1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Phân tích xu thế tự do hóa thương mại và hiện trang các doanh nghiệp sản xuất trong nước

19 209 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 112,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích Xu thế Tự do hóa thương mại và hiện trang các doanh nghiệp sản xuất trong nước Trước xu thế tự do hóa thương mại, các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng được nhiều quốc

Trang 1

Phân tích Xu thế Tự do hóa thương mại và hiện trang các doanh nghiệp sản xuất trong nước

Trước xu thế tự do hóa thương mại, các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng được nhiều quốc gia sử dụng như là công cụ hữu hiệu để bảo hộ sản xuất trong nước

Before the trend of liberalized trade, the regulations on technical standards for many countries is increasingly used as an effective tool to protect domestic production

Trả lời:

Ngày nay, trong đời sống kinh tế - xã hội, xu thế tự do hoá thương mại đang

ngày càng mở rộng và được các quốc gia tích cực theo đuổi để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước mình Đây là một xu thế khách quan, một nhu cầu tất yếu với những lợi ích không thể phủ nhận Tuy nhiên, nó cũng mang lại không ít khó khăn, đặc biệt là đối với những nền kinh tế còn non trẻ, sức cạnh tranh của các nền sản xuất trong nước còn kém Vì vậy, các quốc gia thường

sử dụng các hàng rào thuế quan và phi thuế quan để bảo hộ nền sản xuất trong nước; coi bảo hộ là công cụ đắc lực trong chính sách thương mại của mình

Tính cấp thiết của vấn đề bảo hộ sản xuất trong nước là:

- Bảo hộ hiện nay đang là công cụ phổ biến được Chính phủ các nước sử dụng để nâng đỡ các doanh nghiệp gặp khó khăn, đặc biệt là các doanh nghiệp có ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc dân hoặc các doanh nghiệp tập trung nguồn nhân lực và tài chính lớn Điều này được thể hiện rõ nhất ở các nước đang phát triển như các nước châu Mỹ La Tinh, các nước Đông Nam Á, nơi tồn tại số lượng lớn các doanh nghiệp nhà nước Hầu hết các doanh nghiệp của các quốc gia này đều đang gặp khó khăn trong vấn đề cạnh tranh trên thị trường nội địa cũng như quốc tế mà nguyên nhân sâu xa có thể là do thiếu vốn, hạn chế trong vấn đề đào tạo nhân lực,

Trang 2

thậm chí là yếu kém trong khâu quản lý,… Mặc dù vậy việc giải thể các doanh nghiệp này là vấn đề nan giải vì hầu hết các doanh nghiệp này thu hút một lực lượng lớn lao động hoặc được đầu tư những nguồn tài chính không nhỏ Vì vậy việc giải thể có thể là cú sốc lớn cả về kinh tế và chính trị Mặt khác, Chính phủ khó giải thể các doanh nghiệp này vì có thể họ vẫn còn tin vào khả năng chuyển biến tình thế của đội ngũ lãnh đạo hoặc đây là những doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực được ưu tiên phát triển theo chiến lược dài hạn

- Bảo hộ còn giúp cho các quốc gia trên thế giới duy trì việc làm cho các tổ chức hoặc nhóm người nhất định và giảm bớt sức ép về chính trị của các tổ chức đoàn thể Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu để Chính phủ các nước có nền kinh tế đang chuyển duy trì biện pháp bảo hộ đối với những ngành nhất định Điều này cũng tương tự như đối với vấn đề bảo hộ một số ngành ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển như Mỹ và các nước EU Chẳng hạn như để thu hút khá nhiều lao động, EU đã đưa ra những thỏa thuận về hạn chế xuất khẩu tự nguyện (VER) với các nước khác, đặc biệt là các nước có nguồn nguyên liệu phong phú và lực lượng nhân công rẻ

- Đối với các nước đang và chậm phát triển là việc các nước này thường xuyên duy trì cán cân thanh toán có lợi và cải thiện nguồn ngân sách Có thể dễ dàng nhận thấy hầu hết các quốc gia đang và chậm phát triển đều có một cán cân thanh toán đang bị thâm hụt và một nguồn ngân sách hạn hẹp vốn được tài trợ chủ yếu thông qua thuế và vay nợ nước ngoài Để tránh tình trạng đó các quốc gia có thể

áp dụng nhiều hình thức bảo hộ khác nhau nhằm phát triển những ngành hàng thay thế nhập khẩu hoặc hướng về xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu những mặt hàng không cần thiết hay xa xỉ từ đó hạn chế chi tiêu ngoại tệ và thu về nhiều hơn thông qua xuất khẩu

- Một lý do không thể không đề cập đến khi duy trì các biện pháp bảo hộ là mong muốn cải thiện các ngành sản xuất nội địa Bất cứ một quốc gia nào trên thế giới đều có chiến lược phát triển kinh tế nhất định, trong đó luôn xác định những lĩnh vực ưu tiên đặc biệt Nhưng để các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực

Trang 3

này đạt được hiệu quả tối ưu và nâng cao khả năng cạnh tranh trong nước và quốc

tế, Nhà nước cần phải có những ưu đãi đặc biệt Ví dụ Hoa Kỳ, một nước được coi

là có nền kinh tế phát triển nhất thế giới trong thời gian qua vẫn duy trì khá nhiều phương thức bảo hộ đối với nền nông nghiệp, trong đó có cả những phương thức đi ngược lại lợi ích thương mại quốc tế và bị nhiều quốc gia khác trên thế giới phản kháng

- Đối với các quốc gia có tiềm lực cả về kinh tế và chính trị, các biện pháp bảo hộ còn được duy trì như là một công cụ chính trị để đơn phương gây sức ép với các quốc gia khác Mặc dù đây là mục đích hết sức cá biệt trong xu thế phát triển theo hướng đa cực hóa của thế giới song hiện tượng này đã và đang tiếp tục xảy ra Hoa Kỳ là quốc gia lạm dụng công cụ bảo hộ nhiều nhất vào mục đích này Trong luật pháp Hoa Kỳ có những điều khoản đặc biệt cho phép quốc hội đưa ra những biện pháp thương mại đơn phương đối với bất cứ quốc gia nào được coi là có thể đe dọa đến vấn đề an ninh của Hoa Kỳ

Các biện pháp kỹ thuật là một trong những hàng rào phi thuế quan được các nước sử dụng khá phổ biến để bảo hộ sản xuất trong nước Tuy nhiên, không phải bất cứ sự bảo hộ nào bằng rào cản kỹ thuật thương mại cũng được coi nhưng một biện pháp bảo hộ hợp lý WTO cho phép các nước sử dụng các rào cản kỹ thuật nhằm những mục đích như: bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo vệ người tiêu dùng, hạn chế nhập khẩu những hàng hóa không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái… Các rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế rất đa dạng

và được áp dụng rất khác nhau ở các nước tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nước

Mỗi quốc gia trên thế giới đều đưa ra những qui định riêng cho các tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm khi lưu thông trên thị trường Các qui định về tiêu chuẩn kỹ thuật thực tế là những yêu cầu về đặc tính kỹ thuật mà hàng hoá đảm bảo, nhằm bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường, động thực vật và sinh thái của các quốc gia Tuy nhiên, những qui định này có thể bị sử dụng như rào cản thứ ba, bởi vì nó không thực tế và bất hợp lý; các qui định này có thể hợp lý và bình

Trang 4

thường nhưng không giống nhau; thủ tục kiểm duyệt chất lượng sản phẩm của các nước cũng khác nhau Vì thế để giải quyết vấn đề này, các nước thành viên của WTO đã thống nhất ký kết Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (gọi tắt

là TBT)

Các nước tham gia WTO đều có nghĩa vụ thực hiện Hiệp định TBT Mục đích cơ bản của Hiệp định TBT là thiết lập sự cân bằng giữa quyền tự do thiết lập các tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu đối với một cơ chế pháp lý, nhằm tối thiểu hoá những bất hợp lý ảnh hưởng đến thương mại giữa các nước Mục đích của việc xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật là:

1 Tạo điều kiện trợ giúp các nhà sản xuất trong nước từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa và từng bước mở rộng thị trường ngoài nước

2 Tạo điều kiện huy động các nguồn lực trong và ngoài nước vào việc khai thác tiềm năng và lợi thế nhằm đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

3 Góp phần ổn định kinh tế - xã hội đất nước trong quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế trên cơ sở tạo thêm việc làm, nâng cao đời sống người lao động, đáp ứng nhu cầu hàng hoá của nền kinh tế

4 Bảo hộ sản xuất trong nước không chỉ hướng tới những mục tiêu kinh tế

và bảo vệ lợi ích của các nhà sản xuất, mà còn hướng tới những mục tiêu xã hội và bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng trên thị trường nội địa

Rào cản kỹ thuật thương mại là việc các nước nhập khẩu đưa ra các yêu cầu

về quy định kỹ thuật cũng như các tiêu chuẩn áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu một cách khắt khe nhằm bảo hộ sản xuất trong nước

Tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật đều đặt ra những yêu cầu cụ thể về mặt vật

lý đối với sản phẩm Các yêu cầu này có thể liên quan đến kích thước, độ dài, hình dáng, thiết kế và các chức năng của sản phẩm Ngoài ra cũng có thể quy định về

Trang 5

nhãn mác, đóng gói, ký mã hiệu sản phẩm và rộng hơn nữa là quy trình và phương pháp sản xuất sản phẩm

Nếu như các tiêu chuẩn kỹ thuật chỉ mang tính tự nguyện, hàng nhập khẩu không tuân thủ đúng theo các yêu cầu của tiêu chuẩn đặt ra thì vẫn được phép nhập khẩu, bán ra thị trường mặc dù phải đối mặt với nguy cơ bị người tiêu dùng tẩy chay, thì trái lại, các quy định kỹ thuật có tính chất bắt buộc, hàng hóa nếu không đạt được yêu cầu của các quy định kỹ thuật của một quốc gia thì sẽ không được phép nhập khẩu vào lãnh thổ của quốc gia đó

Các quốc gia đưa ra những tiêu chuẩn, quy định về kỹ thuật nhằm bảo vệ an toàn sức khỏe cho con người, động thực vật, bảo vệ môi trường, ngăn chặn các hành

vi lừa dối, v.v

Hàng rào kỹ thuật thương mại còn quy định về thủ tục đánh giá sự phù hợp với các tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật, ví dụ như xét nghiệm, thẩm tra, xác thực, kiểm định, chứng nhận,… nhằm đảm bảo rằng các sản phẩm đã đáp ứng các yêu cầu

kỹ thuật được đặt ra trong các tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật

Các tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật cũng như thủ tục đánh giá sự phù hợp không được tạo ra các trở ngại không cần thiết đối với thương mại quốc tế, phải đảm bảo nguyên tắc không phân biệt đối xử và đãi ngộ quốc gia, phải minh bạch và tiến tới hài hòa hóa

Vấn đề lớn đặt ra cho hoạt động Tiêu chuẩn hóa nói chung và cho xây dựng, công bố các Tiêu chuẩn kỹ thuật nhất là các TCVN nói riêng đó là: Làm thế nào để trong một thời gian ngắn (tới năm 2010-2015) có được một hệ thống Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) cho các đối tượng quản lý (sản phẩm - hàng hóa - dịch vụ, quá trình, môi trường ) có nội dung quy định tương thích với yêu cầu phát triển kinh tế

- xã hội và là cơ sở để tiến hành các đàm phán, thỏa thuận song phương và đa phương về thương mại, hợp tác đầu tư và các hoạt động khác có liên quan Trong khi phải xem xét, hủy bỏ hoặc bổ sung, nâng cấp hàng nghìn các TCVN đã ban hành không còn thích hợp, phải tiến hành nghiên cứu, xây dựng, công bố hàng

Trang 6

nghìn các TCVN mới Đây là khối lượng công việc lớn, phức tạp, phải tiến hành khẩn trương nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng của bản thân từng Tiêu chuẩn (không thể sao chép nguyên si các Tiêu chuẩn Quốc tế một cách máy móc) Công việc này đòi hỏi sự đầu tư lớn cả về chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết (nhất là huy động đội ngũ chuyên gia chuyên ngành, nguồn tư liệu tham khảo, kinh phí), sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ quản lý Ngành với Bộ Khoa học và Công nghệ, sự làm việc rất chuyên nghiệp của các Ban Kỹ thuật

Câu 2.

Hiện nay đất nước đang thiếu vốn đầu tư để thực hiện chương trình công nghiệp hóa, do đó Chính phủ Việt Nam không nên khuyển khích đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Có hay không?

Trả lời:

Trong xu thế hội nhập kinh tế hiện nay, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là xu hướng tất yếu của các nước trên thế giới Đó không chỉ là đặc quyền của các nước

có nền kinh tế phát triển, có tiềm lực tài chính mạnh, có khoa học công nghệ hiện đại, có trình độ quản lý tiên tiến mà ngay cả đối với các nước có nền kinh tế đang và kém phát triển thì dòng đầu tư ra cũng đã phát triển một cách mạnh mẽ Sự tham gia của các nước đang phát triển làm phong phú, đa dạng thêm môi trường hoạt động đầu tư quốc tế Việt Nam không nằm ngoài xu thế chung đó, trong những năm gần đây, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng phát triển Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp doanh nghiệp khai thác được những lợi thế cạnh tranh cũng như có thể vượt qua các rào cản thương mại của nước nhận đầu tư để có thể mở rộng thị trường sản xuất, tạo điều kiện thu được nhiều hiệu quả hơn từ hoạt động sản xuất kinh doanh

Bản chất của đầu tư trực tiếp ra nứớc ngoài là sự di chuyển một khối lượng nguồn vốn kinh doanh dài hạn giữa các quốc gia nhằm thu lợi nhuận cao hơn.Đó chính là hình thức xuất khẩu tư bản để thu lợi nhuận cao Do đi kèm với đầu tư vốn

Trang 7

là đầu tư công nghệ và tri thức kinh doanh nên hình thức này thúc đẩy mạnh mẻ quá trình CNH-HĐH ở các nước nhận đầu tư

Đầu tư ra nước ngoài là một lĩnh vực mới trong chiến lược đầu tư ở nước ta Ngày nay đầu tư ra nước ngoài ngày càng có vị trí quan trọng ,chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong công tác đầu tư của nền kinh tế ,thể hiện một vai trò hết sức lớn Cụ thể vai trò của chúng được phân tích ở một số khía cạnh sau đây:

Thứ nhất : Tạo cơ hội nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính Đầu tư ra nước ngoài nó có lợi ích cho cả bên, bên nhận đầu tư và bên đầu

tư Đầu tư ra nước ngoài là hình thức luân chuyển vốn dư thừa tương đối trong nước ra nền kinh tế khác ở nước ngoài Nó giải quyết được vấn đề sử dụng số vốn thừa tương đối này sao cho có hiệu quả cao nhất…Việc mở rộng và phát triển hoạt động đầu tư ra nước ngoài tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển các nguồn lực ra khỏi phạm vi của một quốc gia, với một phạm vi rộng hơn và môi trường khác hơn đó là trên bình diện quốc tế Trong môi trường đó các nhà đầu tư có thể lựa chọn môi trường và lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài có lợi nhuận cao hơn đầu ở trong nước

Thứ hai : Đầu tư ra nước ngoài tạo cơ hội mở rộng thị trường kinh doanh, tăng cường học hỏi kinh nghiệm kinh doanh, nâng vị thế hình ảnh của nước chủ đầu tư trên thị trường quốc tế Khi đầu tư ra nước ngoài thì sẽ có cơ hội cung ứng sản phẩm sản xuất của doanh nghiệp mình tại nước sở tại một cách hợp pháp, dễ dàng, không chịu các điều kiện ràng buộc ngặt nghèo khi xuất khẩu hàng hóa trực tiếp phải chịu Đây là điều kiện tốt để thâm nhập sâu vào thị trường nội địa của nước sở tại, mở rộng thị trường tiêu thụ Khi đầu tư vào một nước phát triển, với

cơ sở vật chất và điều kiện hiện đại, tác phong công nghiệp Đây là cơ hội tốt để hoàn thiện phương cách quản lý hiện đại của Doanh nghiệp mà trong nước không

có điều kiện áp dụng, học tập cơ chế quản lý hiện đại

Thứ ba : Thúc đẩy các nền kinh tế quốc gia nhanh chóng hòa nhập vào nền kinh tế thể giới Ngày nay, khu vực hóa và quốc tế hóa đời sống kinh tế đã trở thành xu thế mang tính thời đại Mở rộng đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ

Trang 8

kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập quan hệ kinh tế quốc tế Việc mở rộng hợp tác quốc tế nhằm mục đích kết hợp các yếu tố trong nước với các yếu tố nước ngoài và khai thác các có hiệu quả nguồn lực ngoài nước phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Việc mở rộng các quan hệ tài chính quốc tế thông qua các hình thức đầu tư ra nước ngoài góp phận thúc đẩy các nền kinh tế quốc gia nhanh chóng hòa nhập với nền kinh tế thế giới Trong điều kiện nền kinh tế mang tính toàn cầu hóa cao độ, tính liên phụ thuộc nền kinh tế các nước ngày càng tăng lên, không một quốc gia nào tự mình giải quyết mọi vấn đề nếu không mở rộng giao lưu kinh tế với các nước khác Đặc biệt đối với các nước nghèo và chậm phát triển Việc tiến hành hoạt động đầu tư ra nước ngoài giữa các nước với nhau là tất yếu dẫn đến sự di chuyển các nguồn lực tài chính từ các quốc gia này sang quốc gia khác Hay nói cách khác thông qua hoạt động đầu tư giữa các nước với nhau các nguồn tài chính được phân phối trên phạm vi thế giới Sự phân phối có tác động tích cực và tiêu cực đến sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, do vậy đòi hỏi mỗi một quốc gia nên cân nhắc trên cả khía cạnh sử dụng các nguồn lực trong nước tham gia vào các hoạt động hợp tác quốc tế, trên cả khía cạnh khai thác

và sử dụng các nguồn lực ngoài nước phục vụ cho sự phát triển của quốc gia mình Các nguồn lực di chuyển không chỉ là vốn mà quốc gia có thể có thể tranh thủ được công nghệ ,kỷ thuật tiên tiến ,giải quyết được vấn đề lao động…

Tính tất yếu của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Toàn cầu hóa, xét về bản chất là quá trình tăng lên mạnh mẽ và rộng lớn những mối quan hệ ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau, trong các mối quan hệ kinh tế - thương mại của tất cả các khu vực, tiểu khu vực ,các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới Toàn cầu hóa là xu thế quốc tế hóa phát triển ở giai đoạn cao Toàn cầu hóa là xu thế hướng đi đến hình thành một nền kinh tế thế giới thống nhất trên phạm vi toàn cầu, trong đó có sự tham gia của các quốc gia trên thế giới Dưới tác động qua lại lẫn nhau ảnh hưởng phụ thuộc lẫn nhau, bổ sung cho nhau của các nền kinh tế ngày càng tăng, các yếu tố cản trở nền sản xuất càng mất đi bởi sự tự do hóa nền kinh tế và thương mại toàn cầu Một đặc trưng cơ bản của toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới là sự phát triển nhanh chóng của quan hệ

Trang 9

kinh tế - thương mại và quan hệ chủ yếu hàng hóa dịch vụ ,vốn , lao động…trên phạm vi toàn thế giới Trong những mối quan hệ đó, các quốc gia liên kết chặt chẽ với nhau, phụ thuộc lẫn nhau trong sự phân công và hợp tác kinh doanh – thương mại trên phạm vi toàn cầu, có sự lưu thông hàng hóa dịch vụ, vốn, công nghệ, các nguồn nhân lực trên phạm vi toàn cầu, chịu sự điều tiết của các qui tắc chung toàn cầu Chính vì vậy, hội nhập kinh tế quốc tế là tất yếu, quá trình mỗi quốc gia tạo điều kiện tự do hóa và hỗ trợ (theo cam kết song phương hoặc đa phương cấp chính phủ) cho hoạt động của các dòng vốn, hàng hóa, dịch vụ lao động qua biên giới nước mình theo cả hai chiều: dòng vào và dòng ra …Thực tiễn thế giới chứng

tỏ rằng một nước mà dòng đầu tư ra nước ngoài càng mạnh thì càng có nhiều khả năng mở rộng thị trường, tăng cơ hội đầu tư kinh doanh, tăng việc làm và tăng động lực phát triển kinh tế đất nước Mỹ, Nhật -những nước có nền kinh tế đứng nhất nhì thế giới – cũng đồng thời là những nước có dòng đầu tư ra nước ngoài lớn nhất thế giới Đặc biệt, chính phủ Nhật Bản là tấm gương điển hình về sự quan tâm hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài Những hiệp định đầu tư cấp chính phủ được ký kết để mở lối và tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi, an toàn cho doanh nhân Nhật Bản triển khai các hoạt động kinh doanh của mình ở nước ngoài Ngay cả các điều kiện kèm theo những khoản ODA và viện trợ khác (thường là chỉ định nguồn cung cấp và chủ thầu…,cũng có mục tiêu ngầm, nhưng rất quan trọng

và rõ ràng là tạo điều kiện cho các doanh nhân Nhật Bản bán được hàng, cung cấp thiết bị công nghệ hay trực tiếp đảm nhận tư vấn và tham gia triển khai nhiều dự

án được tài trợ từ nguồn viện trợ của chính phủ Nhật Bản tại nước nhân viện trợ Hoặc như Trung Quốc, không những đứng đầu các nước đang phát triển về kết quả thu hút FDI,mà từ hàng chục năm nay họ còn luôn có dòng đầu tư ra nước ngoài lớn hàng đầu trong nhóm các nước đang phát triển.Điều này góp phần giải thích vì sao hàng xuất khẩu của trung quốc vừa bành trướng ồ ạt,vừa len lỏi vững chắc vào tận hang cùng ngõ hẻm thị trường trên toàn thế giới –nhất là những nơi doanh nhân Trung Quốc đầu tư ra thành công như Mỹ , Liên Bang Nga và các nước SNG

Trang 10

Song , đối với những nước mới tham gia hội nhập kinh tế quốc tế ,đặc biệt là nước tham gia WTO như nước ta ,thì vấn đề hỗ trợ các doanh nhân và doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn chưa quan tâm đúng mức Dường như nhiều người còn mang nặng tâm lý : trong nước đang còn thiếu vốn thì không nên đầu tư ra nước ngoài,bởi đầu tư ra nước ngoài làm giảm sút nguồn vốn đầu tư trong nước Nói cách khác họ chỉ coi trọng dòng vốn chảy vào ,mà ít quan tâm hỗ trợ dòng vốn chảy ra ,nhất là dòng đầu tư ra nước ngoài của doanh nhân , doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước

Toàn cầu hóa nó vừa là một xu thế ,nó vừa là một cơ hội lớn cho nền kinh tế việt nam Biết nhận thức hội nhập sâu rộng để tạo thuận lợi cho nền kinh tế phát triển , tăng vị thế ,đưa nước ta lên tầm cao mới

Answer:

Today, in economic - social life trend of liberalized trade are increasingly extended and countries actively pursued to create favorable conditions for the development economy of their countries This is an objective trend, an inevitable demand for these benefits can not be denied However, it also brings a lot of difficulties, especially for the still young economy, the competitiveness of domestic production poorly So countries often use non-tariff and tariffs barriers to protect domestic production; protection is considered an effective tool in their trade policies

The urgency of of protection domestic production problem is:

- Protection is now a common tool governments use to support troubled enterprises, especially enterprises that affect the national economy or business focus human and finance This is the most expressed in the developing countries such as Latin American countries, the countries of Southeast Asia, where exists a large number of State enterprises Most of the enterprises of this countries are facing difficulties in competitive matters on the domestic market as well as international underlying causes may be due to lack of capital, limitations in trained manpower

Ngày đăng: 16/10/2017, 15:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w