1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Sử dụng thí nghiệm nêu vấn đề nhằm kích thích hứng thú học tập và phát triển tư duy sáng tạo của học sinh qua một số bài về hợp chất của

25 352 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 259 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình dạy học nói chung , dạy học Hóa học nói riêng, thí nghiệm giữ vaitrò đặc biệt quan trọng trong nhận thức, phát triển, giáo dục như một bộ phậnkhông thể tách rời của quá t

Trang 1

PHẦN I MỞ ĐẦU I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trítuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân tính năngđộng và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt nam xã hội chủ nghĩa.Muốnđào tạo con người tự chủ, năng động và sáng tạo thì phương pháp giáo dục cũngphải hướng vào việc khơi dậy lòng ham muốn hiểu biết của học sinh.Việc sử dụngphương pháp dạy học đúng đắn nhằm nâng cao hiệu quả dạy học, phát huy đượctính tích cực, tự giác chủ động của học sinh, rèn luyện khả năng dự đoán, tư duynhằm phát triển năng lực cho học sinh là điều cấp thiết

Trong quá trình dạy học nói chung , dạy học Hóa học nói riêng, thí nghiệm giữ vaitrò đặc biệt quan trọng trong nhận thức, phát triển, giáo dục như một bộ phậnkhông thể tách rời của quá trình dạy-học Thí nghiệm giúp học sinh làm quen vớitính chất, mối liên hệ và quan hệ có quy luật giữa các đối tượng nghiên cứu Làm

cơ sở để nắm vững các quy luật , các khái niệm khao học và biết khai thácchúng.Thí nghiệm còn giúp học sinh sáng tỏ mối quan hệ phát sinh giữa các sựvật, giải thích được bản chất của các quá trình xảy ra trong tự nhiên, sản xuất và đờisống.Thông qua việc quan sát và tiến hành thí nghiệm, học sinh nắm kiến thức sâusắc và bền vững hơn đồng thời cũng có hứng thú sạy mê hơn trong học tập, pháttriển tư duy sáng tạo, hình thành năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đềthông qua thí nghiệm nêu vấn đề

Vì lý do trên tôi chọn đề tài “ Sử dụng thí nghiệm nêu vấn đề nhằm kích thích hứng thú học tập và phát triển tư duy sáng tạo của học sinh qua một số bài về hợp chất của nitơ-lớp 11- Ban KHTN”.

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.

- Nghiên cứu chuẩn kiến thức kĩ năng cần đạt trong các bài về hợp chất của nitơ –lớp 11- Ban KHTN để lựa chọn các thí nghiệm tạo tình huống có vấn đề nhằm lôicuốn sự chú ý của học sinh Từ đó học sinh muốn nghiên cứu tìm ra nguyên nhân

đó Tức là buộc học sinh phải huy động kiến thức , suy luận để giải quyết vấn đề

mà mình quan sát được.Tạo hứng thú trong học tập cho học sinh trong giờ hóa học

- Xây dựng các câu hỏi nêu vấn đề khi sử dụng thí nghiệm

- Thiết kế một giáo án có sử dụng thí nghiệm nêu vấn đề

- Xây dựng bài kiểm tra 15 phút và 1 tiết để đánh giá mức độ tiếp thu kiến thức củahọc sinh sau khi học xong các bài về hợp chất của nitơ

Trang 2

III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu quá trình dạy và học môn hóa học lớp 11-Ban KHTN ở trường THPTLam Kinh

- Nghiên cứu các phương pháp dạy học tích cực

- Nghiên cứu hệ thống thí nghiệm trong các bài về hợp chất của nitơ

- Nghiên cứu cách sử dụng thí nghiệm sao cho phát huy tính chủ động, sáng tạo vàphát triển tư duy cho học sinh một cách cao nhất

- Kỹ năng thực hành thí nghiệm của học sinh trường THPT Lam Kinh

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến đề tài về phương pháp dạy học nêu vấn đề

và thí nghiệm nêu vấn đề trong dạy học hóa học

- Tìm hiểu thực trạng của việc dạy học có sử dụng thí nghiệm ở trường THPT LamKinh

- Nghiên cứu chương trình, nội dung kiến thức các bài về hợp chất của nitơ

- Đưa ra một số thí nghiệm nêu vấn đề phù hợp với một số bài về hợp chất của ni tơ

có chú ý để thí nghiệm thành công

- Thực nghiệm sư phạm với 2 lớp giảng dạy

Trang 3

PHẦN II NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI.

I.1.Dạy học nêu vấn đề.

I.1.1.Khái niệm và bản chất của dạy học nêu vấn đề.

Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học trong đó GV tạo ra những tình huống có vấn đề, điều khiển HS phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác Đặc trưng cơ bản của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là "tình huống gợi vấn đề" vì "Tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề" (Rubinstein)

I.1.2 Tạo tình huống có vấn đề:

Tình huống có vấn đề (tình huống gợi vấn đề) là một tình huống gợi ra cho HS

những khó khăn về lí luận hay thực hành mà họ thấy cần có khả năng vượt qua, nhưng không phải ngay tức khắc bằng một thuật giải, mà phải trải qua quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điều chỉnh kiến thức sẵn có Việc tạo ra tình huống có vấn đề cần phải dựa vào sự không phù hợp giữa những hiểu biết cũ mà học sinh đã có với những yêu cầu đặt ra cho họ khi giảiquyết nhiệm vụ mới trong học tập hay thực tiễn Có thể nêu ra ba bước đi chủ yếu cho các trường hợp xây dựng tình huống có vấn đề:

1 Tái hiện kiến thức cũ

2 Đưa ra hiện tượng có chứa đựng mâu thuẫn với kiến thức cũ

3 Phát biểu vấn đề nêu rõ vấn đề cần giải quyết

I.1.3 Những cách thức cơ bản xây dựng tình huống có vấn đề trong dạy học hóa học

Khoa học nói chung và hóa học nói riêng được xây dựng dựa trên nhữngthành tựu của biết bao nhà khoa học Cứ mỗi tiến độ khoa học lại là đáp số của bàitoán ơrixtic Vì thế trong chương trình phổ thông chứa đựng nhiều tư liệu nghiêncứu để chuyển hóa thành các tình huống có vấn đề

Có 3 kiểu xây dựng tình huống có vấn đề đó là: tình huồng nghịch lí- bế tắc,tình huống lựa chọn, tình huống nhân quả

I.1.4 Dạy học sinh giải quyết vấn đề

Trang 4

Trong dạy học nêu vấn đề không chỉ coi trọng việc truyền thụ kiến thức màcòn coi trọng cả việc hướng dẫn học sinh độc lập tìm ra con đường dẫn đến kiếnthức mới, nghĩa là phải dạy cho học sinh biết tư duy một cách logic, khoa học vàsáng tạo Ở một mức độ nhất định học sinh phải như là “Người nghiên cứu” đangtìm cách giải quyết vấn đề học tập nảy sinh ra từ các tình huống có vấn đề Muốnvậy trong quá trình giải quyết vấn đề học tập, giáo viên đóng vai trò là người dẫnđường tổ chức hoạt động tìm tòi của học sinh, giúp học sinh đánh giá các giảthuyết, giảm nhẹ khó khăn để học sinh giải quyết được nhanh chóng Vai trò củagiáo viên không chỉ dừng lại ở việc nói cái gì, mà quan trọng hơn là phải tổ chứccác hoạt động một cách tuần tự để tìm ra vấn đề, sau đó tìm ra con đường giảiquyết vấn đề đó Và cái cuối cùng là giúp học sinh phát hiện ra vấn đề và sau đócũng tự tìm ra vấn đề và năng lực giải quyết vấn đề không những trong học tập mà

cả trong cuộc sống, sản xuất và nghề nghiệp

I.2 Sử dụng dạy học nêu vấn đề trong các bài học có thí nghiệm.

I.2.1 Vị trí và vai trò của thí nghiệm trong bài giảng dạy hoá học.

“Thí nghiệm và phương tiện trực quan là mô hình hiện đại cho hiện thựckhách quan, là cơ sở, điểm xuất phát cho quá trình học tập, nhận thức của học sinh

Từ đây xuất phát quá trình nhận thức cảm tính, để rồi sau đó diễn ra sự trừu tượnghoá và sự tiến lên từ trừu tượng đến cụ thể tư duy”

Vai trò của thí nghiệm trong giảng dạy hoá học: “Hoá học là một khoa họcthực nghiệm có lập luận” Cụ thể hơn: Hoá học là một khoa học nghiên cứu cácchất và sự biến đổi của chúng Do vậy, trực quan trong hoá học chính là quan sátđối tượng, đó là mức độ đầu tiên và rất quan trọng Qua quan sát và nghiên cứu tàiliệu các chất và từ đó hình thành nên hệ thống lí thuyết khoa học hoá học

Nhờ quan sát thí nghiệm mà học sinh không những nhìn thấy mà còn tri giácđược từ đó hình thành những biểu tượng về một chất nào đó Những biểu tượng là

cơ sở hoạt động nhận thức của tư duy, do vậy phải dạy cho học sinh biết quan sát

và ghi nhận những điều quan sát Tuy nhiên, việc quan sát thì chỉ cho biết bề ngoàicủa sự vật hiện tượng, nếu mục đích biểu diễn chỉ dừng lại ở mức độ đó thì chưa đủ

mà giáo viên phải hướng dẫn học sinh đi từ hiện thực bên ngoài đến bản chất củanhững biến hoá hoá học Nghĩa là phải làm cho nhận thức cảm tính của học sinh kếthợp với tư duy trừu tượng

Thí nghiệm giúp học sinh có thể chuyển từ tư duy cụ thể sang tư duy trừutượng và ngược lại Thí nghiệm giúp học sinh làm quen với những tính chất, mốiliên hệ và quan hệ có quy luật giữa các đối tượng nghiên cứu, giúp làm cơ sở đểnắm vững các quy luật, các khái niệm khoa học và biết khai thác chúng.“Thí

Trang 5

nghiệm còn giúp học sinh làm sáng tỏ mối liên hệ phát sinh giữa các sự vật giảithích được bản chất của các quá trình xảy ra trong tự nhiên, trong sản xuất và trongđời sống Nhờ thí nghiệm mà con người có thể thiết lập được những quá trình màtrong thực tế tự nhiên hoàn toàn không có được và kết quả tạo ra những chất mới”.

Nó còn giúp học sinh khả năng vận dụng những quá trình nghiên cứu trong nhàtrường trong phòng thí nghiệm vào phạm vi rộng rãi trong các lĩnh vực hoạt độngcủa con người Đối với bộ môn hoá học, thí nghiệm giữ vai trò đặc biệt quan trọngnhư một bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy - học Người ta coi thínghiệm là cơ sở của việc học hoá học và để rèn luyện kĩ năng thực hành

I.2.2 Những yêu cầu sư phạm về kĩ thuật biểu diễn thí nghiệm

a Yêu cầu về an toàn:

Yêu cầu đầu tiên cơ bản đối với mọi loại thí nghiệm hoá học là phải an toàn

cho học sinh Vì thế, người giáo viên phải kiểm tra dụng cụ, hoá chất.… trước khi

làm thí nghiệm và tuân theo tất cả những quy định về bảo hiểm Nên luôn giữ hoáchất tinh khiết, dụng cụ sạch sẽ, nắm vững kĩ thuật, bình tĩnh, có kĩ năng thành thạokhi làm thí nghiệm sẽ an toàn Có ý thức trách nhiệm và luôn cẩn thận là nhữngđiều kiện chủ yếu để đảm bảo an toàn cho các thí nghiệm hoá học Tuy nhiênkhông quá cường điệu những nguy hiểm của thí nghiệm hoá học và tính độc củahoá chất làm cho học sinh sợ hãi và cũng không nên vì để an toàn cho học sinh vàgiáo viên mà hạn chế việc sử dụng rộng rãi các thí nghiệm hoá học trong giảng dạy

b Phải đảm bảo tính kết quả và tính khoa học của thí nghiệm.

Tuyệt đối tránh thí nghiệm không có kết quả Nếu như vậy thì uy tín giáoviên sẽ bị giảm sút, học sinh sẽ không tin vào giáo viên và không tin vào khoa học,muốn đảm bảo kết quả tốt thì khi làm thí nghiệm giáo viên phải nắm vững kĩ thuậtthí nghiệm, phải tuân theo đầy đủ và chính xác các chỉ dẫn về kĩ thuật thí nghiệm,phải tuân theo các chỉ dẫn về kĩ thuật khi lắp đặt dụng cụ và tiến hành thí nghiệmhoá học Muốn vậy người giáo viên phải chú ý rèn luyện kĩ năng, tích luỹ và biếtsáng tạo trong quá trình chuẩn bị Giáo viên phải chuẩn bị chu đáo, thử nhiều lầntrước khi lên lớp phải chọn quy trình tiến hành tốt nhất và cách giải thích rõ ràngnhất Khi lắp dụng cụ nên chuẩn bị sẵn những bộ phận dự trữ để thay thế khi gặpnhững bộ phận đó hư hỏng trên lớp

c Thí nghiệm phải rõ ràng, học sinh phải được quan sát đầy đủ.

Muốn vậy thì giáo viên cần chú ý đứng không che lấp thí nghiệm, kích thướcdụng cụ hoá chất phải đủ lớn đảm bảo cho học sinh ngồi xa cũng có thể quan sát rõ,bàn thí nghiệm phải cao vừa phải và cần dùng thiết bị đặc biệt để làm nổi bật kếtquả thí nghiệm

Trang 6

d Các thí nghiệm phải đơn giản, vừa sức học sinh

Các thí nghiệm phải đơn giản, vừa sức học sinh dụng cụ thí nghiệm phải gọngàng, bảo đảm thẩm mỹ, đồng thời phải bảo đảm tính khoa học Những thí nghiệmphức tạp hoặc đòi hỏi nhiều thời gian thì giáo viên phải biểu diễn vào một giờ thínghiệm thực hành hoặc làm trong giờ ngoại khoá

e Số lượng thí nghiệm trong một bài giảng phải vừa phải

Số lượng thí nghiệm trong một bài giảng phải vừa phải, cần tính toán sốlượng thí nghiệm cần biểu diễn trong một bài lên lớp và khoảng thời gian dành chomỗi thí nghiệm, tránh tham lam và kéo dài thời gian thí nghiệm trong một bài học,chỉ nên chọn thí nghiệm trọng tâm của bài học

f Phải kết hợp chặt chẽ thí nghiệm biểu diễn với nội dung bài giảng

Để giúp học sinh nắm rõ bản chất của vấn đề chủ đạo và tạo thành một hệthống nhất với nội dung bài học phải kết hợp chặt chẽ thí nghiệm với dung bàigiảng Trước khi biểu diễn thí nghiệm, giáo viên phải đặt vấn đề rõ ràng, giải thíchmục đích thí nghiệm và tác dụng của từng dụng cụ Cần tập luyện cho học sinhquan sát hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm và giải thích hiện tượng, rút ra nhữnglập luận khoa học, hướng vào những điểm cơ bản nhất của bài

Trên đây là những yêu cầu về mặt sư phạm của giáo viên khi biểu diễn thínghiệm.Khi giảng dạy bài truyền thụ kiến thức mới sẽ làm tăng rõ rệt và làm tăngniềm tin của học sinh vào khoa học

I.2.3 Các hình thức phối hợp lời giảng của giáo viên với việc biểu diễn thí nghiệm

Trong các trường phổ thông thường sử dụng các hình thức thí nghiệm sau:

- Thí nghiệm biểu diễn của giáo viên (thí nghiệm do GV tự tay biểu diễn)

- Thí nghiệm của học sinh (thí nghiệm do học sinh tự làm)

Thí nghiệm được chia làm hai loại:

+ Thí nghiệm của học sinh trong khi làm bài mới, ở trên lớp để nghiên cứu sâuhơn nội dung bài học mới

+ Thí nghiệm thực hành ở lớp cũng do học sinh tự làm nhưng để ôn tập củng

cố kiến thức đã học và rèn luyện kĩ năng kĩ xảo làm thí nghiệm Một dạng đặc biệtcủa loại thí nghiệm này là bài tập thực nghiệm

Trang 7

Trong các hình thức đã nêu ra ở trên, thí nghiệm biểu diễn của giáo viên làquan trọng nhất Việc biểu diễn các phương tiện trực quan đều phải kèm theo hoặcphối hợp với lời giảng của giáo viên theo nhiều cách khác nhau Từ việc nghiêncứu lí luận dạy học người ta phân ra bốn hình thức phối hợp lời giảng của giáo viênvới việc biểu diễn các phương tiện trực quan:

Hình thức 1: Quan sát trực tiếp Hình thức 2: Quy nạp

Hình thức 3: Minh hoạ Hình thức 4: Diễn dịch

II.THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ.

Hiện nay trong quá trình dạy học hóa học ở trường THPT, giáo viên đã đổi mớiphương pháp dạy học dưới nhiều hình thức khác nhau như: dạy học nêu vấn đềtheo phương pháp đàm thoại, sử dụng công nghệ thông tin, sử dụng thí nghiệmtrình chiếu hoặc sử dụng các thí nghiệm biểu diễn để kiểm chứng các tính chất,

….Tuy nhiên với những kiến thức cần khắc sâu và phát triển tư duy cho học sinh

để thì việc sử dụng thí nghiệm tạo tình huống có vấn đề không nhiều Mặt khácnăng lực của phụ tá thí nghiệm còn hạn chế, hóa chất trong phòng thí nghiệm cònthiếu hoặc đã hết hạn sử dụng nên việc làm thí nghiệm nhiều khi không thànhcông Vì vậy nhiều giáo viện còn ngại khi chuẩn bị thí nghiệm

III CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG.

I Các thí nghiệm nêu vấn đề trong bài dạy về các hợp chất của nitơ

a Khi dạy bài “ Amoniac –muối amoni” có thể lựa chọn thí nghiệm sau:

Thí nghiệm 1: Tính tan và tính ba zơ của amoniac.

* Mục đích của thí nghiệm:

- Học sinh biết cách điều chế và thu khí amoniac bằng phương pháp dời chỗ củanước

- Nhận biết màu và mùi của amoniac

- Tính tan của NH3 và tính ba zơ của nó

*Dụng cụ, hóa chất: Bình cầu, eclen khô, nút cao su có dẫn ống thủy tinh thẳng,đèn cồn, giá sắt, dung dịch NH3 đặc,NH4Cl, CaO, chậu thủy tinh có chứa nước vànhỏ vài giọt phenolphtalein

* GV tiến hành thí nghiệm:

Điều chế từ dd NH3 đặc

Trang 8

- Cho khoảng 20 ml dung dịch đậm đặc NH3 vào bình cầu cỡ nhỏ Đậy bìnhbằng nút có ống thuỷ tinh dài xuyên qua

- Đun nóng bình Khí amoniac bay lên theo ống thuỷ tinh có lẫn cả hơi nước,

Hình 1 Điều chế và thử tính tan của NH 3

nhưng hơi nước sẽ bị ngưng tụ lại ở thành ống

- Khí amoniac được nạp vào các bình đã làm khô úp ngược trên ống thuỷtinh Ở miệng bình thu có áp phía ngoài mẫu giấy quỳ tím ẩm

- Dùng nước khơi mào sự tan của NH3 rồi úp ngược bình xuống chậu thủy tinhchứa phenolphtalein

* GV yêu cầu HS quan sát hiện tượng, đồng thời đưa ra các câu hỏi nhằm kích thích sự

tò mò, tập trung chú ý của HS:

?Tại sao nước lại bị hút vào bình?Nước trong bình có màu hồng chứng tỏ dung dịch trong bình có môi trường gì?

? Tại sao khí NH 3 tan nhiều trong nước còn N 2 lại ít tan?

Và các câu hỏi phát huy tư duy của HS:

? Thu khí NH 3 bằng phương pháp gì? Tại sao? Có thể thu khí bằng phương pháp đẩy nước không?

? Khi nào biết bình thu đã đầy khí NH3 ?

- HS việc vận dụng kiến thức về sự giảm áp suất tư duy và giải thích: Nước đã hòatan khí NH3, dd NH3 có tính bazơ nên đã làm phenolphtalein chuyển từ không màusang hồng Từ đó, HS nhận thấy, do NH3 tan trong nước nên áp suất trong bình khígiảm đột ngột, nước trong chậu thủy tinh bị hút vào bình, phun thành tia

- HS quan sát, vận dụng tính chất vật lí của NH3 để trả lời: Thu khí NH3 bằngphương pháp đẩy không khí vì NH3 nhẹ hơn không khí NH3 tan nhiều trong nướcnên không thể thu khí bằng phương pháp đẩy nước

- Quỳ ẩm trên thành miệng ống thu chuyển sang màu xanh chứng tỏ NH3 đã đầybình thu Bằng kiến thức có được, HS nhận biết rằng NH3 khi tan trong nước là mộtbazơ nên làm quỳ hóa xanh

Như vậy, TN có hiện tượng lạ mắt kích thích hứng thú học tập của HS ngayđầu tiết học

Trang 9

* Một số lưu ý khi làm TN:

- Bình thu NH3 phải thật khô, khí NH3 đầy bình

- Khơi mào sự tan, nút có gắn ống khí vuốt nhọn vặn chặt

Thí nghiệm 2: Amoniac tác dụng với axit HCl

*Mục đích TN

Thí nghiệm được dùng trong bài AMONIAC lớp 11 để giới thiệu cho họcsinh cách nhận biết khí amoniac đồng thời kết hợp củng cố khái niệm axit,bazơ theo thuyết proton

- Đây là phản ứng đặc trưng để nhận biết amoniac hoặc hiđro clorua

- TN dễ làm, gây hứng thú cao đối với HS, giúp các em hình thành niềm say mêkhoa học

* Dụng cụ, hóa chất: 2 đũa thủy tinh ở đầu có cuốn một ít bông, axit HCl đặc, dd NH3

đặc

* GV tiến hành TN: Dùng 2 đũa thủy tinh, một đũa nhúng vào dung dịch NH3 đậm đặc,đũa kia nhúng vào dung dịch HCl đặc Đưa 2 đầu đũa đó lại gần nhau Quan sát hiệntượng

* GV yêu cầu học sinh quan sát thí nghiệm và đặt câu hỏi nêu vấn đề:

? Vậy khói trắng đó là gì? Hiện tượng đó chứng tỏ điều gì?

Cùng với việc quan sát hiện tượng, HS sẽ tư duy được: HCl đặc bốc khói, đã phản ứngvới NH3 tạo nên muối NH4Cl, và khói trắng đó chính là các tinh thể NH4Cl

Như vậy, từ thí nghiệm trên, HS đã kiểm chứng được NH3 là một bazơ, tác dụng vớiaxit Đồng thời phản ứng này dùng để nhận biết NH3

Trang 10

số kim loại Hiện tượng thí nghiệm rõ ràng nhằm phát triển tư duy và kích thích hứngthú học tập

* Dụng cụ, hóa chất: 2 ống nghiệm, ống hút nhỏ giọt, dd NH3, dd AlCl3,

dd CuCl2 (hoặc CuSO4)

*Tiến hành TN: Lấy 2 ống nghiệm:Ống nghiệm 1 đựng 2 ml dd AlCl3, ống 2 đựng2ml dd CuSO4 Nhỏ từ từ từng giọt dung dịch NH3vào 2 ống nghiệm trên cho đếnkhi có kết tủa.Quan sát Sau đó tiếp tục nhỏ dung dịch NH3 vào 2 ống nghiệmtrên đã có kết tủa Lắc ống nghiệm

* GV yêu cầu HS quan sát và nhận xét hiện tượng:

- Ống nghiệm 1: Xuất hiện kết tủa trắng keo, lắc ống nghiệm kết tủa không tan

- Ống nghiệm 2: Xuất hiện kết tủa xanh lam, lắc ống nghiệm kết tủa tan dd cómàu xanh thẫm

* GV tiếp tục đưa ra các câu hỏi có vấn đề nhằm kích thích tư tuy của HS:

? Giải thích tại sao ở ống nghiệm 1 kết tủa keo trắng vẫn giữ nguyên? Tại sao

ở ống nghiệm 2 kết tủa xanh lam Cu(OH) 2 lại tan ra thành dung dịch màu xanh thẫm trong suốt?

GV có thể đặt câu hỏi:

? Al(OH) 3 là chất lưỡng tính tại sao không tan trong dung dịch NH 3 là một bazơ yếu? Cu(OH) 2 tan trong dung dịch NH 3 có phải theo cơ chế axit- bazơ không? hay theo một cơ chế khác?

- HS vận dụng kiến thức, tư duy: ống nghiệm 2 đã tạo thành dd phức chất

GV diễn giải để HS tiếp nhận kiến thức

PTHH: Al3+ + 3NH3 + 3H2O  Al(OH)3  + 3NH4+

Cu2+ + 2NH3 + 2H2O  Cu(OH)2 (xanh lam) + 2NH4+

Cu(OH)2 + 4NH3  [Cu(NH3)4](OH)2

b Khi dạy bài “ Axit nitric – muối nitrat” có thể lựa chọn thí nghiệm sau:

Thí nghiệm 1: Tính oxi hóa mạnh của axit nitric

* Mục đích TN:

Trang 11

Ở đây nên chọn TN HNO3 đặc và loãng tác dụng với Cu vì: TN có hiện tượng xảy

ra rõ ràng, so sánh được tính oxi hóa mạnh của HNO3 và H2SO4 mà các em đã đượchọc trước đó, đồng thời so sánh sản phẩm sinh ra của 2 axit đặc và loãng

* GV tiến hành TN: Lấy 3 ống nghiệm nhánh:Ống 1 đựng 2 ml dd H2SO4 loãng, ống

2 đựng 2 ml dung dịch HNO3 loãng, ống 3 đựng dung dịch HNO3 đặc.Cho vào mỗiống một mảnh đồng lá.Dùng bông tẩm dung dịch NaOH đậy lên trên miệng mỗiống nghiệm

GV yêu cầu HS quan sát nêu hiện tượng:

HS quan sát và nêu hiện tượng xảy ra: Ống 1 không có hiện tượng gì xảyra.Trong ống 2 và 3 có sủi bọt khí, ống nghiệm 2 khí không màu, 1 lúc hóa nâu,ống nghiệm 3 sinh ra khí màu nâu đậm, dd trong ống nghiệm 2 và 3 từ không màuchuyển sang màu xanh

GV đưa ra các câu hỏi nêu vấn đề

? Cu không tác dụng với dung dịch H 2 SO 4 loãng nhưng tại sao HNO 3 loãng lại tác dụng với Cu?

? Và tại sao cùng dung dịch HNO 3 khi nồng độ khác nhau lại có hiện tượng khác nhau?

? Khí màu nâu là khí gì? Ở ống nghiệm 2 khí hóa nâu chứng tỏ điều gì?

? Khí sinh ra khi cho đồng tác dụng với HNO 3 loãng có phải là H 2 không? Dung dịch màu xanh là dd gì? So sánh khả năng phản ứng của H 2 SO 4 loãng và HNO 3

loãng?

HS vận dụng lí thuyết đã biết để trả lời được: Khí màu nâu là NO2, khí sinh ra khiHNO3 loãng tác dụng với Cu không phải là H2, dd màu xanh là dd muối đồng; Sovới H2SO4 không tác dụng với Cu, HNO3 loãng tác dụng được với Cu (tính oxi hóamạnh) Như vậy, ở đây đã xuất hiện mâu thuẫn giữa kiến thức về axit loãng tácdụng với kim loại mà các em đã được học trước đó

Trang 12

* Để phát triển tư duy của HS, GV yêu cầu HS viết PTHH và xác định số oxi hóacủa các nguyên tố HS viết PTHH đồng thời dựa vào hiện tượng đã quan sát được

tư duy để phát hiện ra kiến thức mới của axit HNO3 loãng đó là tính oxi hóa mạnh

GV nhận xét và giải thích để HS hiểu sâu hơn về tính oxi hóa mạnh của axitnitric, các sản phẩm sinh ra

PTHH: 3Cu + 8 HNO3 (loãng)  3Cu(NO3)2 + 2NO + H2O

Thí nghiệm 2: Tính oxi hóa của muối nitrat.

* Mục đích TN:

Giúp học sinh hiểu được muối nitrat có tính oxi hóa mạnh trong môi trường axit tương tự

NH3 và từ hiện tượng quan sát được HS biết cách nhận biết ion nitrat NO3

-* Dụng cụ và hóa chất: 2 Ống nghiệm, ống hút nhỏ giọt

Dung dịch NaNO3, dd HCl, mẩu nhỏ Cu

* GV tiến hành thí nghiệm:

Cho 2 ml dd NaNO3 vào ống 1 và 2 ml dung dịch HCl vào ống 2 Sau đó cho vào 2 ốngnghiệm này một mẩu Cu.Yêu cầu HS quan sát hiện tượng?

HS nêu hiện tượng: Không có hiện tượng gì xảy ra trong 2 thí nghiệm

Chứng tỏ Cu không tác dụng với dd NaNO3 và không tác dụng với HCl

Sau đó đổ ống nghiệm 1 vào ống nghiệm 2 Gv yêu cầu HS quan sát và nêu hiện tượng

HS nêu hiện tượng: Khi đổ 2 ống nghiệm vào nhau thì thấy Cu tan, dung dịch có màuxanh và có khí mầu nâu dần xuất hiện

GV đặt câu hỏi nâu vấn đề:

Ngày đăng: 16/10/2017, 17:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w