BGD&ĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới phương pháp dạy học đã nêu: Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng m
Trang 1MỤC LỤC
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 4 2.2 Thực trang vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến 4 2.3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 4 2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm với hoạt động giáo dục với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường
14
Trang 21 Mở đầu:
1.1 Lý do chọn đề tài.
Theo quyết định số 16/2006/QĐ BGD&ĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng
bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới phương pháp dạy học đã nêu: Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh
Trường THPT Lê Viết Tạo là một trường có tiền thân là trường bán công thuộc tỉnh Thanh Hóa Chất lượng đầu vào của trường còn thấp Với đặc thù của
bộ môn hóa học là một số các khái niệm, định luật, tính chất Đưa vào bài học rất khô cứng, trừu tượng nên học sinh hay nhàm chán Những học sinh có khả năng tư duy không cao thì có xu hướng sợ học bộ môn này, thêm vào đó cơ sở vật chất phương tiện dạy học của trường còn thiếu thốn
Định hướng chương trình giáo dục phổ thông với mục tiêu là giúp học sinh: Phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực bản thân, tính năng động sáng tạo, hình thành nhân cách con người, xây dựng nhân cách và trách nhiệm công dân Để đạt được các mục tiêu trên thì việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hóa “lấy học sinh làm trung tâm” được coi là quan trọng Đối với bộ môn hóa học ngoài việc đổi mới phương pháp dạy học còn đổi mới cả phương pháp kiểm tra đánh giá từ hình thức tự luận sang trắc nghiệm Đòi hỏi bản thân người học phải hiểu rõ bản chất hiện tượng, nắm chắc nội dung bài học và thành thạo các phương pháp giải nhanh Từ những lí do trên tôi mạnh dạn chọn đề tài:
“GIẢI THÍCH MỘT SỐ KIẾN THỨC, HIỆN TƯỢNG THỰC TẾ THÔNG QUA CHƯƠNG TRÌNH MÔN HÓA HỌC LỚP 12 ”
làm đề tài nghiên cứu giảng dạy cho học sinh tại trường và đã đạt được một số kết quả mong muốn đồng thời giới thiệu đến quý thầy cô làm tư liệu giảng dạy
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Xuất phát từ thực tế trên tôi thấy để nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn hóa, người giáo viên phải phát huy tốt các phương pháp dạy học tích cực, cần khai thác các hiện tượng hóa học thực tiễn trong đời sống đưa vào bài giảng bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm giúp học sinh biết cách nhìn nhận các hiện tượng hóa học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đem lại niềm vui, hứng thú trong học tập bộ môn
Nghiên cứu kĩ đối tượng học sinh từng lớp về khả năng tư duy, nhận thức, khả năng học tập, rèn luyện, thái độ, tình cảm của các em đối với môn học để người giáo viên lựa chọn đúng phương pháp truyền đạt, việc lựa chọn bài tập
Trang 3thực tiễn đặt vào vị trí nào trong bài giảng để đạt hiệu quả cao đó là vấn đề đòi hỏi người giáo viên cần phải nghiên cứu
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Đề tài này được xây dựng trên chương trình kiến thức hóa học được áp dụng cho học sinh khối 12 tại trường THPT Lê Viết Tạo, là đối tượng học sinh
có sức học bộ môn còn hạn chế, khả năng nhìn nhận, giải thích các hiện tượng hóa học còn yếu kém Trong đề tài này tôi xây dựng các dạng câu hỏi thực tiễn vận dụng vào từng phần kiến thức của các bài dạy trong chương trình hóa học lớp 12 với mong muốn giúp cho các em lĩnh hội những kiến thức “khô như ngói” của bộ môn một cách hứng thú và say mê hơn
Xây dựng bài tập lồng ghép vào nội dung bài học có tính liên hệ thực tế cao, giải thích các hiện tượng bắt gặp thường xuyên trong cuộc sống hằng ngày như các vật dụng bằng sắt dùng lâu ngày bị gỉ sắt, thức ăn để lâu ngày bị ôi thiu
Nắm vững phân phối chương trình và phương pháp giảng dạy của từng bài học đối với các khối lớp: Trong những năm công tác trong nghề, bản thân tôi luôn coi trọng PPCT và việc soạn giảng bài mới là điểm xuất phát cho một tiết học đạt hiểu quả Thực tế chứng minh rằng: Chỉ khi nào có sự chuẩn bị sẵn sàn, học sinh mới có thể học tốt được
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Xây dựng bài tập làm tình huống đặt vấn đề vào bài mới: một tình huống thực tiễn hoặc một tình huống giả định yêu cần học sinh cùng tìm hiểu, giải thích sẽ cuốn hút được sự chú ý của học sinh trong từng tiết học
Lồng ghép vào các hoạt động ngoài giờ lên lớp: Ngoài chương trình học chính khóa, để giúp các em nâng cao và khắc sâu kiến thức cần tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa đa dạng phong phú Sau đây là những gợi ý về một số chủ
đề đã được khai thác trong các hoạt động ngoài giờ của nhà trường chúng tôi như tổ chức tham quan, dã ngoại, tổ chức thí nghiệm theo dõi dài ngày một số hiện tượng như: dùng một thau nhôm nhỏ đựng nước vôi trong sau thời gian 2-3 tuần, để một con dao bằng sắt ngoài không khí ẩm sau 1-2 tuần Yêu cầu học sinh quan sát, thu nhập thông tin, xử lí thông tin và báo cáo kết quả cho giáo viên bộ môn và các bạn trong lớp Lồng ghép các bài tập thực tiễn vào chương trình đố vui để học
Các bước vận dụng bài tập thực tiễn: Đối với mỗi kiểu bài lên lớp, mỗi bài học cụ thể cho phép vận dụng bài tập hóa học thực tiễn khác nhau Bí quyết ở đây là sự đa dạng, phong phú, thực tế và vừa sức với các em
Khảo sát khả năng vận dụng kiến thúc hóa học thực tiễn của các lớp mỗi đầu năm học để có cơ sở nghiên cứu đối chứng, rút kết luận
Thường xuyên đưa bài tập thực tiễn vào kiểm tra miệng, thảo luận nhóm,
ôn tập để rèn luyện kĩ năng, giải thích vấn đề hóa học
Trang 42 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm:
2.1 Cơ sở lý luận.
Bài tập hóa học thực tiễn là bài tập có nội dung xuất phát từ thực tiễn Vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống và sản xuất để giải quyết một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn Các vấn đề thực tiễn có liên quan đến hóa học thì rất nhiều rất rộng, vì vậy giáo viên phải có phương pháp giảng dạy làm sao cho học sinh
có thể giải thích được các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, làm được các bài tập liên quan đến thực tế cuộc sống Xu hướng hiện nay trong dạy học hóa học nói riêng và trong các lĩnh vực khoa học nói chung, người ta cố gắng trình bày cho học sinh thấy mối quan hệ hữu cơ của các lĩnh vực không những của hóa học với nhau mà còn giữa các ngành khoa học khác nhau như: sinh học, hóa học, toán học, vật lí,… Khi dạy kiến thức hóa học bất kể từ lĩnh vực nào: Cấu tạo nguyên tử, tính chất hóa học, dung dịch… đều liên quan đến kiến thức vật lí hay nhiều hiện tượng thiên nhiên, hoặc kiến thức hóa hữu cơ: gluxit, lipit, protein,… đều liên quan đến kiến thức sinh học Nếu người giáo viên kết hợp tốt phương pháp dạy học tích hợp sử dụng bài tập thực tiễn, lồng ghép các nội dung khác như bảo vệ môi trường, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe các con người thông qua kiến thức thực tiễn đó Đây cũng là hướng giáo dục của nước ta đang đẩy mạnh trong các năm gần đây
Trong quá trình dạy và học, người giáo viên luôn có định hướng liên hệ thực tế giữa kiến thức sách giáo khoa với thực tiễn cuộc sống hằng ngày và đưa
ra nhiều tình huống giả định kèm vào các phương pháp giảng dạy để học sinh tranh luận, phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh Những tình huống gây vấn đề như vậy sẽ kích thích học sinh học tập, thi đua tìm câu trả lời và các em
sẽ nhớ kiến thức lâu hơn
2.2 Thực trạng của vấn đề.
Trước những yêu cầu đổi mới của giáo dục, chất lượng học sinh của trường và đặc thù của bộ môn như vậy, đòi hỏi đội ngũ giáo viên phải nổ lực hết mình tìm ra các phương pháp phù hợp trong quá trình giảng dạy Vì vậy, mà việc xây dựng bài tập hóa học thực tiễn vào từng tiết dạy là hết sức cần thiết giúp cho các em thêm niềm vui, niềm hứng thú trong học tập và yêu thích môn hóa học hơn
Trong chương trình giảng dạy bộ môn hóa học THPT có thể nói kiến thức trong một tiết học khá nhiều, áp lực về mục tiêu nắm kiến thức trọng tâm, phương pháp giải nhanh các dạng bài tập lớn nên việc dành thời gian cho việc giải thích các hiện tượng hóa học còn hạn chế Vì vậy khả năng nhận thức về kiến thức hóa học trong thực tiễn của học sinh còn hạn chế, chưa tạo được mối liên hệ giữa kiến thức hóa học trong sách vở với kiến thức thực tiễn Việc mong muốn các em giải thích được các hiện tượng hóa học trong tự nhiên là mục tiêu phấn đấu của các giáo viên chúng tôi
2.3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Chương 1: ESTE- LIPIT
Câu 1: Dân gian có câu:
Trang 5“ Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”
Vì sao thịt mỡ và dưa hành thường được ăn cùng nhau?
Giải thích: Mỡ là este của glixerol với các axit béo (RCOO)3C3H5 Dưa chua cung cấp H+ làm xúc tác cho việc thủy phân este do đó có lợi cho sự tiêu hóa mỡ
Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng bài tập trên để nhấn mạnh tính chất
hóa học Bài 2: Lipit
Câu 2: Sherlock Homes đã phát hiện cách lấy vân tay của tội phạm lưu trên đồ vật ở hiện trường như thế nào chỉ sau ít phút thí nghiệm?
Giải thích: Trên đầu ngón tay chúng ta có chất béo, dầu khoáng và mồ hôi.
Khi ấn ngón tay lên mặt giấy thì những thứ đó sẽ lưu lại trên mặt giấy mà mắt thường rất khó nhận ra Khi đem tờ giấy có vân tay đặt đối diện với mặt miệng
ống nghiệm chứa cồn iôt đun nóng, iôt “thăng hoa” bốc lên thành khí màu tím
mà chất béo, dầu khoáng và mồ hôi là các dung môi hữu cơ mà khí iôt dễ tan vào chúng, tạo thành màu nâu trên các vân tay lưu lại Thế là vân tay hiện ra
Áp dụng: Đây là một ứng dụng quan trọng của iot trong ngành điều tra tội
phạm Giáo viên có thể đề cập ở phần tính chất vật lí trong Bài 2: Lipit
Câu 3: Không nên tái chế dầu mỡ đã qua rán ở nhiệt độ cao hoặc khi mỡ dầu không còn trong đã sử dụng nhiều lần, có màu đen, mùi khét Vì sao?
đáng kể ngoài hóa lỏng Nhưng khi đun lâu ở nhiệt độ cao hơn, các axit béo không no sẽ bị oxi hóa làm mất tác dụng có ích với cơ thể Các liên kết đôi trong cấu trúc của chúng bị bẻ gãy thành các sản phẩm trung gian như peoxit, anđehit có hại
Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng bài tập trên cho phần tính chất hóa học Bài 2: Lipit
Chương 2: CACBOHIĐRAT
Câu 4: Vì sao ăn đường glucozơ lại cảm thấy đầu lưỡi mát lạnh?
Giải thích: Quá trình hòa tan glucozo là quá trình thu nhiệt, do đó ta cảm
thấy đầu lưỡi mát lạnh
Áp dụng: Đây là một hiện tượng thường gặp, giáo viên đưa vấn đề này
vào phần tính chất vật lí của glucozơ ở bài 5: Glucozơ
Câu 5: Khi cần cung cấp năng lượng (cho vận động viên, người ốm ) người ta thường cho uống nước đường Đường đó là gì?
Giải thích: Khi cần cung cấp năng lượng ngay, người ta thường cho uống
nước đường glucozơ là loại đường đơn giản nhất của gluxit, khi vào cơ thể nó
sẽ tham gia phản ứng chuyển hóa để cung cấp năng lượng ngay Còn nếu dùng đường saccarozơ thì phải trải qua giai đoạn thủy phân thành 2 monosaccarit, sau
đó mới có thể chuyển hóa tiếp để cung cấp năng lượng Như vậy không cung cấp năng lượng ngay được
Áp dụng: Giáo viên sử dụng vấn đề này trong phần ứng dụng của glucozơ bài 5 glucozơ
Trang 6Câu 6: Cùng một khối lượng gạo như nhau nhưng tại sao khi nấu cơm gạo nếp lại cần ít nước hơn cơm gạo tẻ?
Giải thích: Trong gạo tẻ, hàm lượng amilopectin (80%) ít hơn trong gạo
nếp (98%) amilopectin hầu như không tan trong nước nên khi nấu cơm gạo nếp cần ít nước hơn cơm gạo tẻ
Áp dụng: Giáo viên vận dụng đặc câu hỏi vào cấu trúc phân tử bài 6:
Saccarozơ, tinh bột và xenlulozơ
nào? Có giống với độ rượu hay không?
Giải thích: Trên thị trường có bày bán nhiều loại bia đóng chai Trên chai có
nhãn ghi 12o, 14o,…Có người hiểu đó là số biểu thị hàm lượng rượu tinh khiết của bia Thực ra hiểu như vậy là không đúng Số ghi trên chai bia không biểu thị lượng
rượu tinh khiết ( độ rượu) mà biểu thị độ đường trong bia Nguyên liệu chủ yếu để
nấu bia là đại mạch Qua quá trình đại mạch lên men sẽ cho lượng lớn đường mantozơ, chỉ có một phần mantozơ chuyển thành rượu, nếu trong 100ml dung dịch lên men
Có 12g đường người ta biểu diễn độ đường lên men là bia 12o Do đó bia
có độ 14o có giá trị dinh dưỡng cao hơn bia 12o
Áp dụng: Đây là vấn đề mà mọi người rất thường nhầm giữa độ rượu và
độ đường về những con số ghi trên những chai bia Giáo viên đặt câu hỏi trên
sau khi dạy xong bài 6: Saccarozơ, tinh bột và xenlulozơ.
Câu 8: Tại sao khi ăn cơm nhai kỹ sẽ thấy vị ngọt và no lâu?
Giải thích: Cơm chứa một lượng lớn tinh bột, khi ăn cơm trong tuyến
nước bọt của người có các enzim Khi nhai kỹ cơm trong nước bọt sẽ xảy ra sự thủy phân một phần tinh bột thành mantozơ và glucozơ nên có vị ngọt:
Áp dụng: Giáo viên có thể đề cặp vấn đề trên ở phần nội dung phản ứng
thủy phân của tinh bột trong bài 6: Saccarozơ, tinh bột và xenlulozơ nhằm cung
cấp cho học sinh kiến thức cơ bản của sự chuyển hóa tinh bột trong khi ăn Học sinh cũng có thể kiểm nghiệm được trong khi ăn
Chương 3: AMIN, AMINO AXIT, PROTEIN
Câu 9: Tại sao người trực tiếp hút thuốc lá lại không bị hại bằng người ngồi cạnh hít phải khói thuốc lá?
Giải thích: Vì người hút thuốc lá hít khói thuốc thông qua đầu lọc, đầu lọc
thuốc lá có tác dụng giữ lại một phần các khí độc trong khói thuốc lá, làm giảm bớt tính độc Còn người ngồi bên cạnh khi hít phải khói thuốc thì sẽ hít toàn bộ khí độc từ khói thuốc lá, nên bị ảnh hưởng lớn hơn
Áp dụng: Giáo viên cần tuyên truyền về tác hại của thuốc lá thông qua
phần tính chất vật lí ở bài 9: Amin
Câu 10: Để khử mùi tanh của cá, sau khi rửa sạch bằng nước người ta thường rửa lại bằng giấm?
Giải thích: Mùi tanh của cá là hỗn hợp các amin và một số tạp chất khác.
Để khử mùi tanh của cá trước khi nấu người ta thường rửa lại bằng giấm để amin tác dụng với axit axetic làm giảm mùi tanh
Trang 7RNH2 + CH3COOH → CH3COONH3R
Áp dụng: Giáo viên sử dụng câu hỏi này vào phần tính chất hóa học ở bài 9: Amin
Câu 11: Tại sao trước khi lặn xuống biển, thợ lặn thường uống nước mắm cốt?
Giải thích: Trong nước mắm cốt có chứa rất nhiều đạm, dưới dạng các
amino axit polipeptit đơn giản, vì vậy trước khi lặn, thợ lặn thường uống nước mắm cốt để cung cấp năng lượng, giữ ấm cho cơ thể
Áp dụng: giáo viên có thể dùng câu hỏi trên vào phần ứng dụng của
aminoaxit bài 10: aminoaxit.
Câu 12: Vì sao khi luộc trứng chín, ta thấy lòng đỏ trứng có một lớp màu đen bao quanh?
Giải thích: Trong lòng đỏ trứng có protein chứa lưu huỳnh Khi luộc
trứng một thời gian, lòng đỏ phân hủy thành các aminoaxit và khí H2S Khí H2S phát tán xung quanh lòng đỏ và kết hợp với ion sắt tạo thành FeS có màu đen
Áp dụng: Đây là hiện tượng thường gặp, giáo viên có thể nêu ra ở phần
tính chất hóa học của protein bài 11 Peptit và protein
Câu 13: Để thủy phân hoàn toàn dầu mỡ cần phải đun nóng với dung dịch kiềm, còn trong bộ máy tiêu hóa của người dầu mỡ bị thủy phân hoàn toàn ngay ở nhiệt độ 37 0 C Vì sao?
Giải thích: Khi nhiệt độ cao tăng tốc độ phản ứng thủy phân tăng, kiềm vừa
làm chất xúc tác vừa trung hóa axit béo làm cho phản ứng thuận nghịch không xảy ra: (RCOO)3C3H5 + 3NaOH → 3RCOONa + C3H5(OH)3
Trong bộ máy tiêu hóa, chất béo bị nhũ tương hóa bởi muối của axit mật Sau đó nhờ tác dụng xúc tác đặc hiệu của enzim lipaza nó bị phân hủy hoàn toàn ở nhiệt độ của cơ thể
Áp dụng: Quá trình thủy phân của chất béo dưới tác dụng của enzim trong
cơ thể nhanh hơn xúc tác axit, bazơ Giáo viên có thể sử dụng bài tập vào phần
đặc điểm của enzim bài 11 Peptit và protein
Chương 4: POLIME VÀ VẬT LIỆU POLIME
Câu 14: Vì sao “chảo không dính” khi chiên, rán thức ăn lại không bị dính chảo?
Giải thích: Trên bề mặt trong của chảo không dính người ta có tráng một
lớp politetra floetilen được tôn vinh là “vua chất dẻo” thường gọi là “teflon”.
Có tác dụng chống dính Cho dù không cho dầu mỡ mà trực tiếp rán cá, trứng trong chảo thì cũng không xảy ra hiện tượng gì Nhưng lưu ý không nên đốt nóng chảo không trên bếp lửa vì teflon ở nhiệt độ trên 250oC bắt đầu phân hủy
và thoát ra chất độc Khi rửa chảo không nên chà xát bằng các đồ vật cứng vì có thể gây tổn hại cho lớp chống dính
Áp dụng: “Chảo không dính” hiện nay được các bà nội trợ sử dụng khá
nhiều Công dụng của chảo đã làm hài lòng tất cả các đầu bếp khó tính Nhưng
ít ai hiểu được vì sao chảo không dính lại ưu việt đến vậy Giáo viên có thể nêu
vấn đề này khi dạy về bài 14: Vật liệu polime
Trang 8Câu 15: Làm thế nào để phân biệt được lụa sản xuất từ tơ nhân tạo
(tơ visco, tơ xenlulozơ axetat) với các tơ thiên nhiên (len, tơ tằm)?
Giải thích: Lấy mỗi thứ một ít đem đốt, khi đốt len, tơ tằm có mùi khét,
còn tơ nhân tạo thì không màu Mùi khét của tơ lụa là do đốt cháy hợp chất cao phân tử chứa nitơ
Áp dụng: Giáo viên sử dụng câu hỏi này trong phần phân loại tơ ở bài 14: Vật liệu polime
Câu 16: Tại sao không nên giặt quần áo nilon, len, tơ tằm bằng xà phòng có độ kiềm quá cao, không nên giặt bằng nước nóng hoặc là ủi quá nóng các đồ vật trên?
Giải thích: Do tơ nilon (poliamit), len, tơ tằm (protit) đều chứa nhóm
-CO-NH- trong phân tử Các nhóm này rất dễ bị thủy phân trong môi trường kiềm Vì vậy độ bền của quần áo (sản xuất từ nilon, len, tơ tằm) sẽ giảm rất nhiều khi giặt bằng xà phòng có độ kiềm cao Mặt khác nilon, len, tơ tằm có
độ bền nhiệt kém do dó không nên giặt bằng nước quá nóng hoặc là ủi quá nóng trên các đồ trên
Áp dụng: Đây là câu hỏi liên hệ thực tế về tính chất hóa học của các loại
tơ được ứng dụng vào bài 14: Vật liệu polime
Chương 5: ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI
Câu 17: Vì sao dưới tác dụng của lực cơ học Kim loại bị biến dạng nhưng mạng tinh thể không thay đổi?
Giải thích: Do tính biến vị của electron nên mặc dù tinh thể kim loại có
thể bị biến dạng dưới tác dụng của lực cơ học, nhưng liên kết không bị phá hủy, các lớp nguyên tử trong mạng dễ dàng trượt lên nhau gây nên tính dẻo, dễ dát mỏng, dễ kéo dài thành sợi
Áp dụng: Đây là tính chất vật lí của kim loại, giáo viên sử dụng hiện
tượng này để nhấn mạnh tầm quan trọng của các electron tự do trong mạng tinh
thể kim loại ở bài18 Tính chất của kim loại Dãy điện hóa của kim loại
Câu 18: Tại sao không thể dập tắt đám cháy của các kim loại: K, Na,
Giải thích: Do các kim loại trên có tính khử mạnh nên vẫn cháy được
trong khí CO2
Mg + CO2 →t0 MgO + C
Áp dụng: Giáo viên có thể đề cập câu hỏi trên cho phần cách “Tính chất
hóa học” ở bài18 Tính chất của kim loại Dãy điện hóa của kim loại
Câu 19: Tại sao những đồ dùng bằng sắt dùng sau một thời gian thì bị
gỉ tạo thành gỉ sắt?
Giải thích: Trong quá trình sử dụng, đồ dùng bằng sắt tiếp xúc với môi
trường không khí ẩm nên sắt bị ăn mòn điện hóa làm đồ vật bị hỏng Do đó để bảo vệ đồ dùng bằng sắt, người ta thường dùng những chất bền vững đối với môi trường để phủ ngoài mặt kim loại ngăn không cho sắt tiếp xúc với nước, oxi không khí và một số chất khác trong môi trường
Trang 9Áp dụng: Giáo viên có thể dùng câu hỏi trên liên hệ thực tế khi dạy phần
ăn mòn điện hóa ở bài 20: Sự ăn mòn kim loại.
Câu 20: Vì sao ở các cơ sở đóng tàu thường gắn một miếng kim loại Kẽm Zn ở phía sau đuôi tàu?
Giải thích: Thân tàu biển được chế tạo bằng gang thép Gang thép là hợp
kim của sắt, cacbon và một số nguyên tố khác Người ta gắn miếng Zn (hoặc Mg) là kim loại hoạt động mạnh hơn ở phía sau đuôi tàu tạo pin điện hóa và Zn (hoặc Mg) là kim loại mạnh hơn bị oxi hóa, sắt bị bảo vệ
Áp dụng: Để chống ăn mòn kim loại người ta dùng phương pháp điện hóa
(dùng Zn) để bảo vệ vỏ tàu biển như trên rất hiệu quả và được ứng dụng rất
rộng rãi Giáo viên có thể nêu vấn đề này trong phần “chống ăn mòn kim loại”
ở bài 20: Sự ăn mòn kim loại.
Chương 6: KIM LOAI KIỀM, KIỀM THỔ VÀ NHÔM
Câu 21: Hiện tượng tạo hang động và thạch nhũ ở vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng với những hình dạng phong phú đa dạng được hình thành như thế nào?
trong không khí có CO2 tạo thành môi trường axit sẽ bào mòn đá thành những hình dạng đa dạng:
CaCO3 + CO2 + H2O → Ca(HCO3)2 Theo thời gian tạo thành các hang động, khi nước có chứa Ca(HCO3)2 ở
đá thay đổi về nhiệt độ và áp suất nên khi giọt nước nhỏ từ từ có cân bằng:
Ca(HCO3)2 → CaCO3 + CO2↑ + H2O
Như vậy, lớp CaCO3 dần dần lưu lại ngày càng nhiều, dày tạo thành
những hình thù đa dạng
Áp dụng: Đây là một hiện tượng thường gặp trong các phiến đá, hang động núi
đá, cụ thể là Phong Nha Kẻ Bàng (Quảng Bình) Học sinh sẽ biết được quá trình hình thành các hang động với những hình dạng phong phú là do thiên nhiên
kiến tạo dựa trên các quá trình biến đổi hóa học Dựa vào tính chất của Canxi
cacbonat giáo viên có thể đề cập vấn đề trên ở bài 26:Kim loại kiềm thổ và hợp chất chất quan trọng của kim loại kiềm thổ.
Câu 22: Tại sao khi tô vôi lên tường thì lát sau vôi khô và cứng lại? Giải thích: Vôi là canxi hiđroxit, là chất tan ít trong nước nên khi cho
nước vào tạo dung dịch trắng đục, khi tô lên tường thì Ca(OH)2 nhanh chống khô và cứng lại vì tác dụng với CO2 trong không khí theo phương trình:
Ca(OH)2 + CO2 → CaCO3 ↓+ H2O
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng tính chất
hóa học của canxi hiđroxit bài 26: Kim loại kiềm thổ và hợp chất chất quan
trọng của kim loại kiềm thổ.
Câu 23: Tại sao những người ăn trầu thường có hàm răng rất
chắc và bóng?
Giải thích: Quá trình hình thành men răng:
5Ca2+ + 3PO43- + OH- → Ca5(PO4)3OH
Trang 10Trong vôi có Ca2+ và OH- nên cân băng trên chuyển dịch theo chiều thuận tạo men răng làm cho răng chắc và bóng
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu về hiện tượng thực tế này vào phần
caxi hiđroxit hỏi trên cho phần tích hợp bảo vệ sức khỏe ở bài 26:Kim loại
kiềm thổ và hợp chất chất quan trọng của kim loại kiềm thổ.
Câu 24: Vì sao khi đựng nước vôi bằng chậu nhôm thì chậu nhôm
sẽ bị thủng?
Giải thích: Vì nhôm là kim loại tạo được hợp chất Al2O3 là oxit lưỡng tính Nên lớp màng mỏng Al2O3 trên bề mặt nhôm tác dụng với nước vôi tạo ra muối tan Khi không còn lớp màng oxit bảo vệ, nhôm sẽ tác dụng với nước tạo
ra Al(OH)3 là hiđroxit lưỡng tính nên tác dụng tiếp với nước vôi
Al2O3 + Ca(OH)2 → Ca(AlO2)2 + H2O (1) 2Al(OH)3 + Ca(OH)2 → Ca(AlO2)2 + 4H2O (2) Vậy vậy, chậu nhôm bị thủng do nhôm có thể tan trong nước vôi
2Al + Ca(OH)2 + 2H2O → Ca(AlO2)2 + 3H2
Áp dụng: Mục đích là cung cấp cho học sinh một số tình huống có vấn đề
nhằm kích thích sự hưng phấn và yêu cầu học sinh trả lời vào cuối tiết khi học
phần một số hợp chất của nhôm bài 27: Nhôm và hợp chất của nhôm.
Câu 25: Giải thích hiện tượng: “Một nồi nhôm mới mua về sáng lấp lánh bạc, chỉ cần dùng nấu nước sôi, bên trong nồi nhôm, chổ có nước biến thành màu xám đen?”
Giải thích: Thực tế trong nước có hòa tan nhiều chất, thường gặp nhất là
các muối canxi, magiê và sắt Các nguồn nước có thể chứa lượng muối sắt ít nhiều khác nhau, loại nước chứa nhiều sắt “ là thủ phạm” làm cho nồi nhôm có màu đen Vì nhôm có tính khử mạnh hơn sắt nên nhôm sẽ đẩy sắt ra khỏi muối của nó và thay thế ion sắt, còn ion sắt bị khử sẽ bám vào bề mặt nhôm, nồi nhôm sẽ bị đen Vì vậy bên trong nồi nhôm, chổ có nước biến thành màu xám đen có 3 điều kiện: Lượng muối sắt trong nước phải đủ lớn, thời gian đun sôi phải đủ lâu, nồi nhôm phải là nồi mới
Áp dụng: Giáo viên có thể nêu tình huống có vấn đề trên để dẫn vào bài 18: NHÔM Sau đó học sinh dựa vào những kiến thức đã học ở cuối
tiết học để giải thích hiện tượng nồi nhôm bị đen
Câu 26: Tại sao khi đánh phèn chua vào nước thì nước lại trở nên trong?
Giải thích: Công thức hóa học của phèn chua là K2SO4.Al2(SO4)3.24H2O
Do khi đánh phèn trong nước phèn tan ra tạo kết tủa Al(OH)3, chính kết tủa keo này đã dính kết các hạt đất nhỏ lơ lửng trong nước đục thành các hạt đất to hơn, nặng và chìm xuống làm nước trong Nên trong dân gian có câu:
“Anh đừng bắc bậc làm cao Phèn chua em đánh nước nào cũng trong”