Doanh nghiệp phải tìm kiếm một thị trường mới những thị trường từ khu vực đến các vùng lân cận ra đến thị trường nước ngoàinhằm tăng thị phần, doanh thu cũng như lợi nhuận.Khi doanh nghi
Trang 1Phân tích tính tất yếu môi trường quản trị Đa văn hóa của hãng Sony
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3
1 Giới thiệu về hãng Sony 3
1.1 Tổng quan về Sony 3
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 3
2 Tính tất yếu của Quản trị đa quốc gia với Sony 5
3 Đa văn hóa, Quản trị Đa văn hóa, Tính tất yếu của Quản trị Đa văn hóa 7
3.1 Đa văn hóa 7
3.2 Quản trị Đa văn hóa 8
3.3 Tính tất yếu của Quản trị Đa văn hóa 8
4 Thực trạng của đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội hiện nay của các Doanh nghiệp Việt nam và biện pháp để giải quyết các thực trạng đó 9
4.1 Thực trạng của đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội hiện nay của các Doanh nghiệp Việt nam 9
4.2 Biện pháp để giải quyết các thực trạng đó 10
4.2.1 Xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh 10
4.2.2 Xây dựng văn hóa của đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan công quyền 10
4.2.3 Tuyên truyền, giáo dục, đào tạo, nâng cao nhận thức về văn hóa kinh doanh 11
4.2.4 Xây dựng văn hóa cho đội ngũ doanh nhân Việt Nam 12
KẾT LUẬN 13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
TABLE OF CONTENT TABLE OF CONTENT 2
INTRODUCTION 3
Trang 2RESEARCH OF CONTENT 4
1 Introduction on the Sony 4
1.1 Overview of the Sony 4
1.2 Establishment History and development 4
2 The inevitability of Intercultural Management with Sony 6
3 Multiculturalism, Multicultural Management, Count inevitable Multicultural Management 8
3.1 Multiculturalism 8
3.2 Intercultural Management 8
3.3 The inevitability of Intercultural Management 9
4.1 Be present reality of business ethics and social responsibility of the enterprise in Vietnam, now 10
4.2 Measures to address this reality 11
4.2.1 Building a healthy business environment 11
4.2.2 Build a culture of staff, employees of public authorities 11
4.2.3 Propagation, education, training and raising awareness about business culture 12 4.2.4 Cultural Construction for the contingent of entrepreneurs Vietnam 12
CONCLUSION 14
LIST OF REFERENCES 15
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Một số tổ chức chỉ có những người đến từ một nền văn hoá, nhưng không ít nơithuê người từ nhiều nền văn hoá khác nhau Sâu xa hơn, tác động của toàn cầu hoákhiến cho đối tác của nhiều công ty không chỉ là những tổ chức bên ngoài mà còn làchính các bộ phận trong tổ chức của mình
Vì những lý do này, các nhà lãnh đạo trong thế kỷ 21 cần phải thành thạo việcquản lý nguồn nhân lực đa văn hoá Họ cần nhanh chóng nắm bắt đặc điểm của cácnền văn hoá, bởi nó có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành hành vi Các nhà lãnhđạo cũng cần biết cách xây dựng văn hoá tích cực và phù hợp với hướng phát triển của
tổ chức Nếu không làm được điều này, họ sẽ không có được những đối tác và nhânviên tốt nhất, và cũng không thể nhờ đến những sức mạnh mà văn hoá mang lại
Văn hoá diễn ra ở các cấp độ khác nhau Một mặt, các cá nhân bị tác động bởinền tảng đạo đức, chủng tộc, tôn giáo và quốc gia Mặt khác, họ bị ảnh hưởng bởinhững tiêu chuẩn, lý tưởng, giá trị và kinh nghiệm Ở một cấp độ nào đó, họ bị tácđộng bởi văn hoá của tổ chức Để hiểu những điều này có thể chúng ta có thể khôngcần nhiều thời gian, nhưng để xây dựng văn hoá cho tổ chức thì phải mất một thờigian dài Chúng có thể không nhận ra ngay tác động của văn hóa đến thái độ và hành
vi của tổ chức hoặc cá nhân Nhưng chính văn hoá tạo ra sự gắn kết thân ái giữa cácthành viên trong tổ chức, và chính sự khác biệt văn hoá sẽ tạo cơ hội cho các nhà lãnhđạo quản lý con người tốt hơn
Trang 4NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Giới thiệu về hãng Sony
1.1 Tổng quan về Sony
Công ty công nghiệp Sony (Sony Corporation), gọi tắt là Sony, là một tập đoàn
đa quốc gia của Nhật Bản, với trụ sở chính nằm tại Minato, Tokyo, Nhật Bản, và làtập đoàn điện tử đứng thứ 5 thế giới với 81,64 tỉ USD (2011) Sony là một trongnhững công ty hàng đầu thế giới về điện tử, sản xuất tivi, máy ảnh, máy tính xách tay
và đồ dân dụng khác
Được thành lập vào tháng 5/1946 tại Nihonbashi Tokyo được mang tên làTokyo Tsushin Kogyo K.K (東京通信工業株式会社, Đông Kinh Thông Tin CôngNghiệp Chu Thức Hội Xã) với số vốn ban đầu là 190.000 yên Công ty này đổi tênthành Sony vào tháng 1/1958 Từ "Sony" là kết hợp của từ "sonus" trong tiếng La-tinh(âm thanh) và từ "sonny" trong tiếng Anh (cậu bé nhanh nhẹn thông minh) theo cáchgọi tên thân mật Những nhà sáng lập hy vọng tên "Sony" thể hiện tinh thần nhiệthuyết và sáng tạo của giới trẻ
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển
Hai nhà sáng lập ra công ty Sony là Masaru Ibuka và Akio Morita
Tháng 6-1957, một tấm bảng lớn mang tên Sony được dựng gần sân bayHaneda ở Tokyo Tháng 1-1958, Công ty Totsuko chính thức trở thành Công ty Sony.Tháng 12 năm đó, tên Sony được niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán Tokyo Mộttrong những việc đầu tiên mà Morita và các đồng nghiệp nghĩ đến là lần lượt đăng kýthương hiệu Sony tại 170 nước, vùng lãnh thổ và đăng ký nhiều ngành sản xuất khácnhau ngoài ngành chính là điện tử Điều đó cho thấy sự nhìn xa trông rộng của các nhàsáng lập và qua đó cũng bộc lộ khát vọng sẽ chinh phục thế giới của họ
Hai nhà sáng lập Sony đều có "gốc gác" là dân kỹ thuật, rất giỏi với nhữngsáng chế Hơn ai hết, họ ý thức được tầm quan trọng của việc luôn phải tiên phongtrong lĩnh vực sáng tạo ra những sản phẩm mới Con đường phát triển của Sony làluôn luôn tìm tòi, nghiên cứu để tạo ra những sản phẩm mới phục vụ đời sống Nhờ đó
mà các sản phẩm đồ điện tử trở nên hết sức phong phú và đa dạng, đáp ứng các nhucầu của người tiêu dùng Khoảng 6%-10% doanh thu hàng năm của Sony được trích
ra dành cho việc nghiên cứu Các sản phẩm không chỉ nhắm vào các nhu cầu hiện tại
Trang 5mà còn dành cho cả các nhu cầu chưa nảy sinh Cần nhắc lại là sản phẩm đầu tiênđược sản xuất dưới thương hiệu Totsuko là chiếc máy ghi âm dùng băng từ tính, ra đờinăm 1950 và hai năm sau đã quen mặt với thị trường Năm năm sau, sản phẩm thứ haicủa Morita và các đồng nghiệp được đánh giá là một trong những bước đột phá ấntượng nhất, đó là chiếc radio bán dẫn nhãn hiệu TR-55 chạy bằng transistor đầu tiêncủa nước Nhật, mở đầu kỷ nguyên bán dẫn phát triển rầm rộ vào thập niên 1960.Chiếc truyền hình transistor đầu tiên
Tháng 5-1960, Sony cho ra đời chiếc máy truyền hình (TV) transistor đầu tiênlấy tên là TV8 -301 Thành quả trên được sự công nhận của cả thế giới, vinh dự khôngchỉ riêng của Sony, mà còn của cả nền công nghiệp điện tử của Nhật Bản Đầu nhữngnăm 1960, Morita và các đồng nghiệp bắt đầu quan tâm đến một sản phẩm khác Đó làmáy sử dụng băng video VTR (Video Tape Recorder) do hãng Ampex của Mỹ chế tạo
và cung cấp cho các đài phát thanh
Vì sử dụng cho mục đích phát thanh nên máy rất cồng kềnh, mỗi máy chiếmdiện tích cả một căn phòng, còn giá thành hơn 100.000 USD/chiếc thì chỉ những cơquan có ngân sách dồi dào mới sắm nổi Mục tiêu mà Ibuka và Morita nhắm đến lànhững chiếc máy VTR gọn nhẹ, giá cả phù hợp với túi tiền của đa số người tiêu dùngtrong nước
Tất cả chuyên viên, kỹ sư của Sony tập trung nỗ lực theo hướng này, thiết kế
và sản xuất thử nhiều mẫu sản phẩm khác nhau, mẫu sau gọn nhẹ, tiện lợi hơn mẫutrước Chiều ngang băng video rộng hơn 5 cm của hãng Ampex đã được thu nhỏ cònkhông đến 2 cm Chiếc máy VTR nguyên mẫu được đặt tên là U - Matic, đã được sựđón nhận khá tích cực của người tiêu dùng, chỉ riêng hãng xe hơi Ford đã đặt mua mộtlần 5.000 chiếc để dùng trong công tác huấn luyện nhân viên Thành công này khuyếnkhích Morita và các chuyên viên tiến xa thêm bước nữa, đó là tiếp tục cải tiến máyVTR, hạ giảm giá thành bằng cách dùng băng video nhỏ hơn nữa, có chiều rộng mặtbăng không đến 1,3 cm và sử dụng 100% linh kiện bán dẫn
Năm 1964, một toán chuyên viên do Nobutoshi Kihara dẫn đầu đã chế tạo đượcchiếc CV-2000, máy thu phát băng video cassette (VCR) sử dụng trong gia đình đầutiên của thế giới Băng từ tính ghi phát hình không còn là hai cuộn băng nằm riêng rẽbên ngoài máy ghi phát hình nữa, mà chúng đã được lắp đặt trong một hộp băng duynhất đặt bên trong máy, gọn gàng và dễ sử dụng Giá bán một chiếc CV-2000 chỉ còn
Trang 6bằng không tới 1% giá một chiếc máy VTR (máy ghi phát hình dùng băng video cócuộn băng bên ngoài máy: open reel) sử dụng trong các hệ thống phát thanh, truyềnhình, và bằng không đến 10% giá một chiếc máy sử dụng trong ngành giáo dục.
Tháng 10-1968, Sony cho ra đời chiếc TV màu nhỏ gọn sử dụng đèn hìnhtrinitron, một công nghệ mới mẻ giúp đèn có hiệu năng cao Chính sáng kiến vềtrinitron này đã được Hàn Lâm viện quốc gia Mỹ về nghệ thuật truyền hình và khoahọc tặng giải thưởng Emmy cho tập đoàn Sony vào năm 1972 Những năm gần đây,
để phát triển sản phẩm hàng điện tử gia dụng, Sony đặc biệt chú trọng đến việc vươnlên vị trí hàng đầu trong lĩnh vực liên quan
Năm 1988, Sony tiếp nhận công ty CBS Records Inc để thành lập nên SonyMusic Entertainment và năm 1989 tiếp tục mua lại Columbia Pictures thành lập nênSony Picture Entertainment Sony PlayStation khai trương vào năm 1995 đưa tập đoànSony trở thành tập đoàn chiếm vị trí hàng đầu trong lĩnh vực trò chơi điện tử Hiệnnay Tập đoàn Sony có 168.000 nhân viên làm việc tại khắp các châu lục trên toàn cầu
Là nhà sản xuất điện tử hàng đầu thế giới, Sony đạt nhiều thành công trong lĩnh vựcđiện tử dân dụng như tivi màu, sản phẩm audio & video, trò chơi điện tử, lĩnh vựcđiện tử chuyên dụng như thiết bị phát thanh truyền hình, y tế, giáo dục, nghiên cứukhoa học Ngày nay, danh mục của Sony có trên 5.000 sản phẩm bao gồm đầu DVD,máy chụp ảnh, máy tính cá nhân, TV, các thiết bị âm thanh nổi, thiết bị bán dẫn vàchúng được thiết lập thành những danh mục có thương hiệu như máy nghe nhạc cánhân Walkman, TV Trinitron, dòng điện thoại di động Xperia, máy vi tính Vaio, TVmàn ảnh rộng Wega, máy ghi hình HandyCam, máy chụp ảnh kỹ thuật số Cybershot
và bộ trò chơi PlayStation Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, Sony là mộttrong những tên tuổi nổi bật của lĩnh vực chế tạo máy tính, viễn thông và dịch vụInternet Sony còn là nhà sản xuất kinh doanh hàng đầu thế giới về âm nhạc và điệnảnh với hoạt động của công ty như Sony Picture Entertainment, Sony MusicEntertainment, Sony BMG, v.v…
2 Tính tất yếu của Quản trị đa quốc gia với Sony
Trong cuộc sống luôn diễn ra những xu thế nhất định như công nghiệp hóa –hiện đại hóa hoặc toàn cầu hóa Chính vì vậy, mà bất kỳ doanh nghiệp nào hoạt độngcũng theo quy luật của cuộc sống Một doanh nghiệp sau một quãng thời gian nhấtđịnh sẽ lớn dần lên, phát triển lên Doanh nghiệp sẽ có nhu cầu mở rộng sản xuất kinh
Trang 7doanh, mở rộng thị trường tiêu thụ Doanh nghiệp phải tìm kiếm một thị trường mới( những thị trường từ khu vực đến các vùng lân cận ra đến thị trường nước ngoài)nhằm tăng thị phần, doanh thu cũng như lợi nhuận.
Khi doanh nghiệp phát triển thành công ty đa quốc gia thì thị trường kinhdoanh mở rộng, kéo theo đó là thị trường vốn mở rộng Doanh nghiệp tham gia vàoquá trình quản trị Doanh nghiệp sẽ phát triển sản xuất, mở rộng thị trường nhân sự,thuê các chuyên gia nước ngoài về tư vấn nguồn nhân lực Như vậy, doanh nghiệp sẽ
có sự tham gia của nhiều người nước ngoài, có nền văn hóa khác nhau
Do vậy, quản trị đa văn hóa là điều tất yếu đối với doanh nghiệp đa quốc gia.Quản trị đa quốc gia là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, rà soát, đánh giá vàđiều chỉnh nếu cần để đạt được mục tiêu của tổ chức trên cơ sở các nguồn lực nhấtđịnh ( con người, công việc, tài chính)
Đối với các công ty trong điều kiện toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ trêntoàn thế giới hiện nay, đặc biệt là công ty đa quốc gia thì việc toàn cầu không còn làmột lựa chọn nữa mà là một tất yếu Mở rộng toàn cầu mang nhiều lợi ích to lớn chocông ty, giúp công ty khai thác và phát triển lợi thế cạnh tranh của mình Những lợiích đó tập trung vào các vấn đề cơ bản như thu khoảng lợi lớn hơn từ sự khác biệt về
kỹ năng, chiến lược kinh doanh hợp lý hoặc cạnh tranh đặc biệt, nhận ra kinh tế vùngbằng sự phân tán tạo giá trị cho những địa phương mà công ty có thể thực hiện hiệuquả nhất, thu thập được những kinh nghiệm để giảm chi phí của việc tạo giá trị Chưabao giờ trong lịch sử thế giới tinh thần phiêu lưu của các doanh nghiệp lại sống động
và vươn xa như hiện nay Thương mại thế giới làm tăng doanh thu và lợi nhuận, đẩymạnh uy tín doanh nghiệp, tạo việc làm và giúp đặt ra mức biến động theo mùa.Nhưng khó khăn là ở chỗ các doanh nghiệp phải đưa ra những chiến lược kinh doanhquốc tế phù hợp với những nhu cầu phong phú và đa dạng của khách hàng trên toàncầu cũng như sự thay đổi liên tục về phong cách sống, thị hiếu của họ,… Chiến lượcquyết định tương lai của doanh nghiệp hoặc là nó sẽ mất đi vị trí trên thị trường vàotay các đối thủ cạnh tranh
Công ty đa quốc gia, thường viết tắt là MNC (Multinational corporation) hoặcMNE (Multinational enterprises), là khái niệm để chỉ các công ty sản xuất hay cungcấp dịch vụ ở ít nhất hai quốc gia; có thể có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc
tế khi chúng có những tác động kinh tế lớn đến một vài khu vực cùng với những
Trang 8nguồn lực tài chính dồi dào, phục vụ cho quan hệ công chúng và vận động hành langchính trị Công ty đa quốc gia hoạt động và có trụ sở ở nhiều nước khác nhau Cáccông ty đa quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa; mộtdạng mới của MNC đang hình thành tương ứng với quá trình toàn cầu hóa – đó là xínghiệp liên hợp toàn cầu.
Công ty đa quốc gia liên quan đến 2 lĩnh vực: quốc gia nơi đặt trụ sở chính vàquốc gia nơi kinh doanh Một đặc trưng của công ty đa quốc gia là những công ty concủa họ phải chịu ảnh hưởng bởi 1 số yếu tố môi trường: đối thủ cạnh tranh, kháchhàng, nhà cung ứng, định chế tài chính và chính phủ; những lực lượng này hoạt độngtrên cả môi trường chính quốc và nước ngoài Đặc trưng khác của công ty đa quốc gia
là có chung nguồn tài trợ, bao gồm: nguồn tài sản, văn bằng bảo hộ, nhãn hiệu hànghóa và nhân lực Đặc trưng thứ ba của công ty đa quốc gia là những công ty con cóchung chiến lược Mỗi công ty đa quốc gia sẽ thể hiện chiến lược của mình để cáccông ty cùng phát triển 1 cách hài hòa Kế hoạch chiến lược cũng dành cho các nhucầu về tài trợ và nhân lực của các công ty con, chuyển vốn là nhân lực được thực hiệntheo nhu cầu
3 Đa văn hóa, Quản trị Đa văn hóa, Tính tất yếu của Quản trị Đa văn hóa
3.1 Đa văn hóa
Văn hóa là một tập hợp các giá trị, chuẩn mực mà các thành viên trong cộngđồng, trong tổ chức và trong xã hội thu nhỏ, tuân thủ một cách tự nguyện Điều nàythường đúng với các nước phát triển Để có những giá trị, những chuẩn mực này.Những giả định phải tuân thủ theo thời gian, những giả định này được gọt giũa, trởthành những chuẩn mực định hướng
Đa văn hóa là sự đa dạng về văn hóa của các thành viên trong một tổ chức, đơn
vị hay mở rộng ra là một cộng đồng nào đó Đối với nhân loại tính đa dạng văn hóacũng giống như tính đa dạng trong giới tự nhiên là một điều kiện không thể thiếu đểduy trì sự cân bằng của sự sống Tính đa dạng là di sản chung của loài người Tính đadạng văn hóa có hai tầng bậc, một là đa dạng trên phạm vi thế giới, đó là đa dạng vềvăn hóa các dân tộc Hai là trong phạm vi một dân tộc văn hóa cũng đa dạng, khôngchỉ đa dạng về sắc tộc, mà đa dạng về các hình thức biểu hiện đa dạng theo các loạichủ thể Văn hóa ngoại biên của các quần thể dân cư là biểu hiện nổi bất của tính đadạng và hình thức biểu hiện trong một nền văn hóa dân tộc
Trang 9Trong môi trường kinh doanh đa văn hóa, các tổ chức có cơ hội tiếp xúc vớinhiều khách hàng, nhiều nhà phân phối và nhà cung cấp ở các nền văn hóa khác nhau.
Họ có thể mở rộng thị trường và quảng bá sản phẩm đến những khách hàng đa dạng
đó và thậm chí cải biến hay đa dạng hóa sản phẩm để phù hợp với những nhu cầukhác nhau của khách hàng thông qua hợp tác, liên minh với các nhà phân phối và nhàcung cấp ở các quốc gia và vùng miền khác nhau trên thế giới
3.2 Quản trị Đa văn hóa
Quản trị đa văn hóa được hiểu là: việc nghiên cứu cách cư xử của con ngườitrong các tổ chức trên khắp thế giới và đào tạo họ làm việc trong các tổ chức với nhânviên và khách hàng Nó miêu tả cũng như so sánh những lối cư xử có tổ chức trongcác quốc gia và các nền văn hóa và có lẽ quan trọng nhất là tìm cách để hiểu và cảithiện mối quan hệ giữa những công nhân, khách hàng, người cung cấp và các đối tác
từ những quốc gia và các nền văn hóa khác nhau Quản trị đa văn hóa do đó chính là
sự mở rộng của quản trị trong nước đến phạm vi quốc tế và đa văn hóa (Adler:
“International Dimensions of Organizational Behavior” (1991)
Như vậy, Quản trị đa văn hóa là quá trình quản trị một tổ chức bình thường kếthợp với khai thác các yếu tố đa văn hóa một cách hiệu quả nhất Đây là quá trình lập
kế hoạch, tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá và điều chỉnh nếu cần thiết để kết hợpmột cách tốt nhất các cá nhân có nền văn hóa khác nhau và còn phát huy tối đa nănglực, phẩm chất của họ, hạn chế các đặc điểm có tính tiêu cực của mỗi một nền vănhóa
3.3 Tính tất yếu của Quản trị Đa văn hóa
Khi các thị trường được toàn cầu hóa, nhu cầu tiêu chuẩn hóa về sắp xếp, tổchức, hệ thống và quy trình cũng tăng lên Song, các nhà quản lý cũng chịu áp lực khilàm cho tổ chức của họ thích nghi với các đặc điểm của thị trường, pháp luật, thể chểtài chính, hệ thống chính trị - xã hội và hệ thống văn hóa Sự cân bằng giữa tính nhấtquán và tính thích nghi là thiết yếu đối với sự thành công của doanh nghiệp
Việc trang bị những tri thức về các nền văn hóa giúp các nhà quản lý hiểu được
sự khác biệt giữa các nền văn hóa và từ đó có những cách thức điều hành phù hợp với
sự đa dạng văn hóa của các nhóm người, các tổ chức và các quốc gia Thay vì coi đadạng văn hóa là những thách thức khó vượt qua và mang lại những bất lợi cho công
Trang 10ty, sự chấp nhận và quản trị đa văn hóa đã được đề cao và được xem như là một công
cụ hữu ích nhằm giải quyết các vấn đề xung đột
Quản trị đa văn hóa không phải là hành động mang tính pháp lý bắt buộc, mặc
dù một số vấn đề trong quản trị đa văn hóa có liên quan gián tiếp đến những vấn đềhay những mối quan tâm mang tính pháp lý Ví dụ như, hành động được điều chỉnhbởi pháp luật như cân bằng sân chơi và tạo cơ hội tham gia vào đội ngũ nhân lực đốivới phụ nữ, người da màu, những người bị giới hạn về mặt thể chất và những ngườikhác mà được gọi là những nhóm người thiểu số Trong khi những hành động pháp lýtập trung vào sắc tộc, giới tính và đạo đức, quản trị đa văn hóa lại tập trung vào tất cảcác yếu tố đa dạng, ngoài phạm vi sắc tộc, giới tính và đạo đức, để bao hàm những đặctính như trình độ học vấn, tôn giáo, định hướng giới tính, địa vị xã hội và nhiều hơnnữa Khái niệm về quản trị đa văn hóa bao hàm nhiều mặt Một điều quan trọng nữa làkhông giống những hoạt động pháp lý, các chính sách quản trị đa văn hóa là nhữngchương trình tự nguyện và được tạo ra bởi các tổ chức chứ không phải bởi luật phápliên bang
4 Thực trạng của đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội hiện nay của các Doanh nghiệp Việt nam và biện pháp để giải quyết các thực trạng đó.
4.1 Thực trạng của đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội hiện nay của các Doanh nghiệp Việt nam
Nhiều doanh nghiệp hiện nay vì lợi nhuận của doanh nghiệp đã bất chấp tất cả,hủy hoại môi trường thiên nhiên, xem thường sức khỏe của người tiêu dùng làm xấu
đi hình ảnh của những nhà kinh doanh, và các doanh nghiệp Việt Nam Cạnh tranh cómặt xấu như thế nhưng bên cạnh đó nó lại thúc đẩy được nền kinh tế phát triển vàđồng thời thúc đẩy sự cải tiến của các doanh nghiệp từ đó mạng lại lợi ích cho ngườitiêu dùng
Hiện nay, ở Việt Nam, khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp còntương đối mới mẻ Vì vậy, việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp chođến nay vẫn còn nhiều hạn chế Do chưa thấy được vai trò quan trọng cũng như lợi ích
từ việc thực hiện trách nhiệm xã hội đem lại nên nhiều doanh nghiệp Việt Nam đãkhông làm tròn trách nhiệm của mình đối với xã hội như xâm phạm quyền và lợi íchhợp pháp của người lao động, người tiêu dùng, gây ô nhiễm môi trường… Tuy nhiên,thời gian gần đây, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đang trở thành một nội dung
Trang 11được quan tâm, các doanh nghiệp ngày càng chú ý nhiều hơn đến việc thực hiện tráchnhiệm xã hội bởi họ nhận thức được rằng, thực hiện trách nhiệm xã hội sẽ mang lạicho các doanh nghiệp những lợi ích và cơ hội lớn Nhiều doanh nghiệp đã chủ độngthực hiện trách nhiệm xã hội và nhờ đó thương hiệu của họ ngày càng được nhiềungười biết đến như: Mai Linh, Kinh Đô, Duy Lợi, điều đó đã và sẽ mang lại cho họ
uy tín và do đó mang lại lợi nhuận kinh tế và cả lợi ích chính trị - xã hội
Thời gian vừa qua, các cuộc đình công xảy ra ở nhiều địa phương trong cảnước, do đó vấn đề quan hệ giữa chủ doanh nghiệp và người lao động cũng được đềcập đến nhiều hơn trên các phương tiện thông tin đại chúng Chính vì vậy mà ngườidân đã có ý thức tương đối rõ ràng về vấn đề này Ngoài những vấn đề vừa trình bàytrên đây, đạo đức kinh doanh còn có rất nhiều khía cạnh khác Song, trong khuôn khổhạn hẹp của bài tập cá nhân, tôi không có điều kiện trình bày tất cả
4.2 Biện pháp để giải quyết các thực trạng đó
4.2.1 X ây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh
Môi trường kinh doanh là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất tới việc xây dựng vănhóa kinh doanh của doanh nghiệp Cũng giống như mỗi cá nhân, nếu sống trong mộttập thể tốt, một môi trường xã hội lành mạnh thì cá nhân đó có nhiều khả năng hìnhthành nhân cách tốt Vì vậy, Nhà nước trước hết phải xây dựng được khuôn khổ hànhlang pháp lý chặt chẽ, công bằng, bảo đảm những doanh nghiệp có hành vi thiếu vănhóa kinh doanh, như gây ô nhiễm môi trường, làm hàng giả, hàng kém chất lượng gâyảnh hưởng đến người tiêu dùng, những doanh nghiệp không tôn trọng lợi ích củangười lao động, trốn thuế,… đều bị xử lý một cách công minh, nghiêm khắc Ngượclại, pháp luật cũng cần có những quy định có tính chất khuyến khích, động viên, ưuđãi những doanh nghiệp làm đúng pháp luật, có nhiều đóng góp cho cộng đồng và xãhội Chỉ có một khuôn khổ pháp lý hoàn chỉnh tạo nên một môi trường kinh doanhlành mạnh mới là “mảnh đất màu mỡ” để nuôi dưỡng và phát triển văn hóa kinhdoanh trong mỗi doanh nghiệp
4.2.2 Xây dựng văn hóa của đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan công quyền
Cùng với việc hoàn thiện pháp luật, cần phải chống tiêu cực trong bộ máyquyền lực, loại bỏ những phần tử thoái hóa, biến chất ra khỏi bộ máy Đảng và Nhànước từ trung ương đến các địa phương, các ngành, các cấp, làm cho bộ máy Đảng,Nhà nước trong sạch, thực sự công minh trong thi hành pháp luật mới có thể có được
Trang 12môi trường kinh doanh công bằng, bình đẳng và thực sự xây dựng được văn hóa kinhdoanh Bởi lẽ, không thể đòi hỏi doanh nghiệp trong sạch nếu bộ máy nhà nước còn
có tham nhũng, cũng như không thể đòi hỏi doanh nghiệp phải có văn hóa trong khiviên chức nhà nước lại ứng xử tư lợi và thiếu văn hóa Nếu trong đội ngũ cán bộ, côngchức có một bộ phận tham nhũng, khi được chi tiền sẵn sàng bao che cho những hànhđộng thiếu văn hóa của doanh nghiệp như làm hàng giả, hàng lậu, trốn thuế, bóc lộtngười lao động, gây ô nhiễm môi trường… thì không thể khuyến khích các doanhnghiệp quan tâm đến việc xây dựng văn hóa kinh doanh Bởi lẽ, khi mà sự thiếu vănhóa kinh doanh lại mang đến cho người ta nhiều lợi ích hơn là có văn hóa thì việc kêugọi họ phải có văn hóa kinh doanh chỉ là những điều không tưởng
Diễn đàn kinh tế thế giới đưa ra chỉ số tổng hợp xếp hạng của các nước, trong
đó chỉ ra các doanh nghiệp phải chi tiền ngoài pháp luật trong xuất nhập khẩu của ViệtNam xếp 100/104, chi tiền ngoài pháp luật trong thu thuế là 97/104, chi tiền ngoàipháp luật trong sử dụng dịch vụ công là 91/104 Với tình trạng tham nhũng vẫn đang
là “quốc nạn” chưa thể đẩy lùi hiện nay, sẽ là hết sức khó khăn để xây dựng được vănhóa kinh doanh ở Việt Nam Vì vậy, vấn đề cấp bách chính là phải đẩy lùi thamnhũng, làm trong sạch bộ máy Có như thế, chúng ta mới có thể tạo điều kiện cho sựphát triển của văn hóa kinh doanh
4.2.3 Tuyên truyền, giáo dục, đào tạo, nâng cao nhận thức về văn hóa kinh doanh
Hiện nay, không chỉ trong xã hội mà bản thân mỗi doanh nghiệp ở Việt Namcũng chưa nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của văn hóa kinh doanh Do vậy, báo chícần làm tốt hơn nữa việc nâng cao nhận thức về văn hóa kinh doanh trong các doanhnghiệp cũng như toàn xã hội Báo chí cần đấu tranh chống những hành vi gian lận,làm ăn phi văn hóa của các doanh nghiệp để người tiêu dùng biết và quay lưng, khiếndoanh nghiệp đó không thể phát triển, đồng thời là một lời cảnh tỉnh để các doanhnghiệp khác phải “giật mình” và có những điều chỉnh hợp lý Đồng thời, báo chí cũngquảng bá và tuyên truyền mạnh mẽ, sâu sắc hơn nữa những doanh nghiệp có văn hóa,làm giàu chính đáng, làm rạng rỡ thương hiệu Việt, cổ vũ cái đúng, cái tốt, cái đẹptrong văn hóa kinh doanh, từ đó nâng cao niềm tin và sự ủng hộ của người tiêu dùngđối với các doanh nghiệp này để họ tiếp tục phát triển Tuy nhiên, báo chí chỉ thực sựkhuyến khích được văn hóa kinh doanh phát triển khi nó là “người phản ánh” côngminh, trung thực, khách quan, chính xác Khi báo chí bị lợi dụng, trở thành “công cụ”
Trang 13để cho các doanh nghiệp đánh bóng thương hiệu hay hạ gục đối thủ thì sẽ không còntác dụng, thậm chí còn tác động tiêu cực đến văn hóa kinh doanh.
4.2.4 Xây dựng văn hóa cho đội ngũ doanh nhân Việt Nam
Muốn doanh nghiệp có văn hóa kinh doanh, trước hết bản thân mỗi doanh nhân
- “người thuyền trưởng đứng đầu con thuyền doanh nghiệp” phải có văn hóa kinhdoanh Doanh nhân chính là người xác định rõ những giá trị và chuẩn mực trong hoạtđộng kinh doanh ngay từ khi thành lập doanh nghiệp và định hướng cho mọi thànhviên cùng nhận thức rõ và tôn trọng, tuân thủ Vì vậy, để xây dựng văn hóa kinhdoanh, bản thân mỗi doanh nhân phải có ý thức trách nhiệm của một công dân trướcđất nước, có tầm nhìn chiến lược, dài hạn, vượt qua sự nhỏ mọn, manh mún, vượt quaviệc kiếm tìm lợi nhuận đơn thuần để mạnh mẽ và dũng cảm trên thương trường trongnước và quốc tế Để làm được điều này, cùng với việc thực hiện tốt các giải pháp trên,công tác giáo dục và đào tạo trong nhà trường có vai trò rất quan trọng Văn hóa kinhdoanh, đạo đức kinh doanh phải trở thành môn học bắt buộc và có thời lượng phù hợptrong các chương trình đào tạo ngành kinh tế Ngoài ra, các ngành, các cấp, các hiệphội khi xây dựng các chương trình bồi dưỡng, tập huấn, tọa đàm, hội nghị,… cần chú
ý lồng ghép nội dung văn hóa kinh doanh
Văn hóa kinh doanh có vai trò quan trọng, làm cho sự phát triển kinh tế hướngtới mục tiêu nhân văn, tiến bộ, vì con người, vì cộng đồng, hoàn toàn phù hợp với mụctiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Khôngchỉ vậy, văn hóa kinh doanh còn góp phần nâng tầm, nâng cao sức cạnh tranh của bảnthân mỗi doanh nghiệp cũng như cả nền kinh tế Xây dựng văn hóa kinh doanh trongnền kinh tế ở nước ta là một yêu cầu cần thiết và cấp bách Những giải pháp đưa ra tuychỉ mang tính định hướng nhưng nếu thực hiện tốt chắc chắn chúng ta sẽ thực hiệnthành công chính sách văn hóa trong kinh tế ở nước ta, khắc phục những khuyết tậtcủa nền kinh tế thị trường
Trang 14KẾT LUẬN
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đang trở thành một xu thếkhách quan và tất yếu của tất cả các nước trên thế giới, không kể các nước đang pháttriển hay phát triển, các nước giàu hay nghèo Trong xu thế đó quốc gia nào có chiếnlược, chính sách, biện pháp và công cụ quản lí hợp lí sẽ mang lại lợi ích, sự phát triển
về kinh tế cho quốc gia đó, ngược lại sẽ mang lại kết quả xấu Và cũng đồng thời sựtoàn cầu hóa và hội nhập sẽ mang lại những cơ hội và thách thức cho doanh nghiệptrong nước, sự cạnh tranh sẽ diễn ra quyết liệt hơn giữa các doanh nghiệp trong nước
và giữa trong nước và các công ty nước ngoài
Việc cạnh tranh sẽ làm cho nền kinh tế quốc gia phát triển đồng thời mang đếnlợi ích tốt nhất cho người tiêu dùng, nhưng bên cạnh đó vần còn tồn tại những mặt xấucủa cạnh tranh làm hại đến nền kinh tế quốc gia, đến môi trường, sức khẻo của ngườitiêu dùng và đặc biệt làm suy thoái đi đạo đức kinh doanh của các doanh nghiệp khichỉ biết nghỉ tới lợi nhuận Hiện nay, thị trường Việt Nam được xếp vào một trongnhững thị trường tiềm năng của thế giới, điều này được thể hiện qua việc các doanhnghiệp, công ty nước ngoài đang đổ xô vào thị trường Việt Nam ngày cang nhiều, vàxem việc chinh phục người tiêu dùng Việt Nam là một chiến lượt kinh doanh có quy
mô hàng đầu của công ty mình
Điều này đồng nghĩa với việc thị trường Việt Nam sẽ trở thành một chiếntrường quyết liệt cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước, các doanh nghiệp sẽ cạnhtranh với nhau để có thể tồn tại trên thị trường Việc cạnh tranh mang lại kết quả haimặt cho nền kinh tế, môi trường và người tiêu dùng
Vì thế không thể loại bỏ cạnh tranh ra khỏi thị trường, và không thể phủ nhậnvai trò quan trọng của nó chỉ vì một số ít những doanh nghiệp làm xấu đi vai trò và ýnghĩa của cạnh tranh Chính vì việc cạnh tranh trong kinh doanh là một việc quantrọng và có ý nghĩa đối với sự phát triển của kinh nền kinh tế cũng như lợi ích củangười tiêu dùng và doanh nghiệp, nên việc cần có đạo đức trong kinh doanh cạnhtranh là một vấn đề nóng bỏng, cấp bách và cần thiết đối với tất cả các doanh nghiệptrên thế giới trong đó có cả các doanh nghiệp nước ta