Ngày nay công việc ôn thi học sinh giỏi là vấn đề trọng tâm, quan trọng là tiêu chí đánh giá thi đua của các trường THPT, vấn đề này càng được nóng lên khi sở giáo dục và đào tạo Thanh H
Trang 1PHẦN I MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
"Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạng
mà hưng thịnh, nguyên khí suy thế nước yếu mà thấp hèn…" Câu nói bất hủ của tiến sĩ Lê, Thân Nhân Trung cho thấy ông cha ta từ xa xưa đã coi trọng nhân tài
và coi những nhân tài là tương lai của đất nước
Ngày nay công việc ôn thi học sinh giỏi là vấn đề trọng tâm, quan trọng là tiêu chí đánh giá thi đua của các trường THPT, vấn đề này càng được nóng lên khi sở giáo dục và đào tạo Thanh Hóa gủi công văn thăm dò thay đổi hình thức thi của sở "có thể trong năm học 2017 -2018, chuyển từ hình thức thi lớp 12 sang thi chương trình của lớp 10 và lớp 11" mặc dù chưa có quyết định chính thức nhưng đã có rất nhiều trường trong năm học vừa qua đã bắt đầu ôn tập rất
kĩ cho học sinh lớp 10
Nhưng đối với trường THPT Bỉm Sơn có một điều đặc biệt, năm học tháng 4/2008 thầy trò chúng tôi đã hành quân và tận thành phố Hồ Chí Minh để tham gia cuộc thi Olympic 30/4 được tổ chức hàng năm cho các trường chuyên mặc dù kết quả không cao nhưng thầy và trò chúng tôi đã rút ra được rất nhiều bài học Chứng kiến sự vất vả nhưng đầy quyết tâm đó UBND thị xã Bỉm Sơn
đã ủng hộ cho chúng tôi tổ chức cuộc thi vào năm 2009 cho đến nay Ban đầu có
4 trường tham gia nhưng sau đó nâng lên thành 9 trường phía Bắc của tỉnh Thanh Hóa trong đó có các trường mạnh như: Hậu Lộc I; Ba Đình- Nga Sơn; Hà Trung; Thạch Thành I…Đây là sân chơi trí tuệ đã thu hút được rất nhiều học sinh tham gia Là cơ hội cho giáo viên, học sinh nâng cao kiến thức của lớp 10
-11 và phát hiện bồi dưỡng nguồn học sinh giỏi cho học sinh giỏi tỉnh và học sinh giỏi quốc gia
Nhiều năm ôn thi học sinh giỏi tỉnh, ôn thi đại học môn Sinh học, tôi nhận thấy chương trình chủ yếu nằm ở lớp 12 Giáo viên và học sinh không chú ý nhiều đến chương trình lớp 10- 11 Kì thi Olympic Bỉm Sơn lại chú trọng vào lớp 10 -11 và môn Sinh học 10 trường Bỉm Sơn luôn dẫn đầu về số huy chương Vàng và Bạc
Để đạt được kết quả đó chúng tôi đã chú ý ôn tập cho học sinh cận thận phần kiến thức cơ bản sau đó vận dụng kiến thức để giải quyết các câu hỏi khó, câu hỏi vận dụng thực tế
Chính từ lí do trên tôi đã chọn đề tài: "Bồi dưỡng học sinh giỏi môn Sinh học 10 - Chuyên đề: Cấu trúc của tế bào"
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Nhằm hướng dẫn cho học sinh khai thác kiến thức cơ bản trong chương: Cấu trúc tế bào
Trang 2Giúp học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các câu hỏi khó trong đề thi học sinh giỏi
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
Lấy học sinh đội tuyển lớp 10 hàng năm làm nghiên cứu, kết quả thi của từng năm được đánh giá và rút kinh nghiệm cho các năm tiếp theo
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
- Về lí luận: Nghiên cứu qua các tài liệu, sách giáo khoa, sách tham khảo…
- Về thực nghiệm:
+ Giảng dạy trực tiếp đội tuyển học sinh giỏi lớp 10
+ Cho làm bài kiểm tra đánh giá thường xuyên
+ Phiếu tham dò ý thức học tập của học sinh đối với mỗi chuyên đề
+ Tổng hợp, so sánh đánh giá kết quả sau mỗi kì thi Olympic Bỉm Sơn từng năm
và đúc rút kinh nghiệm
Trang 3PHẦN II NỘI DUNG.
I CƠ SỞ LÍ LUẬN
- Đối với chương trình môn sinh lớp 10 được cấu trúc có 3 phần chính:
+ Giới thiệu chung về thế giới sống: Học sinh phải hiểu được các cấp tổ chức của thế giới sống; đặc điểm của các cấp tổ chức của thế giới sống
+ Sinh học tế bào: Học sinh phải hiểu được các thành phần hóa học cấu tạo nên
tế bào là gì? Từ các thành phần hóa học đó hình thành nên các bào quan trong tế bào như thế nào? Trong các bào quan đó những bào quan nào tham gia chuyển hóa vật chất và năng lượng cho tế bào và bào quan nào tham gia vào quá trình nguyên phân, giảm phân?
+ Sinh học vi sinh vật: Trên cơ sở những hiểu biết về cấu tạo tế bào nhân sơ và
tế bào nhân thực để nghiên cứu quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật; sinh trưởng và sinh sản của vi sinh vật
- Chương "cấu trúc của tế bào" là chìa khóa để mở cho các chương tiếp theo Các em học sinh phải nắm được nguyên tắc cấu tạo, chức năng và nguồn gốc hình thành của các bào quan trong tế bào từ đó vận dụng kiến thức cơ bản để giải thích những câu hỏi nâng cao trong các đề thi
II THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
- Năm học 2009- 2010 là năm đầu tiên tôi ôn đội tuyển Olympic Bỉm Sơn kết quả không cao do chưa có kinh nghiệm tuyển chọn học sinh, chưa có kinh nghiệm trong giảng dạy tôi không dạy kĩ phần kiến thức cơ bản đã yêu cầu học sinh làm các câu hỏi vận dụng dẫn đến học sinh lúng túng không trả lời được hoặc trả lời được nhưng không chính xác
- Năm 2010 - 2011 là năm thứ hai tôi ôn luyện tôi đã tìm ra các nguyên nhân thất bại của mình và tìm cho mình một hướng đi mới như sau:
+ Công tác tuyển chọn học sinh: thường diễn ra vào tháng 10 hàng năm, tôi thường động các em học sinh thi trượt đội tuyển các môn Toán, Hóa tham gia ôn luyện môn sinh vì các em này có tư duy tốt hơn các em theo chính khối B
+ Công tác giảng dạy: Đầu tiên tôi phải xây dựng hình tượng cho các em, sau đó hướng các em đam mê môn học, định hướng cho các em tìm hiểu kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa sinh học 10, sau đó vận dụng kiến thức cơ bản vào giải quyết các đề thi ở mức đơn giản và nâng dần nên đề thi cấp tỉnh, Olympic 30/4
và đề thi học sinh giỏi quốc gia
- Chương cấu trúc của tế bào hiện nay đã được đưa vào đề thi học sinh giỏi tỉnh năm học 2016 - 2017 nhưng hầu hết học sinh không làm được vì trong quá trình dạy học giáo viên thường không chú ý, tài liệu tham khảo còn ít
III GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG.
Trang 4A KIẾN THỨC TRỌNG TÂM.
* TẾ BÀO NHÂN SƠ (Procaryota).
1 Hình dạng:
- Đa số vi khuẩn là cơ thể đơn bào, kích thước 1 - 3μm.m
- Hình cầu (cầu khuẩn); hình phẩy (phẩy khuẩn); hình que (trực khuẩn), hình xoắn (xoắn khuẩn)
2 Cấu tạo tế bào vi khuẩn.
Gồm 3 thành phần chính: Thành tế bào, màng sinh chất và thể nhân
a Thành tế bào:
- Dày tử 1 - 20nm và được cấu tạo từ peptidoglican
- Căn cứ vào cấu trúc khác nhau của thành tế bào chia vi khuẩn thành 2 nhóm:
Nhóm Gram dương (G+) và nhóm Gram âm (G-) [1]
- Một số vi khuẩn, bao bọc bên ngoài thành tế bào còn có lớp vỏ nhày giúp tăng
sự bảo vệ hoặc bám dính vào tế bào chủ
- Chức năng: Giữ cho tế bào vi khuẩn có hình dạng ổn định; phân loại vi khuẩn
G- và G+ giúp cho việc sử dụng kháng sinh để chống lại vi khuẩn một cách đặc hiệu [9]
b Màng sinh chất:
Nằm giáp với thành tế bào được cấu tạo từ lớp kép photpholipit và protein
c Lông và roi.
- Lông: được cấu tạo từ protein giúp cho vi khuẩn tiếp hợp hoặc giúp bám dính
- Roi: Giúp vi khuẩn di chuyển một cách xoay tròn [2]
d Tế bào chất.
- Cấu tạo:
+ Bào tương dạng chất bán lỏng chứa nhiều hợp chất vô cơ và hữu cơ khac nhau
+ Riboxom có hằng số lắng 70S: được cấu tạo từ protein và rARN,không có màng bao bọc
+ Màn sinh chất có thể hình thành nên các nếp gấp gọi là mezoxom có vai trò quan trọng trong sự phân bào, hô hấp hiếu khí [4]
- Chức năng: Trong tế bào chất xảy ra các quá trình tổng hợp protein, phân giải đường để tích lũy năng lượng ATP
e Vùng nhân.
Trang 5- Vi khuẩn không có màng nhân (gọi là nhân sơ) nhưng có bộ máy di truyền là ADN xoắn kép dạng vòng, trần (không liên kết với protein histon) [1]
f Flatmit.
Nằm trong tế bào chất, mỗi tế bào có 1 hoặc vài flatmit Là phân tử ADN dạng vòng, chứa thông tin di truyền quy định một số đặc tính của vi khuẩn như tính kháng thuốc
* TẾ BÀO NHÂN CHUẨN (Eucaryota).
1 Thành tế bào.
-Thành tế bào bao bọc bên ngoài tế bào có
tác dụng bảo vệ ổn định hình dạng tế bào
- Thành tế bào thực vật được cấu tạo bằng
xenlulozo (các sợi xenlulozo liên kết với
nhau tạo thành tấm), trên thành có các cầu
sinh chất để liên hệ, ghép nối giữa các tế bào
- Thành tế bào nấm được cấu tạo bằng kitin
(là một loại polisacarit thấm thêm N)
1 Màng sinh chất.
a.Cấu tạo:
- Lipit của màng:Các phân tử photpholipit có đuôi là axit béo kị nước, đầu là nhóm photphat ưa nước Chúng có thể tự quay dịch chuyển ngang, dịch chuyển trên dưới đồng thời tạo nên tính ổn định
- Colesterol tạo nên tính mềm dẻo của màng, khi tỉ lệ colesterol nhiều màng sẽ bền, chắc
- Protein của màng: Protein xuyên màng là những protein nằm xuyên qua khung lipit có đầu ưa nước quay ra ngoài, đuôi kị nước quay vào trong; Protein rìa màng là những protein bám mặt ngoài hoặc mặt trong của màng
- Cacbonhidrat của màng: Cacbonhidrat liên kết với photpholipit (glicolipit) hoặc protien (glicoprotein) có chức năng kết dính các tế bào thành mô và truyền đạt thông tin giữa các tế bào.[10]
b Chức năng của màng sinh chất.
Bao bọc bên ngoài tế bào, ngăn cách tế bào với môi trường vừa có tác dụng bảo vệ tế bào; nơi diễn ra quá trình trao đổi chất giữa cơ thể và môi trường; thu nhận và truyền đạt tông tin; nhận biết tế bào; liên kết giữa các tế bào cạnh nhau
Trang 63 Tế bào chất và các bào quan:
3.1 Ti thể
- Ti thể thường có hình hạt, hình sợi
hay hình trứng; đường kính 0,5 – 2
μm.m, dài 7 -10 μm.m
- Hình dạng, kích thước, số lượng và
vị trí tùy loại tế bào
- Ti thể có cấu trúc gồm 2 phần chính:
+ Lớp màng kép: màng ngoài trơn nhẵn, màng trong gấp nếp ăn sâu vào khoangti thể tạo thành các mào trên đó chứa nhiều enzim hô hấp và chuỗi truyền electron
+ Chất nền: chứa nhiều chất vô cơ, chất hữu cơ, đặc biệt là hệ enzim cacboxyl oxi hóa, enzim tổng hợp các chất axits béo
Ngoài ra trong chất nền còn chứa AND dạng vòng, riboxom, các ARN nên ti thể
có khả năng tự tổng hợp protein cho riêng mình và có khả năng tự nhân đôi
- Ti thể có chức năng quan trọng đối với tế bào: thực hiện hô hấp, tổng hợp năng lượng ATP[6]
3.2 Lục lạp:
- Lục lạp chỉ có ở các tế bào có chức năng quang hợp của tảo, thực vật
- Lục lạp có dạng hình trứng, kích thước 2 - 6μmμmm
- Lục lạp có cấu trúc gồm 3 phần:
+ Lớp màng kép bao bọc bên ngoài, trong
suốt, trơn nhẵn
+ Hạt grana: được cấu tạo từ các túi dẹt
tilacoit, xếp chồng lên nhau thành từng cọc
Trên màng tilacoit chứa: hệ sắc tố quang, các
enzim, chuỗi chuyền electron Hạt grana là
nơi diễn ra pha sáng của quang hợp
+ Chất nền stroma: chứa các chất vô cơ, hữu
cơ đặc biệt là enzim; các phân tử ADN vòng,
hạt riboxom, ARN Là nơi diễn ra pha tối của
quang hợp.[9]
Trang 7- Lục lạp thực hiện chức năng quang hợp tổng hợp các chất hữu cơ từ các chất vô cơ CO2; O2 đồng thời chuyển hóa năng lượng ánh sáng thành dạng hóa năng trong các chất hữu cơ
3.3 Lưới nội chất:
- Lưới nội chất được cấu tạo bằng màng đơn tạo thành các ống và xoang dẹt thông với nhau
+ Lưới nội chất hạt: mặt
ngoài có đính các hạt
riboxom thực hiện chức
năng tổng hợp protein để
đưa ra ngoài tế bào để cấu
tạo nên màng tế bào Lưới
nội chất hạt gắn bên ngoài
màng nhân
+ Lưới nội chất trơn: mặt
ngoài không đính các hạt
riboxom; phân bố khắp tế
bào chất; thực hiện chức
năng tổng hợp lipit, chuyển
hóa đường, phân hủy chất
độc hại
3.4 Perôxixôm.
Perôxixôm có cấu trúc dạng bóng, được bao bọc bởi lớp màng đơn, có nguồn gốc từ lưới nội chất trơn
Perôxixôm có hệ enzim oxi hóa đặc trưng như catalaza, urat oxidaza tham gia vào chuyển hóa lipit và khử độc cho tế bào [7]
3.5 Bộ máy Gôngi.
Trang 8- Bộ máy Gôngi là hệ thống túi, màng
dẹp xếp chồng lên nhau theo kiểu
vòng cung tách biệt với nhau
- Bộ máy Gôngi thực hiện chức năng
thu gom, bao gói, biến đổi, hoàn thiện
và phân phối các sản phẩm đến các
bộ phận khác nhau trong và ngoài tế
bào
Bộ máy Gôngi thu nhận protein được
tổng hợp từ lưới nội chất gắn nhóm
cacbohidrat vào protein sau đó bao
gói và các túi tiết để phân phối
3.6 Lizôxôm.
Lizôxôm là bào quan dạng túi được bao bọc bởi màng đơn, chứa hệ thủy phân làm nhiệm vụ tiêu hóa nội bào; phân cắt các đại phân tử: protein, axit nucleic, cacbohidrat, lipit; phân hủy các tế bào già, tế bào chết và liên quan đến hiện tượng tiêu cơ của cơ thể như: thằn lằn đứt đuôi, nòng nọc có đuôi tiêu biến
3.7 Không bào.
- Không bào là bào quan dạng túi, bóng, được bao bọc bởi lớp màng đơn; có
ở tế bào thực vật và động vật bậc thấp như động vật nguyên sinh.Không bào
có nguồn gốc từ bộ máy gôngi và lưới nội chất trơn
- Không bào có thể thực hiện nhiều chức năng khác nhau trong cơ thể:
Ở tế bào rễ cây, không bào chứa ion khoáng tạo áp suất thẩm thấu để hút nước và muối khoáng Ở tế bào cánh hoa, không bào chứa các sắc tố giúp thu hút con trùng thụ phấn …
3.8 Trung thể.
- Là bào quan không có màng bao bọc, có mặt trong các tế bào động vật; được cấu tạo gồm:
+ Trung tử: được cấu tạo bằng nhóm các bộ ba vi ống xếp thành khối trụ và các vi sợi bao quang khoang trung tâm
+ Chất bao quanh trung tử: gồm các vi ống xếp phóng xạ quang trung tử
Trang 9- Trung thể đóng vai trò quan trọng trong sự phân bào, tạo thành và định hướng cho các vi ống, vi sợi hình thành nên thoi vô sắc giúp phân chia NST
ở kì sau của quá trình phân bào [8]
3.9 Ribôxôm.
- Riboxom có cấu trúc dạng hạt, không
có màng bao bọc, nằm rải rác trong tế
bào chất hay có mặt tại các bào quan
như lưới nội chất hạt, ti thể, lục lạp
- Riboxom được cấu tạo từ 2 tiểu
phần bé và lớn có thành phần hóa học
là protein và rARN liên kết lại với
nhau nhờ liên kết hidro và ion Mg2+
- Riboxom của tế bào nhân thực có tốc
độ lắng li tâm 80S gồm 2 tiểu phần
60S và 40S Là nơi diễn ra quá trình
tổng hợp protein cho tế bào
3 10 Khung xương tế bào.
Được cấu tạo từ vi ống, vi sợi và sợi protein phân bố thành mạng lưới trong tế bào có chức năng neo giữ các bào quan, giữ ổn định hình dạng tế bào
và tham gia vai trò vận động
4 Nhân tế bào.
- Nhân tế bào được xem là
trung tâm điều khiển mọi hoạt
động sống của tế bào; mỗi tế
bào thường có 1 nhân nhưng
một số tế bào lại đa nhân như tế
bào cơ vân
- Hình dạng nhân khác nhau
thường có hình cầu, hình khối…
4.1 Màng nhân.
- Cấu tạo giống màng sinh chất tuy nhiên có một số đặc điểm khác: màng nhân được cấu tạo bởi 2 lớp màng, giữa 2 lớp màng có xoang màng; trên
Trang 10màng nhân có các lỗ nhân thông với tế bào chất Bên ngoài màng nhân thường gắn với lưới nội chất hạt
- Bao bọc bên ngoài nhân, ngăn cách nhân với tế bào chất có tác dụng bảo
vệ nhân đồng thời là nơi diễn ra hoạt động trao đổi chất giữa tế bào và chất nhân
4.2 Chất nhân gồm chất nhiễm sắc và dịch nhân.
Chất nhiễm sắc được cấu tạo gồm ADN kết hợp với protein histon tạo thành dạng sợi mảnh bắt màu với thuốc nhuộm kiềm tính
4.3 Nhân con (hạch nhân).
Trong nhân co một hoặc vài thể hình bắt màu đậm hơn chất nhiễm sắc được gọi là nhân con Nhân con được cấu tạo chủ yếu bằng protein (80 - 85%) và rARN [7]
B CÂU HỎI LÍ THUYẾT.
Câu 1 Điểm khác nhau của tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực [8]
Trả lời
- Kích thước bé 0.2 - 10μm.m
- Có ở vi khuẩn
- Thành tế bào cấu tạo bằng
peptitdoglican
- Một số có vỏ nhầy
- Lông và roi được cấu tạo đơn giản từ
các protein có tính đàn hồi
- Tế bào chất không có hệ thống nội
màng và các bào quan có màng bao
bọc, không có hiện trượng chuyển
động chất nguyên sinh
- Có màng sinh chất gấp nếp thành
mezoxom
- Riboxom có độ lắng li tâm 70S
- Vùng nhân chưa có màng bao bọc,
ADN dạng vòng không liên kết với
protein histon
- Có platmit
- Kích thước 5 - 10μm.m
- Có ở động vật, thực vật và nấm
- Thành tế bào thực vật cấu tạo bằng xenlulozo; tế bào nấm cấu tạo bằng kitin; tế bào động vật không có thành
tế bào
- Không có vỏ nhầy
- Lông và roi có cấu tạo phức tạp bằng
hệ vi ống kiểu cấu trúc 9+2
- Tế bào chất có hệ thống nội màng và các bào quan có màng bao bọc, có hiện tượng chuyển động của chất nguyên sinh
- Không có mezoxom
- Riboxom có độ lắng li tâm 80S
- Nhân có màng bao bọc, có nhân con; ADN thẳng liên kết với protein histon
- Không có platmit