SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓATRƯỜNG THPT NHƯ XUÂN 2 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP SƯ PHẠM NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC ỨNG DỤNG TIN HỌC VÀO THỰC TIỄN KHI DẠY SOẠN THẢO VĂN BẢN, MẠN
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT NHƯ XUÂN 2
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP SƯ PHẠM NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC ỨNG DỤNG TIN HỌC VÀO THỰC TIỄN KHI DẠY SOẠN THẢO VĂN BẢN,
MẠNG MÁY TÍNH VÀ INTERNET Ở LỚP 10
Người thực hiện: Lê Thị Thuần Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Như xuân 2 SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Tin học
THANH HÓA NĂM 2016
Trang 2MỤC LỤC
1 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
1.2 Mục đích nghiên cứu
1.3 Đối tượng nghiên cứu
1.4 Phương pháp nghiên cứu
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
3 3 Kiến nghị
4 3.1 Kết luận
3.2 Kiến nghị
4 Tài liệu tham khảo
2 2 2 2
3 3 4 13
14 14 15
Trang 31 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, ngành giáo dục đang nỗ lực đổi mới Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học
Năng lực sử dụng Công nghệ thông tin – truyền thông là 1 trong 9 năng lực chung được nhấn mạnh trong hệ thống giáo dục của nhiều quốc gia, nó được coi
là một trong những năng lực thiết yếu của công dân trong thời đại mới Do đó, môn tin học đóng vai trò chủ đạo trong việc hình thành năng lực sử dụng công nghệ thông tin trong chương trình giáo dục phổ thông
Mục tiêu cơ bản của năng lực công nghệ thông tin là giúp học sinh có năng lực sử dụng công nghệ thông tin – truyền thông để thích ứng với các kĩ thuật số
và công nghệ thông tin trong cuộc sống hàng ngày Vì vậy, khi dạy học tin học người giáo viên cần hình thành và rèn luyện cho học sinh các năng lực cơ bản cả
về tư duy cũng như trong thực hành
Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy tin học 10 tại trường Trung học phổ thông Như Xuân 2 tôi thấy rằng để đạt hiệu quả cao trong mỗi phần học, tiết học cần
có cách thiết kế bài giảng phù hợp với nội dung kiến thức; phương pháp, phương tiện dạy học phải phù hợp với từng đối tượng học sinh Để qua mỗi phần học, tiết học, học sinh thích thú với kiến thức mới, qua đó hiểu được kiến thức đã học trên lớp, đồng thời học sinh thấy được tầm quan trọng của vấn đề và việc ứng dụng của kiến thức trước hết để đáp ứng những yêu cầu của môn học, sau đó là việc ứng dụng của nó vào các công việc thực tiễn trong đời sống xã hội (nếu có) Tin học 10 gồm 4 chương, trong đó chương 3 (Soạn thảo văn bản) và chương 4 (Mạng máy tính và Internet) là 2 chương có rất nhiều ứng dụng trong thực tiễn Do đó, tôi lựa chọn nghiên cứu “một số biện pháp sư phạm nhằm nâng cao năng lực ứng dụng tin học vào thực tiễn khi dạy soạn thảo văn bản, mạng máy tính và Internet ở lớp 10”
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Góp phần thúc đẩy quá trình đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh
- Nâng cao năng lực ứng dụng tin học vào thực tiễn cho học sinh lớp 10 khi học “Soạn thảo văn bản”, “Mạng máy tính và Internet”
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu các biện pháp sư phạm nhằm nâng cao năng lực ứng dụng tin học vào thực tiễn khi dạy “Soạn thảo văn bản”, “Mạng máy tính và Internet” ở lớp 10
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp khảo sát điều tra
- Phương pháp phân tích tổng hợp
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
Trang 42.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Những quan điểm, đường lối chỉ đạo của nhà nước về đổi mới giáo dục nói chung và giáo dục trung học nói riêng thể hiện trong nhiều văn bản:
- Luật giáo dục số 38/2005/QH11, điều 28 qui định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phất huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp
tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn”
- Nghị quyết hội nghị TW 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo và vận dụng kiến thức kĩ năng của người học”, “Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn”
Môn tin học trong nhà trường đã được Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm
và đầu tư vì bộ môn này đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục của thế giới hiện đại
Đặc trưng của môn tin học là khoa học gắn liền với công nghệ Do đó dạy học tin học phải trang bị cho học sinh các kiến thức khoa học về tin học phát triến tư duy, và chú trọng đến kĩ năng thực hành ứng dụng để có thể phục vụ học tập và đời sống
2.1 Thực trạng vấn đề ở đơn vị trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 2.2.1 Thực trạng thực tế
Sau 5 năm dạy học tôi nhận thấy: hầu hết các em học sinh sau khi học xong chương trình tin học 10 vẫn chưa vận dụng các kiến thức, kĩ năng vào trong thực tiễn một cách thành thạo, chưa hiểu rõ các ứng dụng đó có lợi ích như thế nào trong cuộc sống, chưa biết cách vận dụng tin học một cách triệt để để hỗ
trợ việc học các môn khác Chính vì vậy tôi nghiên cứu “một số biện pháp sư
phạm nhằm nâng cao năng lực ứng dụng tin học vào thực tiễn khi dạy soạn thảo văn bản, mạng máy tính và Internet ở lớp 10”.
2.2.2 Điều tra cơ bản ban đầu
Cuối năm học 2014 -2015 tôi có thực hiện một bài kiểm tra đối với học sinh lớp 10A1 nhằm điều tra kĩ năng soạn thảo văn bản, khả năng sử dụng mạng Internet của học sinh sau khi học xong chương trình tin học 10
Đề bài:
1.Mỗi em lập 1 gmail, đặt tên gmail theo tên mình
2.Tìm kiếm thông tin trên mạng Internet về chủ đề: “Lợi ích, tác hại của game online”
Yêu cầu:
Trang 5- Soạn thảo nội dung thông tin tìm được vào Microsoft Word, đặt tên văn bản theo tên mình
- Nộp 1 văn bản vào địa chỉ gmail: tuanthuan8388@gmail.com và 1 bản in Sau khi tiến hành khảo sát, khi thực hiện chấm bài của các em tôi thu được kết quả sau:
Qua các bài tôi thấy các em có thể tìm kiếm thông tin trên mạng, soạn thảo văn bản nhưng còn mắc lỗi không đáng có như: chưa soạn thảo văn bản đúng theo qui ước, đã định dạng được văn bản nhưng đôi lúc còn chưa hợp lí, chưa biết chọn lọc thông tin trên mạng Những lỗi này có thể khắc phục được nếu có phương pháp phù hợp
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Theo tôi 1 học sinh có năng lực ứng dụng tin học vào thực tiễn nếu học sinh có các biểu hiện sau:
- Hiểu rõ ứng dụng của tin học (cụ thể là các phần mềm, các kiến thức trong sách giáo khoa ) trong cuộc sống
- Biết sử dụng tin học để giải quyết bài toán thực tiễn mà trước hết là sử dụng tin học để hỗ trợ việc học tập các bộ môn khác
- Phát hiện được trong cuộc sống những vấn đề có thể xử lí bằng các kiến thức, công cụ tin học mà học sinh đã được trang bị trong môn tin học
- Có khả năng tự tìm hiểu và sử dụng được các ứng dụng tin học (ngoài những kiến thức được trình bày trong sách giáo khoa) để giải quyết các vấn đề trong học tập và ngoài thực tiễn
Vậy làm thế nào để học sinh có được những biểu hiện đó? Trong quá trình dạy học tôi đã tìm hiểu các phương pháp dạy học, và mạnh dạn áp dụng các biện pháp sư phạm sau:
2.3.1 Làm rõ mối liên hệ giữa kiến thức tin học trong sách giáo khoa với thực tiễn
Để học sinh có thể vận dụng được những kiến thức mình đã học vào thực tiễn giáo viên cần giúp học sinh biết vai trò, chức năng của các phần mềm, qua
đó biết được những kiến thức đó sẽ được áp dụng vào thực tiễn như thế nào?
Ví dụ 1:
Như chúng ta đã biết, phần mềm soạn thảo văn bản Microsft Word giới thiệu trong sách giáo khoa tin học 10 dựa vào phiên bản Office XP Tuy nhiên, thực tế đã có nhiều phiên bản được nâng cấp với những tính năng tiên tiến hơn, giao diện cũng có sự thay đổi Do vậy, khi dạy chương 3 “Soạn thảo văn bản” tôi nhấn mạnh cho học sinh bản chất của các lệnh và ý nghĩa của chúng, để học sinh
dễ dàng thích ứng được với các phiên bản khác nhau
Chẳng hạn:
- Để khởi động Microsoft Word ta có 2 cách:
Trang 6Cách 1: Nháy đúp chuột lên biểu tượng của Word trên màn hình nền.
Cách 2:Từ nút Start của Windows chọn Start → all Programs → Microsoft Office → Microsoft Word.
- Để thực hiện thao tác mở tệp văn bản mới ta có các cách sau:
Cách 1: Chọn File → New.
Cách 2: Nháy chuột vào nút lệnh trên thanh công cụ chuẩn.
Cách 3: Nhấn tổ hợp phím Ctrl + N.
Ý nghĩa của các thao tác, các lệnh này không hề thay đổi khi chúng ta sử dụng các phiên bản khác nhau Thậm chí, khi làm việc với các phần mềm khác
ta cũng có thể vận dụng các thao tác này một cách linh hoạt
Ví dụ 2
Sau khi dạy bài 21 “Mạng thông tin toàn cầu Internet” (Sách giáo khoa tin học 10 trang 141), học sinh đã biết tới kết nối có dây và kết nối không dây, để liên hệ với nhu cầu của thực tế, tôi cho học sinh làm một bài tập như sau:
Bài tập
Máy tính trên phòng làm việc của nhà Minh Thư đã kết nối mạng Internet (kết nối có dây) Như vậy để sử dụng mạng Internet thì cô phải lên phòng làm việc, đây là một điều thật bất tiện đối với cô Minh Thư luôn mong muốn là ngồi bất cứ đâu trong nhà cũng có thể truy cập mạng
Cô đã tìm hiểu và đưa ra 2 phương án
Phương án 1: Thiết bị mạng để ở phòng làm việc, cần kéo dây cáp mạng
đến 5 phòng còn lại trong nhà
Phòng 1: Cần 2 mét
Phòng 2: Cần 3 mét
Phòng 3: Cần 5 mét
Phòng 4: Cần 5 mét
Phòng 5: Cần 10 mét
Chi phí 3000đồng/1 mét; một ổ chia mạng gồm 8 cổng giá 250.000đồng Thời gian hoàn thành công việc 1-2 ngày
Với cách kết nối này chỉ sử dụng được máy tính để bàn, máy tính xách tay, các thiết bị có chân cắm mạng
Phương án 2: Sử dụng kết nối không dây.
Cần mua một bộ định tuyến không dây, giá 300.000 đồng
Thời gian hoàn thành công việc: 1-2 giờ
Em hãy trả lời các câu hỏi sau:
a Theo em trong 2 phương án trên phương án nào thuận tiện hơn?
b Khi sử dụng kết nối không dây tốc độ truy cập mạng có chậm hơn kết nối có dây hay không? Nếu trời mưa hoặc sử dụng các thiết bị điện trong nhà thì có bị mất kết nối mạng hay không?
c Nếu được gia đình em kết nối mạng thì em lựa chọn kết nối có dây hay kết nối không dây? Tại sao?
Trang 7Hướng dẫn
a Sử dụng phương án 2 thuận tiện hơn phương án 1 vì:
Các mức so sánh Kết nối có dây Kết nối không dây Môi trường truyền dẫn Dây cáp Không khí
Góc độ thời gian hoàn thành Từ 1 – 2 ngày 1 – 2 tiếng
Dựa vào các tiêu chí so sánh trên ta nhận thấy kết nối có dây là dây cáp, theo thời gian hoặc các tác động bên ngoài thì dây cáp có thể hỏng, dẫn đến phải thay dây cáp, xét về 2 góc độ còn lại thì kết nối không dây có nhiều ưu điểm hơn hẳn
b Khi sử dụng kết nối không dây nếu cần truy cập hoặc truyền một lượng lớn dữ liệu thì mạng không dây chậm hơn mạng có dây
- Trời mưa, có sấm sét tạo ra một nguồn sóng điện từ lớn thì sẽ làm nhiễu sóng của mạng không dây
- Đôi khi các thiết bị điện tử trong nhà (ví dụ: lò vi sóng) khi hoạt động nó tạo ra một sóng điện từ cùng tần số với sóng mạng không dây cũng sẽ làm nhiễu sóng của mạng không dây
c Đây là một câu hỏi mở áp dụng vào thực tế của mỗi gia đình, học sinh
có thể chọn một trong hai cách tùy theo mục đích, nhu cầu sử dụng mạng của gia đình Tuy nhiên học sinh phải hiểu được tại sao gia đình mình chọn cách kết nối đó
2.3.2 Chú ý xây dựng một nội dung kiến thức logic
Ta cần tổ chức tình huống dạy học theo tinh thần đặt học sinh vào tình huống có vấn đề, tạo ra những tình huống công việc mà giải quyết nó đòi hỏi học sinh phải học những vấn đề nào, những phương pháp nào để hoàn thành nhiệm vụ công việc Từ đó mà những hoạt động cần tổ chức phù hợp với tình huống đó, chọn những cách tương ứng với những công việc đã xây dựng cho phép xử lí tình huống đặt ra, cấu trúc các bước giải quyết vấn đề tối ưu theo phương pháp đã xây dựng Căn cứ vào mục tiêu tiết học, nội dung kiến thức liên quan, giáo viên cài đặt những tri thức định dạy cho học sinh vào trong đó theo trình tự và nội dung cần dạy một cách logic, để học sinh có thể chiếm lĩnh chúng một cách say mê, hào hứng thông qua hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh
Ví dụ:
Khi dạy chương 3 “ Soạn thảo văn bản” (SGK tin học 10), đây là nội dung
có ứng dụng nhiều trong thực tiễn Các bài dạy này giúp cho học sinh biết các chức năng của hệ soạn thảo văn bản, qui ước khi soạn thảo văn bản, cách soạn thảo văn bản, định dạng văn bản tiếng Việt
Để giúp học sinh hiểu rõ được vai trò của các kiến thức trong chương, tôi tổ chức hoạt động dạy học như sau:
Đối với mỗi bài tôi chuẩn bị 1 văn bản cho các nội dung dạy học tương ứng trong chương để học sinh thấy được sự tiếp nối kiến thức và sự cần thiết phải học các nội dung trong chương
Trang 8Chẳng hạn, khi dạy bài 15 “Làm quen với Microsoft Word” (Sách giáo khoa Tin học 10 trang 99) tôi chuẩn bị sẵn một văn bản mẫu như sau:
Hình 1: Văn bản mẫu
Khi dạy mục 3 “Soạn thảo văn bản đơn giản” tôi sử dụng văn bản mẫu đã chuẩn
bị này để hướng dẫn học sinh cách mở một văn bản đã có Khi mở được văn bản tôi cho học sinh phân biệt con trỏ văn bản và con trỏ chuột ngay trên văn bản này Tiếp đó, tôi đưa ra tình huống: dựa vào văn bản đã có theo em cần thực hiện như thế nào để có thể soạn một giấy mời khác chỉ thay phần họ tên, thời gian, địa điểm thành:
Họ và tên: Lê Thanh Trúc
Thời gian: 17h30 ngày 13 tháng 5
Từ tình huống này học sinh sẽ đưa ra các ý kiến để tạo được văn bản như mong muốn, giáo viên nhận xét và dẫn dắt học sinh tới chế độ chèn, đè, các thao tác biên tập văn bản
Thao tác 1: Hướng dẫn học sinh chuyển chế độ chèn, đè.
Di chuyển con trỏ văn bản vào trước “Nguyễn Hương Giang” ở dòng thứ 3 Nhấn phím Insert chuyển sang chế độ đè để gõ họ tên “Lê Thanh Trúc” đè lên
“Nguyễn Hương Giang”
Thao tác 2: Di chuyển con trỏ văn bản tới sau “17h” Nhấn phím Insert
chuyển sang chế độ chèn để sửa thời gian bằng việc chèn thêm số “30” sau chữ
“giờ” Di chuyển con trỏ văn bản tới trước số “30” (sau chữ “ngày”) chèn số “1” trước số “3” và xóa số “0” sau số “3” bằng cách nhấn phím Delete Làm tương
tự thay số “4” bằng số “5”
Thao tác 3: Chọn “Nguyễn Hương Giang” ở cuối văn bản
Thao tác 4: Nhấn phím Delete để xóa
Thao tác 5: Thực hiện thao tác Copy “Lê Thanh Trúc” ở trên xuống cuối
văn bản
Cuối cùng trên màn hình ta thu được văn bản
Trang 9Hình 2: Văn bản thu được sau khi thực hiện chèn, đè và một số thao tác biên tập
Tiếp theo, khi dạy bài 16 “Định dạng văn bản” (Sách giáo khoa tin học 10 trang 108), tôi tiếp tục sử dụng văn bản “Giấy mời” đã sử dụng ở bài 15 và một văn bản “Giấy mời” tương ứng đã được định dạng
Hình 3: Văn bản chưa được định dạng
Hình 4: Văn bản đã được định dạng
Yêu cầu học sinh nhận xét 2 văn bản:
Văn bản thứ nhất khó quan sát, không có ý nhấn mạnh
Trang 10Văn bản thứ 2 đẹp, nhấn mạnh các ý quan trọng
Qua các nhận xét giúp học sinh thấy được lợi ích của việc định dạng văn bản sau khi đã soạn thảo ở dạng thô Qua đó, đưa học sinh tới các thao tác định dạng 1 văn bản
Tương tự như vậy, trong các bài tiếp theo chúng ta nên chuẩn bị các văn bản minh họa, để học sinh thấy được sự cần thiết phải biết các thao tác tạo bảng biểu, các chức năng khác trong soạn thảo văn bản
2.3.3 Gắn nội dung bài giảng với việc ứng dụng tri thức của bài giảng vào thực tiễn một cách trực quan
Gắn nội dung bài giảng với việc cho học sinh quan sát một cách trực quan, giúp cho giáo viên có cơ sở tạo động cơ học tập, hướng đích cho học sinh, góp phần gắn bài học với thực tế sinh động diễn ra hàng ngày Góp phần hình thành nhân sinh quan, hình thành năng lực tự giải quyết vấn đề cho học sinh
Ví dụ 1
Khi dạy nội dung “Bài tập và thực hành 7: Định dạng văn bản” (sách giáo khoa tin học 10 trang 112), trong giờ thực hành tôi đã thực hiện như sau:
Chiếu văn bản đã soạn thảo trong “Bài tập và thực hành 6: Làm quen với Word” cho cả lớp quan sát (văn bản này đã có sẵn trên các máy tính ở phòng thực hành), chia lớp thành các nhóm nhỏ (học sinh ngồi ở 2 máy tính gần nhau tạo thành 1 nhóm), các học sinh trong nhóm thảo luận và đưa ra cách định dạng phù hợp cho văn bản sau đó thực hành định dạng trên máy tính và nhận xét xem cách định dạng đã hợp lí chưa Những văn bản trình bày đẹp sẽ được copy vào máy tính của giáo viên để trình chiếu và phân tích trước lớp
Ví dụ 2
Khi dạy nội dung “Kết nối Internet bằng cách nào?” (sách giáo khoa Tin học 10 trang 142) sau khi giới thiệu các cách kết nối phổ biến.Tôi đưa ra một tình huống thường gặp trong thực tiễn như sau:
Nếu chúng ta ở một địa điểm không có Wifi, và chưa có kết nối mạng bằng dây cáp thì có cách nào để truy cập mạng hay không?
Chia lớp thành 4 nhóm để học sinh thảo luận cách giải quyết vấn đề
Sau khi học sinh đưa ra phương án của mình, tôi sẽ sử dụng 1 Dcom 3G để kết nối Internet, qua đó giúp học sinh biết thêm một cách kết nối mạng, các bước
để cài đặt Dcom, cách sử dụng Dcom 3G, ưu, nhược điểm khi sử dụng Dcom 3G Như vậy, học sinh biết thêm 1 cách và sẽ hiểu rõ: ưu điểm, nhược điểm của mỗi cách
2.3.4 Ra các nội dung bài tập có tính mở để học sinh có cơ hội nâng cao năng lực ứng dụng tin học vào giải quyết các bài toán của thực tiễn
Các bài tập mở là các bài tập để học sinh có thể trình bày ý kiến của mình theo cách hiểu và cách lập luận của mình
Bài tập mở được đặc trưng bởi sự trả lời tự do của cá nhân và không có một lời giải cố định, cho phép các cách tiếp cận khác nhau và dành không gian tự quyết định cho người học Nó được sử dụng trong khi luyện tập, thực hành hoặc kiểm tra năng lực vận dụng tri thức từ các lĩnh vực khác nhau để giải quyết vấn