1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Vận dụng kiến thức hóa học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên

24 838 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có những vấn đề hóa học có thể giúp học sinh giải thích các hiện tượng trong tự nhiên, tránh việc mê tín dị đoan, thậm chí hiểuđược những dụng ý khoa học hóa học trong những câu ca dao –

Trang 1

I Mở Đầu

1 Lý do chọn đề tài :

Trong quá trình hội nhập nền kinh tế ngày nay, giáo dục được coi là một lĩnhvực rất quan trọng và luôn đi trước một bước trong sự phát triển kinh tế của mỗiquốc gia Vì vậy vấn đề chất lượng dạy - học nói chung và dạy học Hóa học nóiriêng ngày càng trở thành mối quan tâm chung của các nhà sư phạm cũng như

các nhà quản lý giáo dục và xã hội Đảng và nhà nước ta đã khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển” Điều

đó đã được thể hiện trong các Nghị quyết của Trung ương

- “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.”(mục 2 điều 28)

Như vậy, giáo dục phổ thông không phải là truyền thụ kiến thức đơnthuần mà chú trọng hơn tới:

- Bồi dưỡng năng lực tự học, học suốt đời, học để nâng cao trình độ chuyênmôn, học để chuyển đổi nghề nghiệp…

- Rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề nảysinh trong đời sống, lao động và sản xuất

- Khích lệ học sinh phát huy tính chủ động trong việc chiếm lĩnh tri thức, pháthuy tính sáng tạo trong việc vận dụng kiến thức để giải quyết tình huống có vấn

đề nảy sinh trong học tập và trong thực tiễn

Môn hoá học trường phổ thông cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức, kĩnăng phổ thông, cơ bản, hiện đại, thiết thực và gắn với đời sống Nội dung chủyếu bao gồm cấu tạo chất, sự biến đổi của các chất, những ứng dụng và tác hạicủa các chất trong đời sống, sản xuất, môi trường Những nội dung này góp phầngiúp học sinh có học vấn phổ thông tương đối toàn diện để có thể tiếp tục học lênđồng thời có thể giải quyết một số vấn đề có liên quan đến hoá học trong đờisống và sản xuất, mặt khác góp phần phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giảiquyết vấn đề cho học sinh

Trước tình hình học hoá học phải đổi mới phương pháp dạy đã và đang thực

sự là yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy Một trong những yếu tố để đạt giờ dạy

có hiệu quả và tiến bộ là phải phát huy tính thực tế, giáo dục về môi trường, về tưtưởng vừa mang bản sắc dân tộc mà không mất đi tính cộng đồng trên toàn thếgiới, những vấn đề cũ nhưng không cũ mà vẫn có tính chất cập nhật và mới mẻ,đảm bảo: Tính khoa học - hiện đại, cơ bản, tính thực tiễn và giáo dục kỹ thuậttổng hợp, tính hệ thống sư phạm

Tuy nhiên mỗi tiết học không nhất thiết phải hội tụ nhất thiết những quanđiểm nêu trên, cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng , đừng quá lạm dụng khi lượng kiến

Trang 2

thức không thống nhất Mặt khác tuỳ vào nội dung và đơn vị kiến thức trong tiết

dạy mà ta lồng vào các vấn đề nêu trên sao cho hợp l

2 Muc đích nghiên cứu

Môn hoá học trong trường phổ thông là một môn học khó, nếu không cónhững bài giảng và phương pháp hợp lý phù hợp với thế hệ học trò dễ làm chohọc sinh thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận Đã có hiện tượng một số bộphận học sinh không muốn học hoá học, ngày càng lạnh nhạt với giá trị thực tiễncủa hoá học

Để nâng cao hiệu quả trong giảng dạy, giáo viên nên là người hướng dẫnhọc sinh chủ động trong quá trình lĩnh hội tri thức hoá học Hãy "thắp sáng ngọnlửa " chủ động lĩnh hội tri thức trong từng học sinh, đừng biến học sinh thành

"cái bình đựng kiến thức" vô thức, xa rời thực tiễn

Để việc giảng dạy môn hóa học đạt hiệu quả cao hơn tôi đã mạnh dạn cảitiến nội dung, phương pháp trong các bài giảng hóa học THPT Một trong những

điểm tôi đã làm là "Vận dụng kiến thức hoá học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống" Có những vấn đề hóa học có thể giúp học sinh

giải thích các hiện tượng trong tự nhiên, tránh việc mê tín dị đoan, thậm chí hiểuđược những dụng ý khoa học hóa học trong những câu ca dao – tục ngữ, mà thế

hệ đi trước để lại và có thể ứng dụng trong thực tiễn đời sống thường ngày chỉbằng những kiến thức rất phổ thông mà không gây nhàm chán, xa lạ, lại có tácdụng kích thích tính chủ động, sáng tạo, hứng thú trong môn học bên cạnh đó cómột số kiến thức mà học sinh học không thể thuộc , dễ nhầm lẫn thì tôi bày chohọc sinh cách nhớ bằng những câu đọc vui làm cho hóa học không khô khan, bớt

đi tính đặc thù và phức tạp

Trong phạm vi đề tài tôi không có tham vọng giải quyết mọi vấn đề trongthực tiễn để có thể để nâng cao hiệu quả dạy - học môn hóa học ở trường THPTbằng việc giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học mà chỉ nêulên một vài suy nghĩ, đề xuất của cá nhân coi đó là kinh nghiệm qua một số ví dụminh họa, với mong muốn góp phần tạo ra và phát triển phương pháp dạy hóahọc hiệu quả qua các bài giảng hóa học, góp phần cho học sinh học hóa dễ hiểu,thiết thực, gần gũi với đời sống và lôi cuốn học sinh khi học; để hoá học khôngcòn mang tính đặc thù khó hiểu như một "thuật ngữ khoa học"

Đề tài này nghiên cứu và áp dụng cho đối tượng học sinh tại các lớp tôigiảng dạy Có thể áp dụng cho các tiết dạy Hóa học ở trường phổ thông

3 Đối tượng nghiên cứu

Mục tiêu của đề tài này là giúp cho học sinh hiểu đúng đắn và hoàn chỉnhhơn về những tri thức, hiểu biết về thế giới quan , các hiện tượng tự nhiên thôngqua các bài học, giờ thực hành của hoá học trong chương trình phổ thông ,đồngthời là cơ sở phát huy tính sáng tạo đưa những ứng dụng phục vụ trong đời sốngcủa con người Hóa học góp phần giải tỏa , xoá bỏ hiểu biết sai lệch làm hại đếnđời sống, tinh thần con người

Trang 3

1."Vận dụng kiến thức hoá học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên

và cuộc sống" nhằm nâng cao hiệu quả dạy - học môn hóa học ở trường THPT

bằng việc giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học, bằng cáchnêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường sau khi đã kết thúcbài học Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh căn cứ vào những kiến thức

đã học tìm cách giải thích hiện tượng ở nhà hay những lúc bắt gặp hiện tượng đó,học sinh sẽ suy nghĩ, ấp ủ câu hỏi vì sao lại có hiện tượng đó? hay những lúc đọcmột số câu thơ vui trong hoá, học sinh sẽ suy nghỉ vì sao lại như vậy , điều đó có

ý nghĩa như thế nào Tạo tiền đề thuận lợi khi học bài học mới tiếp theo

2."Vận dụng kiến thức hoá học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên

và cuộc sống" bằng cách nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày

thường qua các phương trình phản ứng hóa học cụ thể trong bài học Cách nêuvấn đề này có thể sẽ mang tính cập nhập, làm cho học sinh hiểu và thấy được ýnghĩa thực tiễn bài học Giáo viên có thể giải thích để giải tỏa tính tò mò của họcsinh mặc dù vấn đề được giải thích có tính chất rất phổ thông

3 "Vận dụng kiến thức hoá học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên

và cuộc sống" bằng cách nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày

thường thay cho lời giới thiệu bài giảng mới Cách nêu vấn đề này có thể tạo chohọc sinh bất ngờ, có thể là một câu hỏi rất khôi hài hay một vấn đề rất bìnhthường mà hàng ngày học sinh vẫn gặp nhưng lại tạo sự chú ý quan tâm của họcsinh trong quá trình học tập

4 "Vận dụng kiến thức hoá học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên

và cuộc sống" bằng cách nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày

thường thông qua những câu chuyện ngắn có tính chất khôi hài, gây cười có thểxen vào bất cứ lúc nào trong suốt tiết học, hướng này có thể góp phần tạo khôngkhí học tập thoải mái Đó cũng là cách kích thích niềm đam mê học hóa

5 "Vận dụng kiến thức hoá học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên

và cuộc sống" bằng cách tiến hành tự làm thí nghiệm qua các hiện tượng thực

tiễn xung quanh đời sống hàng ngày ở địa phương, gia đình,… sau khi đã học bàigiảng Cách nêu vấn đề này có thể làm cho học sinh căn cứ vào những kiến thức

đã học tìm cách giải thích hay tự tạo lại kiến thức qua các thí nghiệm ở nhà haynhững lúc bắt gặp hiện tượng , tình huống đó Giúp học sinh phát huy khả năngứng dụng hóa học vào đời sống thực tiễn

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này tôi đã thực hiện thiết kế kiểm tra sau tác động với cácnhóm ngẫu nhiên

+ Nhóm 1 là các học sinh ở các lớp 11B 1 , 11B 2: áp dụng thường xuyên trong bàihọc việc “vận dụng kiến thức Hóa học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên

và cuộc sống”

Trang 4

+ Nhóm 2 là các học sinh ở các lớp 11B4, 12C 5 :áp dụng không thường xuyên

hoặc không áp dụng trong bài học việc “vận dụng kiến thức Hóa học để giải thíchcác hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống”

Kết quả được đo thông qua việc so sánh độ chênh lệch về kết quả tiếp thukiến thức, kỹ năng, thái độ sôi nổi của học sinh trong giờ học

Thiết kế này giúp tôi so sánh hiệu quả của hai phương pháp dạy học khácnhau: một phương pháp áp dụng thường xuyên việc “vận dụng kiến thức Hóa học

để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống” trong các bài học Hóahọc và một phương pháp không áp dụng hoặc ít áp dụng

Để tổ chức thực hiện được giáo viên có thể dùng nhiều phương tiện, nhiềucách như: Bằng lời giải thích, bằng hình ảnh, đoạn phim, bài hát,… có thể tiếnhành dạy trong hoàn cảnh dùng máy chiếu hay không dùng máy chiếu… điều nàycần phụ thuộc vào giáo viên ở mỗi trường THPT, căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể vàphong cách dạy khác nhau để huy động tối đa vì hiệu quả giáo dục với nội dung

đề tài này, có những kinh nghiệm có thể áp dụng cho nhiều người, nhưng có

những phong cách không thể áp dụng cho giáo viên khác Vì phong cách dạy “nó như tính cách của mỗi con người không thể ai cũng giống ai” nhưng đảm bảo

được nội dung dạy học theo yêu cầu của chương trình Tôi nói như vậy không cónghĩa người giáo viên không đổi mới phương pháp giảng dạy mà mỗi giáo viênluôn phải tìm cách đổi mới trong phong cách dạy của mình theo yêu cầu của thực

tiễn hiện hành Có thể nói “người giáo viên như một đạo diễn cho tiết dạy của mình”.

Trong quá trình viết kinh nghiệm này tôi đã vận dụng các phương pháp sau :

- PP điều tra: Điều tra việc giảng dạy - học tập ở một số tiết dạy môn Hóa học.

- PP đối chứng: So sánh kết quả trước và sau khi dạy học.

- PP nghiên cứu tài liệu: Sưu tầm và nghiên cứu các tài liệu có liên quan

- PP kiểm tra: Đưa một số bài tập yêu cầu học sinh làm để lấy kết quả.

II

Nội dung sáng kiến

Phần ví dụ minh họa thông qua một số hiện tượng, … thực tiễn trong sốhàng nghìn, hàng vạn hiện tượng, tình huống thực tiễn có thể áp dụng và quan

điểm của tôi trong từng vấn đề cụ thể với đề tài "Vận dụng kiến thức hoá học

để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống"

VẤN ĐỀ 1: “Hiện tượng mưa axit” là gì ? Tác hại như thế nào ?

Trang 5

Mưa axit gây tổn hại cho các công trình bằng sắt thép, đá, cây cối.

1 Thực trạng của vấn đề

Mưa axit được phát hiện ra đầu tiên năm 1948 tại Thuỵ Điển Mưa axít làhiện tượng mưa mà nước mưa có độ pH dưới 5,6 Khí thải công nghiệp và khíthải của các động cơ đốt trong ( ô tô, xe máy) có chứa các khí SO2, NO, NO2,…Các khí này tác dụng với oxi O2 và hơi nước trong không khí nhờ xúc tác oxitkim loại ( có trong khói, bụi nhà máy) hoặc ozon tạo ra axit sunfuric H2SO4 vàaxit nitric HNO3

CaCO3 + H2SO4 → CaSO4 + CO2↑ + H2O

CaCO3 + 2HNO3 → Ca(NO3)2 + CO2↑ + H2O

2.Biện pháp sử dụng để giải quyết vấn đề

Ngày nay hiện tượng mưa axit và những tác hại của nó đã gây nên nhữnghậu quả nghiêm trọng, đặc biệt là ở những nước công nghiệp phát triển Vấn đề ônhiễm môi trường luôn được cả thế giới quan tâm Việt Nam chúng ta đang rấtchú trọng đến vấn đề này Do vậy mà giáo viên phải cung cấp cho học sinh nhữnghiểu biết về hiện tượng mưa axit cũng như tác hại của nó nhằm nâng cao ý thứcbảo vệ môi trường Cụ thể giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho học sinh trả lời

sau khi dạy xong phần Sản xuất axit sunfuric - bài “Axit sunfuric Muối sunfat”(Tiết 53, 54, 55 lớp 10 CB), bài “Hợp chất có oxi của lưu huỳnh” (tiết 68 – 71 10NC) hoặc áp dụng trong bài : “Axit nitric và muối nitrat” (tiết 14,15 lớp

11CB; tiết 18, 19, 20 lớp 11NC); bài “Hóa học và vấn đề môi trường” (tiết 67 lớp12CB; tiết 85 lớp 12NC)

Chuẩn kiến thức kỹ năng cần đạt cho học sinh thông qua vấn đề:

* Chuẩn kiến thức:

Trang 6

− Vấn đề về ô nhiễm môi trường có liên quan đến hoá học.

− Vấn đề bảo vệ môi trường trong đời sống, sản xuất và học tập có liên quan đếnhoá học

* Chuẩn kỹ năng:

− Tìm được thông tin trong bài học, trên các phương tiện thông tin đại chúng

về vấn đề ô nhiễm môi trường Xử lí các thông tin, rút ra nhận xét về một số vấn

đề ô nhiễm và chống ô nhiễm môi trường

− Vận dụng để giải quyết một số tình huống về môi trường trong thực tiễn

VẤN ĐỀ 2: “Hiệu ứng nhà kính” là gì ?

Hiệu ứng nhà kính, xuất phát từ effet de serre trong

tiếng Pháp, do Jean Baptiste Joseph Fourier lầnđầu tiên đặt tên

một phần những tia hồng ngoại ( tức là những bức xạnhiệt) của Mặt Trời và để cho những tia có bước sóng từ 50000 đến 100000 Å điqua dễ dàng đến mặt đất Nhưng những bức xạ nhiệt phát ra ngược lại từ mặt đất

có bước sóng trên 140000 Å bị khí CO2 hấp thụ mạnh và phát trở lại Trái Đất làmcho Trái Đất ấm lên Theo tính toán của các nhà khoa học thì nếu hàm lượng CO2trong khí quyển tăng lên gấp đôi so với hiện tại thì nhiệt độ ở mặt đất tăng lên

4oC

Về mặt hấp thụ bức xạ, lớp CO2 ở trong khí quyển tương đương với lớpthủy tinh của các nhà kính dùng để trồng cây, trồng hoa ở xứ lạnh Do đó hiệntượng làm cho Trái Đất ấm lên bởi khí CO2 được gọi là hiệu ứng nhà kính

2.Biện pháp sử dụng để giải quyết vấn đề

Ngày nay hiện tượng “Hiệu ứng nhà kính” trở thành một vấn đề có ảnh hưởng

mang tính toàn cầu Mục đích vấn đề giúp học sinh biết được nguyên nhân và táchại của hiệu ứng nhà kính nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường Giáo viên có

thể đặt vấn đề này khi dạy phần Cacbon đioxit - bài “Hợp chất của Cacbon”

(Tiết 24 lớp 11CB; tiết 30 lớp 11NC); bài “Hóa học và vấn đề môi trường” (tiết

67 lớp 12CB; tiết 85 lớp 12NC)

Chuẩn kiến thức kỹ năng cần đạt cho học sinh thông qua vấn đề:

* Chuẩn kiến thức:

− Vấn đề về ô nhiễm môi trường có liên quan đến hoá học

− Vấn đề bảo vệ môi trường trong đời sống, sản xuất và học tập có liên quan đếnhoá học

* Chuẩn kỹ năng:

Trang 7

− Tìm được thông tin trong bài học, trên các phương tiện thông tin đại chúng

về vấn đề ô nhiễm môi trường Xử lí các thông tin, rút ra nhận xét về một số vấn

đề ô nhiễm và chống ô nhiễm môi trường

− Vận dụng để giải quyết một số tình huống về môi trường trong thực tiễn

VẤN ĐỀ 3: Vì sao sau những cơn giông, không khí trở nên trong lành, mát mẻ hơn ?

Sau những cơn mưa, nếu dạo bước trên đường phố, đồng ruộng, người tacảm thấy không khí trong lành, sạch sẽ Sở dĩ như vậy là có hai nguyên nhân:

 Nước mưa đã gột sạch bụi bẩn làm bầu không khí được trong sạch

 Trong cơn giông đã xảy ra phản ứng tạo thành ozon từ oxi:

Biện pháp sử dụng để giải quyết vấn đề :

Có tác dụng tẩy trắng và diệt khuẩn mạnh Khi nồng độ ozon nhỏ, người tacảm giác trong sạch, tươi mát

Do vậy sau cơn mưa giông trong không khí có lẫn ít ozon làm cho khôngkhí trong sạch, tươi mát

Đây là một hiện tượng tự nhiên không xa lạ với học sinh Một số học sinh

cho rằng đây là điều hiển nhiên vì “ sau cơn mưa trời lại sáng” Tuy nhiên nhìn

dưới góc độ hóa học thì ta có thể giải thích được rõ ràng vấn đề này Giáo viên có

thể đề cập trong phần ứng dụng của ozon hay đặt câu hỏi trên sau khi dạy xong bài “Oxi - Ozon” ( Tiết 49 lớp 10 CB); bài “Ozon – Hiđropeoxit” (tiết 63

10NC)

Chuẩn kiến thức kỹ năng cần đạt cho học sinh thông qua vấn đề:

* Chuẩn kiến thức:

- Ozon là dạng thù hình của oxi, điều kiện tạo thành ozon

- Tính chất vật lí của ozon, ozon trong tự nhiên và ứng dụng của ozon

* Chuẩn kỹ năng:

− Viết các phương trình hoá học minh hoạ cho tính chất hoá học của Ozon

− Vận dụng kiến thức Hóa học để giải thích một số hiện tượng trong thực tiễn

VẤN ĐỀ 4: Vì sao khi sử dụng máy photocopy phải chú ý đến việc thông gió ?

1.Thực trạng của vấn đề

Trang 8

Chúng ta đều biết khi máy photocopy làm việc thường xảy ra hiện tượngphóng điện cao áp do đó có thể sinh ra khí ozon theo phản ứng:

Hiển nhiên là lượng ozon do máy photocopy sinh ra rất bé nên nếu ngẫu nhiên

mà tiếp xúc với nó cũng chưa có thể gây nguy hại cho cơ thể Nhưng nếu tiếp xúcvới ozon trong thời gian dài và nếu không chú ý làm thông gió căn phòng thì doozon tập hợp nhiều trong phòng đến mức vượt tiêu chuẩn an toàn thì sẽ có ảnhhưởng đến sức

2.Biện pháp sử dụng để giải quyết vấn đề

Giáo viên có thể đề cập vấn đề trên khi nói về tác hại của ozon trong bài

“Oxi - Ozon” ( Tiết 49 lớp 10 CB); bài “Ozon – Hiđropeoxit” (tiết 63 10NC).

Sau bài học học sinh sẽ biết được sự nguy hiểm khi photocopy tài liệu vàbiết cách tránh được sự nguy hại này

Chuẩn kiến thức kỹ năng cần đạt cho học sinh thông qua vấn đề:

* Chuẩn kiến thức:

- Ozon là dạng thù hình của oxi, điều kiện tạo thành ozon

- Tính chất vật lí của ozon, ozon trong tự nhiên và ứng dụng của ozon

* Chuẩn kỹ năng:

− Viết các phương trình hoá học minh hoạ cho tính chất hoá học của Ozon

− Vận dụng kiến thức Hóa học để giải thích một số hiện tượng trong thực tiễn

VẤN ĐỀ 5: Vì sao chất CFC bị cấm sử dụng?

1.Thực trạng của vấn đề

Tầng bình lưu nằm trên tầng đối lưu với ranh giới trên dao động trongkhoảng độ cao 50 km Ở độ cao khoảng 25 km trong tầng bình lưu tồn tại một lớpkhông khí giàu khí Ozon (O3) thường được gọi là tầng Ozon Hàm lượng khíOzon trong không khí rất thấp, chiếm một phần triệu, chỉ ở độ cao 25 - 30 km,

Trang 9

khí Ozon mới đậm đặc hơn (chiếm tỉ lệ 1/100.000 trong khí quyển) Người ta gọitầng khí quyển ở độ cao này là tầng Ozon

Tháng 10 năm 1985, các nhà khoa học Anh phát hiện thấy tầng khí ozontrên không trung Nam cực xuất hiện một "lỗ thủng" rất lớn, bằng diện tích nước

Mỹ Năm 1987, các nhà khoa học Đức lại phát hiện tầng khí ozon ở vùng trờiBắc cực có hiện tượng mỏng dần, có nghĩa là chẳng bao lâu nữa tầng ozon ở Bắccực cũng sẽ bị thủng Tin này nhanh chóng được truyền khắp thế giới và làmchấn động dư luận

Các nhà khoa học đều cho rằng, nguyên nhân này có liên quan tới việc sảnxuất và sử dụng Clorofluorocacbon(viết tắt là CFC): CFC là những hoá chất docon người tổng hợp để sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp và từ đó xâmnhập vào khí quyển CFC 11 hoặc CFCl3 hoặc CFCl2 hoặc CF2Cl2 (còn gọi làfreon 12 hoặc F12) là những chất thông dụng của CFC Một lượng nhỏ CFC khác

là CHC1F2 (hoặc F22), CCl4 và CF4 cũng xâm nhập vào khí quyển CFC có tính

ổn định cao và không bị phân huỷ Khi CFC đạt tới thượng tầng khí quyển chúng

sẽ được các tia cực tím phân huỷ Tốc độ phân huỷ CFC sẽ rất nhanh nếu tầngôzôn bị tổn thương và các bức xạ cực tím tới được những tầng khí quyển thấphơn

Không những tủ lạnh, máy lạnh cần dùng đến freon mà trong dung dịch giặttẩy, bình cứu hoả cũng sử dụng freon và các chất thuộc dạng freon Trong quá trình sản xuất và sử dụng các hoá chất đó không tránh khỏi thất thoát một lượng lớn hoát chất dạng freon bốc hơi bay lên phá huỷ tầng ozon Qua đó chúng ta thấy rằng, tầng zon bị thủng chính là do các chất khí thuộc dạng freon gây ra, các hoá chất đó không tự có trong thiên nhiên mà do con người tạo ra Rõ ràng, con người là thủ phạm làm thủng tầng ozon, đe doạ sức khoẻ của chính mình

Sớm ngừng sản xuất và sử dụng các hoá chất dạng freon là biện pháp hữu hiệu nhất để cứu tầng ozon Nhiều hội thảo quốc tế đã bàn tính các biện pháp khắc phục nguy cơ thủng rộng tầng ozon 112 nước thuộc khối Cộng đồng Châu

Âu (EEC) đã nhất trí đến cuối thế kỷ này sẽ chấm dứt sản xuất và sử dụng các hoá chất thuộc dạng freon Vì vậy các nhà khoa học đang nghiên cứu sản xuất loại hoá chất khác thay thế các hoá chất ở dạng freon, đồng thời sẽ chuyển giao công nghệ sản xuất cho các nước đang phát triển Có như vậy, việc ngừng sản xuất freon mới trở thành hiện thực Muốn đạt được yêu cầu thiết thực này, không chỉ riêng một vài nước mà cả thế giới đều phải cố gắng thì mới có thể bảo vệ được tầng ozon của Trái đất

2.Biện pháp sử dụng để giải quyết vấn đề

Lỗ thủng tầng Ozon” hiện nay đang là vấn đề được cả thế giới quan tâm Giáo viên có thể nêu vấn đề này khi dạy về “Ứng dụng của flo” – Bài “ Flo – Brom – Iot” (Tiết 42, 43 lớp 10 CB); bài “Flo” (tiết 55 lớp 10NC) hoặc bài “Dẫn xuất halogen của Hiđrocacbon” (Tiết 55 lớp 11CB; tiết 69,70 lớp 11NC) hoặc bài

“Hóa học và vấn đề môi trường” (tiết 67 lớp 12 CB; tiết 85 lớp 12NC).

Trang 10

Chuẩn kiến thức kỹ năng cần đạt cho học sinh thông qua vấn đề:

* Chuẩn kiến thức:

− Vấn đề về ô nhiễm môi trường có liên quan đến hoá học

− Vấn đề bảo vệ môi trường trong đời sống, sản xuất và học tập có liênquan đến hoá học

* Chuẩn kỹ năng:

Tìm được thông tin trong bài học, trên các phương tiện thông tin đại chúng

về vấn đề ô nhiễm môi trường Xử lí các thông tin, rút ra nhận xét về một số vấn

đề ô nhiễm và chống ô nhiễm môi trường

− Vận dụng để giải quyết một số tình huống về môi trường trong thực tiễn

VẤN ĐỀ 6: Làm thế nào có thể khắc được thủy tinh ?

Thực trạng của vấn đề

Muốn khắc thủy tinh người ta nhúng thủy tinh vào sáp nóng chảy, nhấc ra chonguội, dùng vật nhọn khắc hình ảnh cần khắc vào lớp sáp trên bề mặt, rồi nhỏdung dịch HF vào thì thủy tinh sẽ bị ăn mòn ở những chỗ lớp sáp bị cào đi

SiO2 + 4HF → SiF4↑ + 2H2O

Nếu không có dung dịch HF thì thay bằng dung dịch H2SO4 đặc và bộtCaF2 Làm tương tự như trên nhưng ta cho bột CaF2 vào chỗ cần khắc, sau đó chothêm H2SO4 đặc vào và lấy tấm kính khác đặt trên chỗ cần khắc Sau một thờigian, thủy tinh cũng sẽ bị ăn mòn ở những nơi cạo sáp

CaF2 + 2H2SO4 → CaSO4 + 2HF↑ ( dùng tấm kính che lại)Sau đó SiO2 + 4HF → SiF4↑ + 2H2O

2.Biện pháp sử dụng để giải quyết vấn đề

Đây là một vấn đề rất thực tế khi mà nghề khắc thủy tinh đang phát triển ở nước

ta Sau bài học, học sinh không những biết được phương pháp khắc thủy tinh màcòn có thể giải thích được vấn đề này Thậm chí đây là cơ sở cho việc học nghề,khơi gợi niềm đam mê học tập, học sinh có thể tự làm thí nghiệm này trong tiết

thực hành Giáo viên có thể lồng vào bài “ Flo – Brom – Iot” (Tiết 42, 43 lớp 10 CB); bài “Flo” (tiết 55 lớp 10NC) khi dạy phần tính chất hóa học hoặc giáo viên nêu vấn đề trên để dẫn dắt vào bài giảng “ Silic và Hợp chất silic”(Tiết 25 lớp 11

- Viết phương trình phản ứng minh họa cho tính chất

- Vận dụng kiến thức hóa học để áp dụng vào trong cuộc sống

VẤN ĐỀ 7: Vì sao trước khi luộc rau muống cần cho thêm một ít muối ăn NaCl ?

Dưới áp suất khí quyển 1atm thì nước sôi ở 100oC Nếu cho thêm một ítmuối ăn vào nước thì nhiệt độ sôi cao hơn 100oC, khi đó luộc rau sẽ mau mềm,

Trang 11

xanh và chín nhanh hơn là luộc bằng nước không Thời gian rau chín nhanh nên

ít bị mất vitamin

Biện pháp sử dụng để giải quyết vấn đề

Đây là một vấn đề rất quen thuộc mà nếu không chú ý thì học sinh sẽkhông biết Học sinh dễ dàng làm thí nghiệm ngay khi nấu ăn Từ đó góp phầntạo nên kinh nghiệm nấu ăn cho học sinh, rất thiết thực trong cuộc sống Giáo

viên có thể nêu vấn đề trên sau khi kết thúc bài “Clo” ( Tiết 38 lớp 10 CB; tiết 48,

49 lớp 10NC) hoặc bài “Các hợp chất quan trọng của kim loại kiềm” (Tiết 46 lớp

12NC) bài “Kim loại kiềm và hợp chất quan trọng của kim loại kiềm”(Tiết 41,42lớp 12CB) Chuẩn kiến thức kỹ năng cần đạt cho học sinh thông qua vấn đề:

* Chuẩn kiến thức:

- Biết được : Một số ứng dụng quan trọng của một số hợp chất như NaCl

* Chuẩn kỹ năng:

- Vận dụng kiến thức hóa học để áp dụng vào trong cuộc sống.

VẤN ĐỀ 8: Tại sao phải ăn muối iốt

2.Biện pháp sử dụng để giải quyết vấn đề

Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên khi kết thúc bài giảng phần “Iot” - bài “ Flo – Brom – Iot” (Tiết 42, 43 lớp 10 CB); bài “Iot” (tiết 57 lớp 10NC) nhằm giúp

cho học sinh hiểu được ích lợi của việc ăn muối iot và tuyên truyền cho cộngđồng

Chuẩn kiến thức kỹ năng cần đạt cho học sinh thông qua vấn đề:

* Chuẩn kiến thức:

- Ứng dụng của Iot và hợp chất của Iot

* Chuẩn kỹ năng:

- Vận dụng kiến thức hóa học để áp dụng vào trong cuộc sống

VẤN ĐỀ 9: Vì sao chất Florua lại bảo vệ được răng ?

Thực trạng của vấn đề

Răng được bảo vệ bởi lớp men cứng, dày khoảng 2mm Lớp men này là hợp chất

Ca5(PO4)3OH và được tạo thành bằng phản ứng:

5Ca2+ + 3PO43- + OH- ¬ → Ca5(PO4)3OH (1)

Quá trình tạo lớp men này là sự bảo vệ tự nhiên của con người chống lại bệnh sâurăng

Trang 12

Sau các bữa ăn, vi khuẩn trong miệng tấn công các thức ăn còn lưu lại trên răngtạo thành các axit hữu cơ như axit axetic và axit lactic Thức ăn với hàm lượngđường cao tạo điều kiện tốt cho việc sản sinh ra các axit đó.

Lượng axit trong miệng tăng làm cho pH giảm, làm cho phản ứng sau xảy ra:

5Ca2+ + 3PO43- + F- → Ca5(PO4)3F

Hợp chất Ca5(PO4)3F là men răng thay thế một phần Ca5(PO4)3OH

Ở nước ta, một số người có thói quen ăn trầu, việc này rất tốt cho việc tạomen răng theo phản ứng (1), vì trong trầu có vôi tôi Ca(OH)2, chứa các ion Ca2+

và OH- làm cho cân bằng (1) chuyển dịch theo chiều thuận

2.Biện pháp sử dụng để giải quyết vấn đề

Vấn đề sâu răng và phòng ngừa sâu răng được mọi người quan tâm Nhưng ít aibiết rằng vì sao răng bị sâu và cơ chế phòng ngừa như thế nào Học sinh sẽ rất tò

mò về vấn đề này Giáo viên có thể đề cập vấn đề này trong phần giảng Khái niệm về pH – bài “Sự điện ly của nước pH Chất chỉ thị axit – bazơ”( Tiết 5,6 lớp 11CB; tiết 6,7 lớp 11NC) hay ứng dụng của flo - bài “ Flo – Brom – Iot” (Tiết 42, 43 lớp 10 CB); bài “Flo” (tiết 55 lớp 10NC) nhằm giúp cho học sinh có

thói quen bảo vệ răng bằng cách đánh răng sau các bữa ăn

Chuẩn kiến thức kỹ năng cần đạt cho học sinh thông qua vấn đề:

* Chuẩn kiến thức:

- Ứng dụng của Flo và hợp chất của Flo

* Chuẩn kỹ năng:

- Vận dụng kiến thức hóa học để áp dụng vào trong cuộc sống

VẤN ĐỀ 10:Vì sao ta hay dùng bạc để “đánh gió” khi bị bệnh cảm ?

2.Biện pháp sử dụng để giải quyết vấn đề

Hiện tượng “đánh gió” đã được ông bà ta sử dụng từ rất xa xưa cho đến tận bây

giờ để chữa bệnh cảm Cách làm này rất có cơ sở khoa học mà mọi người cần

phải biết Giáo viên có thể nêu hiện tượng trên khi dạy phần trạng thái tự nhiên của hiđro sunfua bài “Hiđro sunfua – Lưu huỳnh dioxit – Lưu huỳnh trioxit”

Ngày đăng: 16/10/2017, 17:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Ozon là dạng thù hình của oxi, điều kiện tạo thành ozon. - Vận dụng kiến thức hóa học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên
zon là dạng thù hình của oxi, điều kiện tạo thành ozon (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w