1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tiểu luận cao học MÔN: QUẢN LÝ LƯU VỰC Chuyên đề: PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG LƯU VỰC SÔNG KÔNHÀ THANH, XÁC ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN TRÊN LƯU VỰC, HẠN CHẾ TRONG HỢP TÁC VÀ CHIA SẺ THÔNG TIN CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ HẠN CH

17 592 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 125 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC HUẾTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM BÀI TIỂU LUẬN MÔN: QUẢN LÝ LƯU VỰC Lớp : Cao học Lâm nghiệp K22C Chuyên đề: Chuyên đề: PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG LƯU VỰC SÔNG KÔN-HÀ THANH, XÁC ĐỊNH CÁC

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

BÀI TIỂU LUẬN

MÔN: QUẢN LÝ LƯU VỰC

Lớp : Cao học Lâm nghiệp K22C

Chuyên đề:

Chuyên đề:

PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG LƯU VỰC SÔNG KÔN-HÀ THANH, XÁC ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN TRÊN LƯU VỰC, HẠN CHẾ TRONG HỢP TÁC VÀ CHIA SẺ THÔNG TIN CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ HẠN CHẾ CÁC VẤN

ĐỀ TRÊN

Huế, tháng 10 năm 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

BÀI TIỂU LUẬN

MÔN: QUẢN LÝ LƯU VỰC

Lớp : Cao học Lâm nghiệp K22C

Chuyên đề:

PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG LƯU VỰC SÔNG KÔN-HÀ THANH, XÁC ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN TRÊN LƯU VỰC, HẠN CHẾ TRONG HỢP TÁC VÀ CHIA SẺ THÔNG TIN CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI

PHÁP ĐỂ HẠN CHẾ CÁC VẤN ĐỀ TRÊN

GVHD: TS TRẦN NAM THẮNG Nhóm học viên thực hiện:

1 Phạm Xuân Thủy

2 Phạm Minh Phúc

Trang 3

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

Lưu vực Sông Kôn-Hà Thanh nằm ở Trung Trung Bộ với diện tích 3.647

km2, có tọa độ địa lý 13030’-14030’ vĩ độn Bắc và 108030’-109015’ kinh độ Đông Phần lớn lưu vực song Kôn- Hà Thanh nằm trong tỉnh Bình Định (90% diện tích lưu vực) bào gồm cả thành phố Quy Nhơn Đây là lưu vực song lớn nhất của tỉnh Bình Định và cũng là vùng tập trung các hoạt động kinh tế văn hóa, xã hội và chính trị của toàn tỉnh Song nơi đây có khí hậu tương đối khắc nghiệt, đặc biệt các hiện tượng thiên tai ngày càng có chiều hướng gia tang cả về cường độ lẫn tần suất, thường xuyên phải chịu cảnh thiếu nước vào mùa khô và lũ lụt vào mùa mưa, gay thiệt hại và khó khan rất lớn đến đời sống và sức sản xuất của người dân, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Vì vậy, việc phân tích hiện trạng lưu vực Sông Kon- Hà Thanh để xác định các vấn đề trong quản lý tài nguyên trên lưu vực và phân tích các hạn chế, trong hợp tác, chia sẻ thông tin giữa các bên liên quan và đề xuất các giải pháp để hạn chế các vấn đề trên là cần thiết Từ đó cho ta thấy tầm quan trọng cần phải có những giải pháp đồng bộ để quản lý tốt một lưu

vực, do đó, nhóm chúng tôi tiến hành thực hiện Tiểu luận “Phân tích hiện trạng

lưu vực Sông Kon-Hà Thanh, xác định các vấn đề trong quản lý tài nguyên trên lưu vực, hạn chế trong hợp tác và chia sẻ thông tin của các bên liên quan

và đề xuất các giải pháp để hạn chế các vấn đề trên” Mặc dù đã có nhiều cố

gắng nhưng do thời gian nghiên cứu có hạn nên Tiểu luận không tránh khỏi thiếu sót, mong thầy cô và bạn đọc tham gia thêm để Tiểu luận được hoàn thiện hơn

Trang 4

PHẦN II PHẠM VI, MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

I PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Hiện trạng sông Kôn- Hà Thanh, các mối đe dọa tác động đến trạng thái khu vực đầu nguồn sông Kôn –Hà Thanh

II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Hiện trạng khu vực đầu nguồn sông Kôn-Hà Thanh

2 Các mối đe dọa, tác động đến trạng thái khu vực đầu nguồn sông Kôn-Hà Thanh

3 Những biện pháp giải quyết và quản lý những vấn đề nêu trên

Trang 5

PHẦN III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

I HIỆN TRẠNG LƯU VỰC SÔNG KÔN- HÀ THANH

1 Khái quát chung

Sông Kôn và sông Hà Thanh đều bắt nguồn từ vùng núi cao của phía Đông Trường Sơn và đổ vào đầm Thị Nại Lưu vực sông Hà Thanh có thể được coi là một bộ phận của lưu vực Sông Kôn do hai con sông này được nối với nhau bởi nhiều kênh tự nhiên và kênh đào, dòng chảy Sông Kôn ảnh hưởng và chi phối chế

độ lũ của song Hà Thanh

Sông Kôn bắt nguồn từ khối núi Ngọc Roo tỉnh Kon Tum Sông dài 171 km, diện tích lưu vực khoảng 2.594 km2 chảy qua địa phận 3 tỉnh là Kon Tum, Gia Lai

và Bình Định Đoạn qua Bình Định chảy qua 4 huyện là Vĩnh Thạnh, Tây Sơn, An Nhơn và Tuy Phước Lưu vực đầu nguồn Sông Kôn bao gồm địa phận các xã Vĩnh Kim, Vĩnh Sơn, Vĩnh Hảo, Vĩnh Hiệp, huyện Vĩnh Thạnh, xã An Toàn, huyện An Lão và xã Bok Tới, Đăk Mang, huyện Hoài Ân

Sông Hà Thanh bắt nguồn từ vùng núi cao 1.100m ở huyện Vân Canh, có diện tích lưu vực là 580km2 chiều dài dòng chảy chính 58 km qua 2 huyện Vân Canh, Tuy Phước và thành phố Quy Nhơn

2 Hiện trạng lưu vực sông Kôn – Hà Thanh tại tỉnh Bình Định

2.1 Ranh giới

Ranh giới của cụm lưu vực như sau:

- Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi;

- Phía Nam giáp với một phần của xã Vĩnh Hiệp, huyện Vĩnh Thạnh;

- Phía Tây giáp tỉnh Gia Lai;

- Phía Đông giáp huyện Hoài Ân và biển Đông

2.2 Diện tích

Trang 6

Tổng diện tích lưu vực : 364.772,40 ha; trong đó:

- Đất có rừng : 262.249,00 ha

- Đất chưa có rừng : 102.475,50 ha

- Đất khác : 47,9 ha

2.3 Đặc điểm địa hình lưu vực

Sông Kôn nằm về phía Tây Bắc và phía Tây của tỉnh thuộc dãy Trường Sơn Đông, độ cao trung bình từ 500-1000m Đại bộ phận sườn dốc hơn 200, phân bố ở các huyện An Lão, Vĩnh Thạnh, Vân Canh và Hoài Ân Địa hình khu vực này phân cắt mạnh, sông suối có độ dốc lớn, là nơi đầu nguồn của Sông Kôn, lớp phủ thực vật có mật độ trung bình

2.4 Đặc điểm khí hậu

Nằm trong vùng tiếp giáp giữa vùng bắc Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung bộ Do đó, ngoài khí hậu Đông Trường Sơn còn có đặc điểm khí hậu Tây Trường Sơn Đặc điểm này thể hiện rất rõ ở chế độ mưa Nơi đây mùa mưa thường kéo dài hơn chính vì vậy mà lượng nước của sông Kôn luôn đảm bảo ngay cả trong những tháng kiệt của mùa khô Về cơ bản, khu vực này có khí hậu nhiệt đới gió mùa với những đặc điểm cơ bản sau:

a) Chế độ nhiệt

Nhiệt độ trung bình năm biến động từ 200C đến 230C Nhiệt độ cao tuyệt đối không quá 38oC; nhiệt độ thấp tuyệt đối không dưới 7oC

b) Chế độ mưa ẩm

Lượng mưa trung bình năm từ 2.000 - 2.400mm Sở dĩ lượng mưa lớn do vừa chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ khí hậu Đông Trường Sơn đồng thời chịu ảnh hưởng của khí hậu Tây Trường Sơn do đó mùa mưa kéo dài và lượng mưa rải đều hơn Tổng lượng mưa trung bình hàng năm khá lớn

c) Các mùa trong năm

Trang 7

Một năm có 2 mùa tương đối rõ Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm chiếm 60 - 70% tổng lượng mưa cả năm, mưa nhiều nhất vào tháng 10 và 11 Mùa khô từ từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, chiếm khoảng 30 - 40% tổng lượng mưa

cả năm Kiệt nhất là vào tháng 2, tháng 3

d) Độ ẩm

Độ ẩm không khí bình quân năm khá cao khoảng 80%; độ ẩm cực đại tới 90%; cực tiểu 30%; trung bình vào khoảng 70-75%

e) Chế độ gió

Trong thời gian từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau hướng gió chủ yếu là Đông Bắc và Bắc Từ tháng 5 đến tháng 8 hướng gió chủ yếu là Tây Nam và Nam Tháng

4 và tháng 9 là thời kỳ chuyển tiếp Do bị che chắn bởi dãy Trường Sơn và cao nguyên Trung Bộ nên gió mùa Tây nam bị chắn lại và trút hết hơi nước ở phía Tây Khi vào đến Bình Định thì trở nên khô nóng và hình thành gió Nam nóng Gió Nam xuất hiện vào giữa và cuối mùa hè (tháng 6 đến tháng 8)

g) Chế độ thuỷ văn

Với lượng mưa tương đối cao, chế độ nhiệt thấp, thảm thực vật bề mặt còn rất lớn và chủ yếu là rừng tự nhiên thường xanh cho nên nguồn nước trong khu vùng tương đối dồi dào Các con sông và suối chính thường có nước quanh năm Trong cụm lưu vực có 1 hệ thủy chính là hệ thống thượng nguồn sông Kôn Sông bắt nguồn từ vùng rừng núi phía Tây huyện Hoài Ân và An Lão có độ cao từ 600 – 1.000 m, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Qua các vùng Hoài Ân, An Lão, Vĩnh Thạnh, Tây Sơn và có rất nhiều phụ lưu Hệ thống thượng nguồn sông Kôn gồm rất nhiều sông suối lớn nhỏ, đây là hệ thuỷ chính có lưu vực lớn của sông Kôn Trong hệ thống thượng nguồn sông Kôn gồm 2 hệ thủy phụ lưu sông Kôn là:

* Hệ thống sông Mia

Là phụ lưu của sông Kôn, bắt nguồn từ phía Bắc xã An Toàn, chảy theo hướng Nam rồi nhập vào sông Kôn Đây là hệ thuỷ bổ sung nguồn nước đáng kể cho sông Kôn

* Hệ thống sông Trinh

Trang 8

Là phụ lưu của sông Kôn, bắt nguồn từ phía Đông xã An Toàn, theo hướng Nam rồi nhập về sông Kôn Đây cũng là hệ thuỷ bổ sung nguồn nước đáng kể cho sông Kôn

Ngoài ra, trong vùng có nhiều suối như: suối Sơn Lang, suối Quyên, suối ĐaK Lót, suối ĐaK Trú, suối Xem Hầu hết các nhánh suối ngắn và dốc, tất cả đều đổ về sông Kôn

Các hệ thủy này có ảnh hưởng lớn tới hệ thống thủy điện, thủy lợi và tưới tiêu cho vùng hạ lưu Sông Kôn Vì vậy ngoài giá trị về bảo tồn, khu rừng An Toàn còn có chức năng phòng hộ đầu nguồn, đảm bảo nguồn nước quanh năm cho Sông Kôn

3 Nhận xét chung

Sông Kôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển dân sinh, kinh tế, xã hội của tỉnh Bình Định Nhưng đây cũng là nơi rất dễ bị ảnh hưởng và nhạy cảm với thiên tai và các tác động của biến đổi khí hậu Những năm gần đây, tỉnh Bình Định và lưu vực sông Kôn đã chịu tác động và ảnh hưởng của nhiều trận thiên tai như bão lớn, mưa to, lũ lụt và hạn hán với cường độ và tần suất tăng lên đáng kể, gây ra những thiệt hại lớn về kinh tế - xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường ở hạ lưu, gây tổn thất về tài sản và cuộc sống của người dân

Mặc dù đã có nhiều công trình đã triển khai, nhưng nếu chỉ xem xét hai nhà máy thủy điện lớn trên địa phận tỉnh Bình Định là thủy điện Vĩnh Sơn, hồ chứa nước kết hợp thủy điện Định Bình và đập dâng Văn Phong đang hoạt động đã bộc

lộ các tác động như thay đổi chế độ dòng chảy ở hạ lưu sông, làm thiếu nước tưới cho nông nghiệp vào tháng mùa khô Đáng lưu ý hơn chất lượng nước trong thời gian gian tích nước và xả nước của các thủy điện, hồ chứa đã làm ảnh hưởng đến chất lượng nước ở hạ lưu Ngoài ra, sự suy giảm tài nguyên sinh học vùng hạ lưu

đã đe dọa đến các loài nước ngọt và sinh kế của người dân ở vùng đầm phá, duyên hải

II CÁC BÊN LIÊN QUAN TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆN TRẠNG LƯU VỰC SÔNG KÔN-HÀ THANH

Trang 9

Cũng như các hệ thống sông khác, sông Kôn đang phải chịu đựng rất nhiều yếu tố tác động đến lưu vực, cụ thể:

1 Thủy điện

Trên dòng sông xây dựng nhiều nhà máy thủy điện lớn nhỏ Hai nhà máy thủy điện lớn trên địa phận tỉnh Bình Định là thủy điện Vĩnh Sơn, hồ chứa nước kết hợp thủy điện Định Bình và đập dâng Văn Phong, hiện nay đang xây dựng thêm một số nhà máy thủy điện nhỏ nữa Chỉ trên một đoạn của sông Kôn từ xã Bình Tường (huyện Tây Sơn) lên xã Vĩnh Sơn (huyện Vĩnh Thạnh) với chiều dài khoảng 80 km

và cả lưu vực các con suối tại các xã thượng nguồn Vĩnh Sơn, Vĩnh Kim đến nay

đã có đến 14 dự án xây dựng nhà máy thuỷ điện lớn, nhỏ Việc xây dựng các nhà máy thủy điện đang có những vấn đề tồn tại như sau:

Thủy điện trên các lưu vực sông khiến các dòng sông tự nhiên đều bị thay đổi, làm mất rừng đầu nguồn khiến đa dạng sinh học bị giảm và gia tăng lũ quét Những hồ đập ở thượng nguồn sông Kôn là những “quả bom nước” treo trên đầu các khu vực đông dân dưới hạ lưu Việc xây dựng nhiều thủy điện đã làm gia tăng nguy cơ lũ lụt trên địa bàn tỉnh

Việc thi công xây dựng và chặn dòng tích nước các hồ thủy điện trên các nhánh sông đã làm suy giảm số lượng và chất lượng dòng chảy ở hạ lưu, việc tích nước kéo dài đã gây ra tình trạng thiếu nước cấp cho sản xuất nông nghiệp các xã

hạ lưu, mặt khác ngay vào mùa cạn cũng đã xuất hiện úng ngập cục bộ, ngắn ngày tại các ô trũng ở hạ lưu

Trong mùa lũ thủy điện vận hành tạo ra tình hình ngập úng kéo dài hơn trước khi có đập, và xói lở hai bờ sông sẽ nghiêm trọng hơn bởi vì khả năng điều tiết của

hồ Định Bình lớn, lại nhận thêm nước xả từ hồ thủy điện Vĩnh Sơn, trong khi đó địa chất bờ sông yếu Sự thay đổi chế độ dòng chảy hạ lưu các tuyến đập làm tăng

tốc độ bồi lắng trên sông và các nhánh nhỏ của sông

Quá trình thi công xây dựng và chặn dòng tích nước các hồ thủy điện ở Bình Định đã có những ảnh hưởng nhất định đến chế độ dòng chảy hạ du các con sông Trước hết là làm suy giảm số lượng và chất lượng dòng chảy ở hạ lưu trong thời

Trang 10

gian thi công và tích nước ban đầu, một lượng lớn bùn cát, phù sa bị giữ lại trong lòng hồ Điều đó không chỉ làm giảm tuổi thọ của hồ chứa mà còn gây ra tình trạng thiếu hụt phù sa, bùn cát ở hạ lưu, gây ảnh hưởng đến hình thái và sinh kế của người dân làm nghề khai thác cát sỏi

Việc làm vệ sinh lòng hồ thủy điện trước khi tích nước được đánh giá là chưa đạt yêu cầu Thực vật chết nổi lên mặt hồ và hiện tượng phú dưỡng phát triển rất mạnh Hậu quả rất rõ ràng với mùi hôi của Sunfua Hidro từ các váng nước, màu sắc

và độ đục của nước sông chảy ra

Hàm lượng các kim loại như sắt, măng-gan trong nước sông đoạn sau đập tăng lên, mặc dù còn nằm trong giới hạn cho phép của nguồn nước cấp, chất lượng nước sông đang có xu hướng giảm, nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngày càng tăng đặc biệt

là vào các tháng mùa khô

Tác động của các công trình hồ chứa ở thượng lưu đến đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật thể hiện rõ nhất ở vùng đầm phá vùng cửa sông Độ mặn nước đầm Thị Nại sau khi có hồ thủy điện duy trì ổn định ở mức cao và tăng lên cao hơn hẳn vào mùa khô, giảm hàm lượng mùn bả hữu cơ bổ sung Cở sở thức ăn trong đầm phá giảm kéo theo giảm sản lượng và năng suất khai thác thủy sản

Sự biến đổi động vật nổi trong vùng đầm là rất rõ, số lượng và chất lượng bị suy giảm Sự giảm sút này còn có nhiều nguyên nhân khác như ô nhiễm xung quanh khu vực đầm phá, áp lực đánh bắt thủy sản gia tăng lớn cả số lượng và đặc thù của dụng cụ, phương tiện đánh bắt,

Do độ mặn của đầm phá tăng nên thành phần loài có nguồn gốc biển tăng nhưng do lượng mùn bả hữu cơ bổ sung giảm, làm giảm mật độ động vật đáy Các công trình đạp hồ chứa thượng lưu làm mất khả năng di cư của một số loài cá như

cá chình,… dẫn đến suy giảm tính đa dạng sinh học

Việc xây dựng các lòng hồ thủy điện đã làm mất hàng nghìn ha rừng thuộc lưu vực sông Để xây dựng thủy điện nhiều chỗ phía trên lòng hồ phải mở đường, tạo điều kiện cho người dân và lâm tặc vào phá rừng ngoài diện tích lòng hồ

2 Chặt phá rừng bừa bãi

Trang 11

Khai thác rừng đang là vấn đề xã hội quan tâm khi mà vai trò của rừng ngày càng được khẳng định Hiện nay về lý thuyết có thể hạn chế nhu cầu về lâm sản bằng việc thay thế những vật liệu mới nhưng thực tế không triệt tiêu được nhu cầu

đó Việc phá rừng gây ra những hậu ảnh hưởng tới lưu vực sông như :

- Thoái hóa đất đai: Khai thác trắng, bón phân không đúng cách, lửa rừng

- Phá hủy thảm thực vật rừng

- Suy thoái tài nguyên rừng

- Giảm độ ẩm đất và mạch nước ngầm tụt sâu xuống

- Gây ra nạn lũ quét

Như vậy nếu rừng trong lưu vực sông không được bảo vệ thì sẽ gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng: Hạn chế khả năng điều hòa dòng chảy trong năm, tăng dòng chảy mặt, giảm dòng chảy ngầm, từ đó làm tăng tổng lượng dòng chảy mặt khiến đỉnh lũ cao hơn Mất rừng còn góp phần làm tăng xói mòn rửa trôi trên

bề mặt lưu vực, giảm độ phì nhiêu của đất

3 Ô nhiễm môi trường nước

Hàng năm Chi cục Bảo vệ môi trường đều tiến hành quan trắc, theo dõi, đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường trên địa bàn tỉnh, trong đó có nguồn nước lưu vực sông Kôn Kết quả cho thấy, chất lượng nước mặt sông Kôn đã có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ, với chỉ tiêu BOD5 và PO43- tại nhiều vị trí đã vượt tiêu chuẩn cho phép Fe có sự gia tăng đáng kể vào mùa mưa, gấp 2-4 lần TCCP Chất lượng nước sông đối với các chỉ tiêu khác vẫn còn khá tốt Nhìn chung, chất lượng nước sông Kôn hiện nay về hạ lưu vẫn đạt tiêu chuẩn nước mặt dành cho mục đích thủy lợi Đối với khu vực thượng lưu, vào mùa khô phần lớn các chỉ tiêu đạt tiêu chuẩn dành cho mục đích sinh hoạt nhưng vào mùa mưa thì chỉ đạt tiêu chuẩn dành cho nước sinh hoạt nhưng phải áp dụng công nghệ xử lý phù hợp Điều này đặt ra vấn đề phải kiểm soát, theo dõi và có giải pháp xử lý đối với nguồn nước cấp sinh hoạt của thành phố khi mùa mưa đến Các nguồn gây ô nhiễm chính cho lưu vực sông Kôn có thể kể ra như :

a) Chất thải do sinh hoạt:

Ngày đăng: 16/10/2017, 15:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w