Chính dưới thời của Lê Thánh Tông bản đồ đầu tiên của quốc gia Đại Việt được hoàn thành, mô hình nhà nước quân chủ tập quyền và hệ thống pháp luật của Lê Thánh Tông được làm khuôn mẫu ch
Trang 1NHÀ NƯỚC PHONG
KIẾN QUÂN CHỦ TẬP QUYỀN THỜI LÊ SƠ
Trang 2Sơ lược các triều đại
▪ Quân Minh thủ tiêu nền độc lập của Đại Việt, và đặt Đại Việt = quận Giao Chỉ thuộc nhà Minh (Phủ, Châu,
Huyện, Xã )
▪ Ở quận Giao Chỉ có tam ty, đứng đầu là Tri phủ, Tri châu
và Tri huyện, người Việt giữ các chức Xã trưởng
▪ Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn - Lê Lợi lãnh đạo thắng lợi
khôi phục nền độc lập dân tộc
▪ Năm 1428, Lê Lợi chính thức lên ngôi, đóng đô ở Đông Kinh (Thăng Long), lấy niện hiệu là Thuận Thiên, lấy lại tên nước là Đại Việt
Trang 3Sơ lược các triều đại
▪ Hậu Lê:
- GĐ Lê Sơ từ 1428 – 1527
- GĐ Lê Mạt hay Lê Trung Hưng 1527 – 1789
▪ Giai đoạn Lê Sơ trãi qua 99 năm với đời 11 vị vua:
Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê
Nghi Dân, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Lê Túc Tông, Lê Uy Mục, Lê Tương Dực, Lê Chiêu Tông,
Lê Cung Hoàng
Trang 4Sơ lược các triều đại
▪ Lê Thái Tổ: sáng lập ra triều Hậu Lê mặc dù chỉ nắm
ngôi có 5 năm, nhưng ông đã đặt nền móng vững chắc cho triều đại.
▪ Lê Thái Tông lên ngôi khi mới 11 tuổi nhưng đã tự mình điều hành triều chính, sử sách ca ngợi ông là vị vua anh minh, trọng đạo, chuộng nho,… 1442, ông cho bắt đàu dựng bia tiến sĩ ở Văn Miếu
▪ Lê Thánh Tông lên ngôi 19 tuổi, ở ngôi 37 năm Chính dưới thời của Lê Thánh Tông bản đồ đầu tiên của quốc gia Đại Việt được hoàn thành, mô hình nhà nước quân chủ tập quyền và hệ thống pháp luật của Lê Thánh Tông được làm khuôn mẫu cho các triều đại sau
Trang 5MỘT SỐ CHÍNH SÁCH TIÊU BIỂU CỦA NN LÊ SƠ
- Chính sách lộc điền và quân điền:
▪ Lộc điền: ban cấp một phần ruộng đất công cho quý tộc quan lại làm bổng lộc gọi là chế độ lộc điền
▪ Quân điền: ruộng đất công ở các làng xã được chia cho dân cày cấy theo quy định của NN
Trang 6Chính sách lộc điền
▪ Lộc điền: bà con của vua và quan chức hàm tứ phẩm trở lên Ruộng ban cấp gồm một phần nhỏ cấp vĩnh viễn còn phần lớn sau khi người được cấp chết đã 3 năm phải trả lại NN
▪ Cấp ruộng đất không cấp hộ nông dân sống trên đất Người được cấp thu thuế ruộng đất làm lộc, nông
dân cày cấy vẫn là thần dân của, ruộng đất lộc điền vẫn thuộc sở hữu của nhà vua, không có quyền được bán, đổi chác lộc điền kể cả phần thế nghiệp
▪ Mục đích:
Trang 7Chính sách quân điền
▪ Về nguyên tắc, tất cả mọi người trong xã đều được chia ruộng đất nhưng tùy thuộc vào phẩm hàm, chức tước và thứ bậc trong xã hội.
▪ Đối tượng: quan có hàm từ ngũ phẩm trở xuống (kể cả quan tam phẩm, tứ phẩm mà chưa được cấp đủ lộc điền đến những cô hỏa, tàn tật, vợ con của những tù đồ, lưu.
▪ Thời hạn: 6 năm/lần Người nông dân cày cấy ruộng đất công thực chất là tá điền của NN, phải nộp tô thuế, đi lính, đi phu cho NN
▪ Mục đích:
Trang 8Nho giáo - tư tưởng chính trị - pháp
lý chính thống
▪ Mục tiêu: thiết lập và bảo vệ chế độ quân chủ chuyên chế
▪ Về mặt NN: “tôn quân quyền” xuất phát từ “thiên mệnh” nhằm xây dựng củng cố NN tập quyền với quyền lực vô hạn của nhà vua.
▪ Về phương thức cai trị: Đức Trị, lấy việc tu thân, giáo hóa dân bằng lễ, nhạc là chủ yếu; hình pháp chỉ là bổ trợ.
▪ Về thực chất, đường lối chính trị của NN Lê Sơ là ngoại Nho, nội Pháp Đó không phải là sự sáng tạo mà là do Lê Thánh Tông đã noi theo truyền thống pháp luật của Trung Quốc
Trang 9TỔ CHỨC BỘ MÁY NN THỜI ĐẦU
LÊ SƠ (1428 – 1460)
▪ Về tổ chức chính quyền trung ương, nhà vua chủ
trương xây dựng một NN phong kiến chính thể quân chủ trung ương tập quyền trên nền tảng nguyên tắc
“tôn quân quyền” của nho giáo
▪ Vua: quyền lực tối cao trong NN,
▪ Giúp vua: Tả, Hữu tướng quốc (Tể tướng)
▪ Đây là chức quan đầu triều, giúp vua quản lý toàn
bộ đội ngũ quan lại trong nước còn có Đại Hành
Khiển đứng đầu hàng quan văn
Trang 10TỔ CHỨC BỘ MÁY NN THỜI ĐẦU LÊ SƠ (1428 – 1460)
Chính quyền địa phương:
▪ Cấp đạo: 5 đạo, đứng đầu là Hành Khiển phụ trách chung
▪ Cấp Lộ Trấn – Phủ: An Phủ Sứ Trấn Phủ Sứ -Tri Phủ
▪ Cấp Châu: Thiêm Phán
▪ Cấp Huyện: tuần sát
▪ Cấp xã
Tổ chức quân đội:
Trang 11TỔ CHỨC BỘ MÁY NN THỜI
ĐẦU LÊ SƠ (1428 – 1460)
Về thể lệ tuyển dụng quan lại gồm:
▪ Tiến cử: gồm 3 hình thức
▪ Khoa cử: mở khoa thi Từ đời Lê Thái Tông trở đi, khoa
cử dần dần trở thành phương thức chủ yếu để tuyển
quan lại Tổ chức thi hương ở các đạo, thi hội ở kinh đô.
▪ Khảo khóa: thải loại những quan chức không đủ năng lực và phẩm chất, đồng thời sắp xếp, thăng bổ những
người có đủ tài đức vào đúng bậc quan tương ứng
Trang 12CUỘC CẢI CÁCH BỘ MÁY NN
CỦA LÊ THÁNH TÔNG
Cuộc cải cách được thực hiện theo 3 nguyên tắc:
▪ Bỏ bớt một số chức quan, cơ quan và cấp chính quyền trung gian để đảm bảo quyền lực tập trung vào nhà vua,
▪ Không để tập trung quá nhiều quyền hành vào
một cơ quan, quan lại mà tản ra cho nhiều cơ
quan để ngăn chặn sự tiếm quyền,
▪ Thực hiện cơ chế kiểm tra, giám sát lẫn nhau để loại trừ sự lạm quyền và nâng cao trách nhiệm
hoạt động
Trang 13CUỘC CẢI CÁCH BỘ MÁY NN CỦA LÊ THÁNH TÔNG
▪ Tổ chức cqtw: bãi bỏ chức tể tướng, chức Đại
Hành Khiển Lê Thánh Tông đã bãi bỏ và tự
mình đứng ra điều khiển trăm quan
▪ Các quan đại thần thường là các công thần và có
uy tín rất lớn, dễ ảnh hưởng tới quyền lực của
nhà vua, nên ở triều Lê Thánh Tông, nhiều quan đại thần thường không được kiêm nhiệm những trọng trách, họ trở thành những công thần không
có thực quyền mà chỉ được quyền hưởng bổng lộc cao
Trang 14CUỘC CẢI CÁCH BỘ MÁY NN CỦA LÊ THÁNH TÔNG
Địa phương: Lê Thánh Tông đã bãi bỏ một số đơn vị hành chính là lộ và trấn Qua cuộc cải tổ này, thì Đại Việt có các cấp chính quyền địa phương sau đây
▪ Cấp đạo – xứ: 12 đạo và Phủ Trung Đô, đứng đầu là Phủ
Doãn Phủ Trung Đô là đơn vị hành chính tương đương cấp đạo Sau đó, Lê Thánh Tông đánh chiếm thêm một vùng đất của ChămPa và lập thêm một đạo Từ 1490, đạo được gọi là
Xứ, nên từ đó Đại Việt có 13 xứ và 1 phủ trung đô
▪ Cấp Phủ: đứng đầu Phủ là Tri Phủ
▪ Cấp Huyện – Châu: đứng đầu là Tri huyện và Tri châu
▪ Cấp xã:
Trang 15CUỘC CẢI CÁCH BỘ MÁY NN CỦA LÊ THÁNH TÔNG
▪ Lê Thánh Tông bãi bỏ chức Hành Khiển thay vào
đó là tam ty Sự kiện này đánh dấu hình thức cai quản địa phương bởi một cá nhân, hơn nữa chỉ
thiên về lĩnh vực quân sự sang hình thức cai quản bằng một cơ quan có một quan chức đứng đầu và
có sự phân công trong bộ phận cơ quan đó
Nhằm ngăn ngừa khuynh hướng cát cứ và tăng cường quyền lực ở Trung ương
Trang 16CUỘC CẢI CÁCH BỘ MÁY NN CỦA LÊ THÁNH TÔNG
Tam ty bao gồm 3 ty:
▪ Thừa ty: phụ trách tài chính, hành chính và dân
sự, đứng đầu là thừa chính sứ
▪ Đô ty: phụ trách trong lĩnh vực quân sự,đứng đầu
là Đô Tổng Binh Sứ
▪ Hiến ty: có trách nhiệm phụ trách việc xét xử và giám sát 2 ty trên, giám sát mọi công việc để tâu lên triều đình, đứng đầu là Hiến Sát
Trang 17CUỘC CẢI CÁCH BỘ MÁY NN CỦA LÊ THÁNH TÔNG
▪ Cấp xã: là cấp hành chính cơ sở Lê Thánh Tông rất chú trọng việc cải tổ hành chính cấp xã, vì
đây là nơi cung cấp sức người, sức của cho NN quân chủ Điều đó không chỉ thể hiện ở chổ là nhà vua ban hành rất nhiều văn bản PL về cấp
xã mà còn quan trọng hơn đã thực hiện 3 biện
pháp để cải tổ cấp xã:
▪ Một là, phân định lại các xã
▪ Hai là, đặt ra tiêu chuẩn cho xã trưởng,
▪ Ba là, hạn chế và kiểm duyệt hương ước
Trang 18CUỘC CẢI CÁCH BỘ MÁY NN CỦA LÊ THÁNH TÔNG
▪ Một là, phân định lại các xã, tới thời của vua Lê Thánh Tông, xã được phân định lớn hơn, dân số của từng loại xã lớn gấp 5 đến 10 lần Tùy
thuộc vào số lượng hộ, có tiểu xã (<100 hộ),
trung xã (> 300 hộ) và đại xã (>500 hộ) Các xã không phải cố định và bất biến mà có sự tách xã
cũ lập xã mới
Trang 19CUỘC CẢI CÁCH BỘ MÁY NN CỦA LÊ THÁNH TÔNG
▪ Hai là, đặt ra tiêu chuẩn cho xã trưởng, Lê Thánh Tông vẫn để cho các xã bầu ra các chức xã trưởng của mình và đưa lên cấp chính quyền cấp trên chuẩn y, nhưng mặc
khác nhà vua đặt ra tiêu chuẩn cho các xã trưởng:
▪ Bầu chọn trong số những người già, cao tuổi, đang theo học ở trường quốc học, có hạnh kiểm tốt, không vướng vào việc quân;
▪ Anh em thân thích không được có 2 người cùng làm xã trưởng, nhằm tránh nạn đồng đảng, bè cánh;
▪ Thải loại những xã trưởng già yếu, kém năng lực, không kham nỗi công việc.
Trang 20CUỘC CẢI CÁCH BỘ MÁY NN CỦA LÊ THÁNH TÔNG
▪ Ba là, hạn chế và kiểm duyệt hương ước, nhằm
để hạn chế tính tự trị của các làng xã, góp phần củng cố quân chủ chuyên chế