết cho các em học sinh Phương pháp giáo dụcphổ thông cũng đã và đang được đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực, tựgiác, chủ động, sáng tạo của người học, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, tăngcường khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vàothực tiễn, tác động đến tình cảm, mang lại niềm vui, hứng thú học tập cho họcsinh Nội dung giáo dục kỹ năng sống đã được tích hợp trong một số môn học vàhoạt động giáo dục có tiềm năng trong trường phổ thông
Việc thực hiện giáo dục kỹ năng sống cần được thông qua nhiều chươngtrình, dự án như: Giáo dục bảo vệ môi trường, phòng chống HIV/AIDS, phòngchống ma tuý, phòng chống tai nạn thương tích Đặc biệt, rèn luyện kỹ năngsống cho học sinh được xác định là một trong những nội dung cơ bản của phongtrào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong cáctrường phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo
Các nhà nghiên cứu đã tìm ra kỹ năng chung cho mối quan hệ hiệu quảcủa công dân, đó cũng là một trong những đích quan trọng của quá trình giáodục Người Việt Nam thường nói dạy chữ cần đi đôi với dạy người Dạy ngườiphải hướng tới tạo cho người học kỹ năng thích ứng với xã hội, ứng xử tích cựctrong các mối quan hệ xã hội, các tình huống trong cuộc sống Đó là những kỹnăng thiết thực mà người học cần có để có cuộc sống an toàn, khoẻ mạnh vàhiệu quả
Trong quá trình dạy học, giáo dục bên cạnh việc hình thành các kỹ năngmang tính học tập, gắn với chuyên môn, như kỹ năng thực hành kỹ năng đọcsách, quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp các kỹ năng đôi khi không chủđộng vẫn được hình thành như diễn đạt trôi chảy, biểu lộ tình cảm, ứng xửnhanh nhẹn làm chủ bản thân, giải quyết vấn đề, ứng phó, thương lượng Những kỹ năng này được hiểu là mục tiêu tiềm ẩn trong quá trình giáo dụcnhưng lại là những thứ mà người học cần có, cần sử dụng dụng trong cuộc sốnghàng ngày để họ trở thành những công dân đích thực trong xã hội hiện đại
Kỹ năng sống thường gắn với một bối cảnh để người ta có thể hiểu vàthực hành một cách cụ thể Nó gắn với nội dung nhất định Các môn học trongtrường THPT Việt Nam đều ít nhiều có khả năng thực hiện giáo dục kỹ năngsống, trong đó Sinh học là một môn học có nhiều thuận lợi trong giáo dục kỹnăng sống
Trang 7Giáo dục kỹ năng sống có vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là trong giaiđoạn hiện nay:
- Kỹ năng sống thúc đẩy sự phát triển của cá nhân và xã hội: thực tế cho thấy cókhoảng cách giữa nhận thức và hành vi của con người, có nhận thức đúng chưachắc đã có hành vi đúng Kỹ năng sống còn góp phần vào sự phát triển của xãhội và bảo vệ con người Thiếu kỹ năng sống của cá nhân làm phát sinh nhiềuvấn đề của xã hội như nghiện rượu, nghiện ma tuý, mại dâm, cờ bạc
- Giáo dục kỹ năng sống là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ, vì chính các em
là tương lai của đất nước, giai đoạn các em đang hình thành giá trị nhân cách,giàu mơ ước, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá, song thiếu hiểu biết sâu sắc
về xã hội, thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động đặc biệt là trong xãhội ngày nay có nhiều yếu tố tích cực nhưng kéo theo nhiều tiêu cực
- Giáo dục kỹ năng sống nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông:thể hiện ở Luật Giáo dục năm 2005 xác định là đào tạo con người Việt Namphát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, thẩm mỹ và nghề nghiệp
- Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là xu thế của nhiều nước trên thế giới,hiện nay bằng nhiều hình thức (môn học riêng biệt, tích hợp vào vài môn họcchính, tích hợp vào tất cả các môn) có hơn 150 nước đã đưa giáo dục kỹ năngsống vào nhà trường
Như vậy giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là rất cần thiếu và có vai tròđặc biệt quan trọng
Từ kết quả điều tra cho thấy đáng báo động rằng là học sinh THPT QuanSơn chưa có kỹ năng tốt trong việc tự chăm sóc sức khỏe sinh sản bản thân Nênchịu nhiều hậu quả cho hiện tại và tương lai
2 Thực trạng vấn đề
Quan Sơn là một huyện miền núi cao nhất nhì tỉnh Thanh Hoá Đa số họcsinh là người dân tộc Thái, một số Mường, Mông và Kinh cùng chung sống.Điều kiện kinh tế có nhiều khó khăn, mặt bằng dân trí tương đối thấp
Trường THPT Quan Sơn được thành lập từ năm 1999 sau khi tách huyệnQuan Hoá thành lập huyện Quan Sơn từ năm 1997 Hiện nay trong trường cógần một nghìn học sinh (thường xuyên có học sinh bỏ học) đa số các em ở xa,nhà nghèo, phải trọ lại ở gần trường (ở bán trú, thuê phòng trọ, dựng lều lán vensông suối, vách núi để ở ) nên có nhiều khó khăn Trong điều kiện khó khăn
đó, dân cư thưa thớt ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp, phong trào học tập với
sự hiện diện của các thầy cô giáo từ miền xuôi lên công tác đã góp phần làmthay đổi đáng kể đến nhiều mặt của huyện, đặc biệt là vấn đề văn hoá Cho đếnnay đã có nhiều thay đổi theo chiều hướng tiến bộ, song vẫn còn nhiều hạn chếtrong việc giao tiếp, học tập, sinh hoạt vì vậy mà rất cần được giáo dục kỹnăng sống cho các em
Hiện nay vẫn chưa có môn học chính khoá về kỹ năng sống, việc tích hợpvẫn còn nhiều hạn chế và chưa đồng bộ ở các môn, các giáo viên Tuy nhiên
Trang 8bằng tâm huyết của người thầy mà không chỉ giảng dạy về kiến thức khoa học
mà tôi còn luôn quan tâm tới giáo dục kỹ năng sống cho các em
Giáo dục kỹ năng sống không phải chỉ trên lớp mà ở mọi nơi, mọi lúc với nhiềuhình thức khác nhau Tôi rất quan tâm đến điều này nên đã thử nghiệm nhiều,rút kinh nghiệm qua các năm
Kết quả cho thấy đa số các em hiểu biết quá ít về các vấn đề này
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Qua các năm học có số liệu thu thập nhưsau
+ Bệnh lây truyền qua đường tình dục có chiều hướng giảm do vệ sinh môitrường tốt hơn, dịch vụ y tế tốt hơn (Bệnh viện Đa khoa Quan Sơn và Trung tâm
Y tế dự phòng nhận định)
+ Mại dâm có chiều hướng gia tăng (do hệ thống nhà nghỉ phát triển, mặt tráicủa công nghệ thông tin tác động, một bộ phận học sinh muốn ăn chơi, đua đòi,gia đình khó quản lý do ở xa): Số học sinh để cho người ngoài vào ngủ qua đêmtăng, số vụ bị phát hiện lập biên bản tăng, số học sinh đi qua đêm tăng; thậm chí
1 số học sinh còn đi xuống thành phố vào cuối tuần, học hành chểnh mảng, sonphấn lòe loẹt…
+ Buôn bán người có chiều hướng gia tăng với các chiêu bài dụ đi làm ăn vớimức lương hấp dẫn…
3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
3.1 Giáo dục SKSS cho học sinh lớp 10 ngay từ học kỳ I tại các lớp
Học sinh tập trung hơn, giáo viên kiểm tra năng lựccủa tất cả học sinh trước và sau hoạt động
HS có cơ hội thực hành, bày tỏ quan điểm, đượcthảo luận nhiều hơn
Số học sinh tham gia gần như 100% (Tổ chức cảtrường thường các HS không tham gia là học sinhkhông ngoan)
Học sinh
nữ
Cả nam vànữ
Cả học sinh nam và nữ đều cần biết, cần thiết
Có nhiều thời gian nói chuyên sâu hơn, quản lý họcsinh dễ hơn
* Vắn tắt về kỹ năng sống
1 Quan niệm về kỹ năng sống
- WHO: KNS là khả năng để có hành vi thích ứng và tích cực, giúp cá nhân cóthể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hằng ngày
- UNICEF: KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới
- UNESCO:
Trang 9+ Học để biết (tư duy phê phán, sáng tạo, giải quyết vấn đề, nhận thức hậu quả,kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức…)
+ Học để sống với người khác (Kỹ năng xã hội: giao tiếp, thương lượng, hợptác, làm việc nhóm, cảm thông…)
+ Học để làm (Kỹ năng thực hiện công việc như đặt mục tiêu, đảm nhận tráchnhiệm…)
=> KNS là khả năng làm chủ bản thân, ứng xử phù hợp với người khác, ứng phótích cực trước các tình huống của cuộc sống
KNS được hình thành dần trong quá trình học tập, lĩnh hội và rèn luyện trongcuộc sống Vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội
2 Phân loại KNS
- Giải quyết vấn đề - Suy nghĩ
- Giao tiếp hiệu quả - Ra quyết định
- Giao tiếp ứng xử cá nhân
2 Giới: chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội: vai trò, trách nhiệm,hành vi, lối sống, mối quan hệ… Thay đổi theo quan niệm xã hội
* Bình đẳng giới là nam giới, nữ giới được công nhận và hưởng các vị thế ngangnhau trong xã hội Hiện nay vẫn tồn tại bất bình đẳng giới: trọng nam khinh nữ,bạo lực gia đình
II Sự phát triển ở tuổi vị thành niên (quá độ từ trẻ con – người lớn, 10 – 19
tuổi)
1 Thể chất: nhiều biến đổi sâu sắc về lượng và chất
+ Ở em gái: Vú phát triển từ nhô lên, quầng vú, bầu vú (có thể không đều 2bên); phát triển khung chậu, tăng chiều cao, cân nặng; mọc lông mu và lôngnách; da dày, tuyến bã, mồ hôi phát triển thường xuất hiện trứng cá, thường cómùi hôi; Cơ quan sinh dục phát triển hoàn chỉnh dần
+ Ở em nam: Tinh hoàn phát triển; tăng nhanh chiều cao, cân nặng; hệ thốnglông phát triển; vỡ giọng, trầm; phát triển tuyến bã và mồ hôi, cơ quan sinh dụchoàn chỉnh dần
2 Sinh lí: đặc biệt và phức tạp, nữ - kinh nguyệt, nam – mộng tinh
=> Tuổi nổi loạn (bùng nổ):
- Tự trọng, độc lập trong suy nghĩ và hành động;
- Cảm xúc giới tính; mất cân bằng trong tâm lí, tình cảm tạm thời;
- Đánh giá bản thân mình: Muốn khẳng định mình
III Tình bạn, tình yêu, hôn nhân
Trang 101 Tình bạn: hợp nhau về tính cách… ý nghĩa quan trọng vì mang lại niềm vui
2 Tình yêu: là loại tình cảm đặc biệt, cao đẹp nhất
3 Hôn nhân: là sự cam kết về mặt pháp lý, với nam từ đủ 20 tuổi, với nữ đủ 18tuổi Tảo hôn là việc kết hôn của trẻ chưa đủ tuổi
Mạnh như nước (nguy hiểm như bão lụt, sóng thần, ô nhiễm… bệnh tật)
Có nhiều dạng biểu lộ và lôi cuốn tình dục đang tồn tại ở mọi miền văn hóa,thay đổi theo đời sống riêng mỗi người
3 Thủ dâm: Việc tự kích thích vào bộ phận sinh dục của mình để đem lại khoáicảm
Quan niệm cũ bác bỏ: gây ra thần kinh, vô sinh…
Quan niệm mới: không gây bệnh tật…, nếu lạm dụng sẽ gây ảnh hưởng xấu
4 Đồng tính luyến ái: yêu, thích, chú ý đến người đồng giới
Nguyên nhân chưa rõ
Nếu phát hiện sớm cần tìm đến các chuyên gia giúp đỡ
V Sự thụ thai: trứng + tinh trùng -> mầm mống sống duy trì nòi giống.
Trứng tồn tại 12 – 24 giờ
Tinh trùng tồn tại 2 – 3 ngày
Tinh trùng vào tử cung (môi trường toan không thích hợp) cố tiến vào cổ tửcung, vòi trứng, nếu gặp trứng sẽ thụ tinh ở 1/3 ngoài của vòi trứng -> di chuyểnđến tử cung làm tổ (5-9 ngày), nếu trứng bị tắc trong vòi gây chửa ngoài dạ con(rất nguy hiểm) => mang thai (không kinh nguyệt)
Nếu là trứng X + tinh trùng X => XX => con gái (ngẫu nhiên, xác suất 0,5)Nếu là trứng X + tinh trùng Y => XY => con trai (ngẫu nhiên, xác suất 0,5)
VI Vệ sinh phụ nữ
1 Vệ sinh thân thể hàng ngày: tắm, rửa hàng ngày bằng nước sạch, không nênngồi ngâm trong chậu; thay quần áo lót sạch sẽ hàng ngày, quần áo phải thoáng,rộng; vệ sinh sau khi đi đại tiểu tiện (tốt nhất bằng nước)
2 Vệ sinh kinh nguyệt (hành kinh): rất dễ bị nhiễm khuẩn đường sinh dục
- Rửa nhiều lần bằng nước ấm + xà phòng tắm, dùng vòi hoặc gáo dội, khôngngâm trong chậu, thay khăn sạch (băng…) thường xuyên (tốt nhất ở nhà tắm)
- Vệ sinh thân thể: vẫn tắm bình thường, nhưng tránh nước lạnh, ngâm mìnhtrong bồn hay ao hồ…
- TDTT bình thường, vừa sức; làm việc vừa sức; ăn uống trách chất kích thíchnhư ơt, tiêu, cà phê, thuốc lá, rượu, chè đặc…
- Sinh hoạt tình dục: không nên
3 Vệ sinh tình dục: