1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Phân tích mô hình quản trị đa văn hóa tại hãng thiết bị nội thất IKEA

26 545 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 299,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦULợi nhuận là một trong những yếu tố cần thiết cho sự tồn tại của một doanhnghiệp và là cơ sở đánh giá khả năng duy trì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.Tuy nhiên, khi lấy

Trang 1

Phân tích mô hình quản trị đa văn hóa tại hãng thiết bị nội thất IKEA

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

LỜI MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3

1 Tổng quan về công ty IKEA 3

1.1 Lịch sử hình thành công ty 3

1.2 Triết l ý kinh doanh 4

2 Tính tất yếu của Quản trị đa quốc gia với 5

3 Đa văn hóa, Quản trị Đa văn hóa, tính tất yếu của Quản trị Đa văn hóa 6

3.1 Khái niệm văn hóa 6

3.2 Khái niệm đa văn hóa 7

3.3 Khái niệm quản trị đa văn hóa 7

3.4 Tính tất yếu của Quản trị Đa văn hóa 8

4 Thực trạng của đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội hiện nay của các Doanh nghiệp Việt nam Biện pháp để giải quyết các thực trạng đó 8

4.1 Thực trạng của đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội hiện nay của các Doanh nghiệp Việt nam 9

4.1.1 Thứ nhất, nhận thức của người dân về đạo đức kinh doanh còn nhiều hạn chế 9

4.1.2 Đa số doanh nghiệp trốn tránh không thực hiện trách nhiệm xã hội của mình 9

4.1.3 Các hình thức Marketing phi đạo đức ngày càng nhiều 9

4.2 Biện pháp để giải quyết các thực trạng đó 10

KẾT LUẬN 12

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

TABLE OF CONTENT TABLE OF CONTENT 2

INTRODUCTION 3

RESEARCH OF CONTENT 4

1 Overview of the IKEA company 4

Trang 3

1.1 Establishment History of Company 4

1.2 Philosophies of business 5

2 The inevitability of Intercultural Management 6

3 Intercultural, Intercultural Management, the inevitability of Intercultural Management 7

3.1 The concept of culture 7

3.2 The concept of Intercultural 8

3.3 The concept of Intercultural Management 8

3.4 The inevitability of Intercultural Management 8

4 Be present reality of business ethics and social responsibility of the enterprise in Vietnam, now The authorities need to do to resolve this situation 9

4.1 Be present reality of business ethics and social responsibility of the enterprise in Vietnam, now 9

4.1.1 First, the perception of people about business ethics is limited 9

4.1.2 The majority of businesses do not perform shirk its social responsibility 9

4.1.3 Forms Marketing Unethical more 10

4.2 Measures to resolve this reality 10

CONCLUSION 13

LIST OF REFERENCES 14

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Lợi nhuận là một trong những yếu tố cần thiết cho sự tồn tại của một doanhnghiệp và là cơ sở đánh giá khả năng duy trì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.Tuy nhiên, khi lấy lợi nhuận là tiêu chí hàng đầu mà quên đi quyền lợi người tiêudùng, bản thân chính doanh nghiệp sẽ gánh chịu những hậu quả Một trong những hậuquả nặng nề nhất đó là sự tẩy chay và đánh mất lòng tin của người tiêu dùng Thiệt hại

từ hành động “tẩy chay” này khiến doanh nghiệp thiệt hại gấp nhiều lần so với chi phíkhắc phục trách nhiệm về mặt luật pháp

Giữa kinh doanh và đạo đức luôn có sự mâu thuẫn Một mặt, xã hội luôn mongmuốn các doanh nghiệp tạo ra nhiều việc làm lương cao, nhưng mặt khác, nhữngdoanh nghiệp này lại mong muốn giảm bớt chi phí và nâng cao năng suất lao động.Người tiêu dùng luôn muốn mua hàng hóa với giá thấp nhất, còn các cơ sở thương mạilại muốn giảm tối đa chi phí phát sinh khi tuân thủ các qui định trong hoạt động sảnxuất của họ

Chính từ đó nảy sinh xung đột không thể tránh khỏi trong quan niệm về đạođức kinh doanh, do khác biệt về lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của người laođộng, người tiêu dùng và toàn xã hội Ngày nay, rất nhiều doanh nghiệp vì lợi nhuận

mà đã có những hành vi phi đạo đức trong kinh doanh Chính những điều đó đã gây ranhiều thiệt hại cho người tiêu dùng

Trang 5

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1 Tổng quan về công ty IKEA

IKEA là tập đoàn chuyên kinh doanh đồ gỗ của nhà tỉ phú Thụy Điển IngvarKamprad Trải qua trên 50 năm thành lập, IKEA ngày nay trở thành một tập đoàn đaquốc gia khổng lồ với các trung tâm thương mại đồ gỗ đặt tại 31 nước khác nhau và76.000 nhân viên Doanh số hàng năm của IKEA đạt trên 12 tỉ euro Cách mà IKEA

đã trở thành một thương hiệu hàng đầu về bán lẻ đồ gỗ là một câu chuyện thần kỳ.Với hàng trăm cửa hàng trải khắp Châu Âu, Châu Á, Úc và Mỹ đang làm ăn rất phátđạt phục vụ hơn 410 triệu khách hàng, IKEA thực sự là gã khổng lồ đáng nể nhấttrong ngành bán lẻ

1.1 Lịch sử hình thành công ty

Người sáng lập IKEA là Ingvar Kampard Ông sinh năm 1926 ở miền NamThụy Điển và lớn lên ở một trang trại có tên là Elmtaryd cạnh ngôi làng nhỏ ởAgunnaryd Máu kinh doanh bẩm sinh thể hiện rất rõ ở Kampard từ khi ông còn rấtnhỏ Lúc chưa được 10 tuổi, Kampard đã phát hiện rằng có thể mua đồng hồ với sốlượng lớn ở Stockholm và bán lại ở thị trấn của mình với giá cao hơn để kiếm mộtkhoản tiền lời nhỏ Sau đó, Kampard dùng số tiền này để đầu tư mở rộng ra nhiều mặthàng, từ cá cho đến những trái châu để trang trí cây thông vào dịp lễ Giáng sinh

Năm 1943, khi Kamprad 17 tuổi, ông được cha thưởng cho một món tiền vìthành tích tốt trong học tập Kampard đã dùng số tiền này để thành lập một công tynhỏ và đặt tên là IKEA Hai chữ đầu là viết tắt của tên Ingvar Kampard, còn hai chữsau là viết tắt của nông trại và ngôi làng mà Kampard đã sinh ra và lớn lên Lúc đầu,IKEA vẫn tiếp tục tập trung vào những mặt hàng nhỏ, chủ yếu là tham gia đấu thầucác hợp đồng cung cấp viết chì Không lâu sau đó, IKEA kinh doanh thêm các mặthàng ví da, đồng hồ, đồ trang sức và vở Năm năm sau khi thành lập công ty,Kampard đã quyết định đưa vào họat động dịch vụ nhận đơn đặt hàng bằng thư vàgiao hàng theo các xe tải giao sữa, chạy nhiều chuyến mỗi ngày trong vùng

Năm 1947, lần đầu tiên Kamprad đưa đồ gỗ và nhóm sản phẩm chính của hệthống cửa hàng của IKEA Việc khai thác nguồn hàng từ các nhà sản xuất địa phươngcho phép ông giữ được mức giá bán thấp so với các đối thủ cạnh tranh trong lĩnh vựcnày IKEA đã đạt được thành công rực rỡ ở mặt hàng đồ nội thất và chính thành công

Trang 6

này đã tạo ra một cuộc cách mạng không chỉ đối với IKEA mà còn với cả ngành kinhdoanh đồ nội thất nói chung.

Năm 1951, Kamprad quyết định không theo đuổi những mặt hàng khác m à chỉdồn hết sự t ập trung vào đồ gỗ Năm 1953, IKEA mở phòng trưng bày đồ gỗ đầu tiên

ở Almhult dưới áp lực rất lớn của đối thủ cạnh tranh Lúc này, công ty đang ở trongcuộc chiến về giá với đối thủ chính, vì thế, phòng trưng bày này giúp cho người tiêudùng tiếp xúc gần hơn với sản phẩm đồ gỗ của công ty, bởi họ nhìn thấy được, chạmvào được, cảm thấy và tin tưởng được vào chất lượng trước khi quyết định mua hàng.Lần đầu tiên trong ngành kinh doanh đồ nội thất ở Thụy Điển, khách hàng có thể xemtận mắt sản phẩm trước khi mua hàng Điều này đã tạo ra một ưu thế rất lớn cho IKEAtrong cạnh tranh Năm 1963, cửa hàng đầu tiên bên ngoài Thụy Điển được khai trươngtại Asker, một đô thị bên ngoài Oslo của Na Uy

Đến năm 1969, IKEA mở rộng sang Đan Mạch Sang những năm 1970, IKEAtiếp tục xâm nhập những thị trường khác của Châu Âu, với các cửa hàng đầu tiên bênngoài vùng Scandinavia khai mạc tại Thụy Sĩ (1973), tiếp theo là Đức (1974), Pháp,Nga, Canada, đến Úc, Hồng Kông Do số người đến tham quan các cử a hàng vào dịpkhai trư ơng ngày càng đông, Kampard đã quyết định thay đổi cách trưng bày sảnphẩm trong cửa hàng cho phép khách hàng có thể thoải mái xem hàng Hiện nay,IKEA là nhà bán lẻ đồ nội thất gia đình hàng đầu thế giới với hơn 90 ngàn công nhânlàm việc ở hơn 200 nhà máy trên toàn cầu, đạt doanh thu hàng năm trên 10 tỉ USD

1.2 Triết lý kinh doanh

a) Quan điểm hướng đến khách hàng:

- Triết lý của công ty chính là “Hãy làm cuộc sống tốt đẹp hơn từng ngày chotất cả mọi người” (to create a better everyday life for the many people) Đây cũng làtầm nhìn của IKEA cho đến tận hôm nay Kamprad cho rằng ở tất cả các quốc gia và

hệ thống xã hội một lực lượng lớn nguồn lực chỉ phục vụ một nhóm nhỏ người; cũngnhư trong kinh doanh có quá nhiều sản mới và thiết kế đẹp nhưng lại chẳng đến đượctay của phần lớn mọi người Sứ mạng của IKEA là phải thay đổi tình hình này

- Người sáng lập công ty - ông Kamprad thường nhắc nhở nhân viên của mìnhrằng mặt hàng tốt nhất ở IKEA chính là việc cả người mua lẫn người bán đều khôngthiệt thòi, mà cả hai đều nhận được điều gì đó

Trang 7

- Tiết kiệm cho khách hàng: Với phương châm tiết kiệm cho khách hàng, vìkhách hàng, mô hình IKEA đã được thiết kế để cho khách hàng có thể tự lự a chọn, tựvận chuyển và lắp ráp đồ gỗ của mình tại nhà Để làm được việc đó, IKEA mất rấtnhiều công thiết kế lắp ráp các bộ phận đồ gỗ một cách dễ dàng, t huận tiện nhất chomọi khách hàng bình thường.

b) Triết lý về giá:

- Nguyên tắc cơ bản là “cung cấp những sản phẩm hoàn thiện về mặt thiết kế

và tính năng ở mức giá thấp đến mức phần lớn người ta có thể mua được” Theo đuổitriết lý này IKEA đã thực sự tạo ra lãnh địa bất khả xâm phạm cho mình

- Ngoài ra công ty còn luôn tuân theo một quy tắc: giảm lượng hàng bán ra 1%

sẽ kéo theo giảm doanh thu 10% Vì thế, tổng lượng hàng hóa bao giờ cũng đóng vaitrò quan trọng đối với IKEA Vì thế, công ty luôn kiểm soát chặt chẽ được chi phí ởtất cả các phân đoạn trong hoạt động kinh doanh

2 Tính tất yếu của Quản trị đa quốc gia.

Cùng với đà mở rộng và phát triển mạnh mẽ của các công ty đa quốc gia(Multinational Company – MNC) trên thế giới kể từ nửa sau của Thế kỷ XX đến nay,quản trị công ty đa quốc gia nói chung, quản trị tài chính công ty đa quốc gia nói riêng

đã được nhiều quốc gia ngày càng quan tâm và chúng đã được nhiều quốc gia ngàycàng quan tâm

Ở Việt Nam, kể từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, thực hiện mở cửa

và hội nhập vào nền kinh tế thế giới, chúng ta đang làm quen dần với mô hình công ty

đa quốc gia, một khái niệm mà trong cơ chế cũ trước đó hầu như chưa hề có Mặc dùhiện nay chưa có một MNC nào xuất thân hay công ty mẹ là của Việt Nam, song với

đà phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, thì việc rađời MNC có gốc là Việt Nam chỉ còn là vấn đề thời gian Hơn nữa, hiện tại trên lãnhthổ Việt Nam đang có hàng ngàn doanh nghiệp được hình thành từ hoạt động đầu tưtrực tiếp nước ngoài của các MNC thuộc rất nhiều lĩnh vực, ngành nghề kinh doanhkhác nhau và chúng chính là các công ty chi nhánh, một bộ phận của các MNC Nóicách khác, MNC đã có mặt tại Việt Nam, đã và đang trở thành một bộ phận quantrọng của nền kinh tế Việt Nam và chắc chắn sẽ gia tăng mạnh mẽ trong thời gian tới

Một trong những đặc điểm của MNC chính là các chi nhánh của nó phải chịutác động của các áp lực môi trường quan trọng như các đối thủ cạnh tranh, khách

Trang 8

hàng, nhà cung ứng, các tổ chức tài chính, và nhà nước kể cả trong và ngoài nước.Trong một số trường hợp, các áp lực tương tự nhau cùng hiện hữu tại nước nhà vànước khách Ví dụ, rất nhiều đối thủ cạnh tranh của công ty GMC tại thị trường Hoa

Kỳ thì cũng tương tự như tại thị trường Châu Âu: Ford, Chrysler, Honda,Volkswagen, và Volvo Các chi nhánh của chúng cùng sử dụng một nguồn lực chung,các nguồn lực nầy bao gồm các tài sản hữu hình, sáng chế, nhãn hiệu, thông tin, vànhân lực Do các chi nhánh là một bộ phận của MNC cho nên nó được quyền sử dụngnhững tài sản mà các đơn vị bên ngoài không được quyền sử dụng Ví dụ, cả Ford vàGMC cạnh tranh với nhau rất quyết liệt tại thị trường EC và rất nhiều kiểu dáng đượcthiết kế và phát triển tại thị trường EC cũng đã được sử dụng tại thị trường Hoa Kỳ.Mặt khác dòng thông tin hai chiều giữa thị trường EC và Hoa Kỳ do các chi nhánhthực hiện đã góp phần phát triển một thị trường thế giới hoàn chỉnh Tương tự nhưvậy, nếu một chi nhánh tại Nhật Bản cần mở rộng ngân quỹ, MNC sẽ xem xét khảnăng vay nguồn ngân quỹ nầy tại thị trường địa phương có thấp hay không, nếu khôngthì MNC sẽ sử dụng nguồn lực từ công ty để cho chi nhánh nầy sử dụng

Trong cuộc sống luôn diễn ra những xu thế nhất định như công nghiệp hóa –hiện đại hóa hoặc toàn cầu hóa Chính vì vậy, mà bất kỳ doanh nghiệp nào hoạt độngcũng theo quy luật của cuộc sống Một doanh nghiệp sau một quãng thời gian nhấtđịnh sẽ lớn dần lên, phát triển lên Doanh nghiệp sẽ có nhu cầu mở rộng sản xuất kinhdoanh, mở rộng thị trường tiêu thụ Doanh nghiệp phải tìm kiếm một thị trường mới( những thị trường từ khu vực đến các vùng lân cận ra đến thị trường nước ngoài)nhằm tăng thị phần, doanh thu cũng như lợi nhuận Khi doanh nghiệp phát triển thànhcông ty đa quốc gia thì thị trường kinh doanh mở rộng, kéo theo đó là thị trường vốn

mở rộng Doanh nghiệp tham gia vào quá trình quản trị Doanh nghiệp sẽ phát triểnsản xuất, mở rộng thị trường nhân sự, thuê các chuyên gia nước ngoài về tư vấn nguồnnhân lực Như vậy, doanh nghiệp sẽ có sự tham gia của nhiều người nước ngoài, cónền văn hóa khác nhau Do vậy, quản trị đa văn hóa là điều tất yếu đối với doanhnghiệp đa quốc gia Quản trị đa quốc gia là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện,

rà soát, đánh giá và điều chỉnh nếu cần để đạt được mục tiêu của tổ chức trên cơ sởcác nguồn lực nhất định ( con người, công việc, tài chính)

3 Đa văn hóa, Quản trị Đa văn hóa, tính tất yếu của Quản trị Đa văn hóa

3.1 Khái niệm văn hóa

Trang 9

Từ trước đến nay người ta đã viện dẫn rất nhiều lý do để giải thích về sự khácbiệt giữa các nền văn hoá, đó là sự khác nhau về chủng tộc, sự cách xa về không gianđịa lý, sự không đồng nhất về khí hậu, đất đai, sự chế định của những điều kiện kinh

tế - xã hội, và bao trùm lên hết thảy là do năng lực sáng tạo của con người Vấn đềtính đa dạng không chỉ đặt ra đối với những nền văn hoá được xem xét trong nhữngquan hệ qua lại của chúng; vấn đề này cũng đặt ra bên trong mỗi xã hội, trong tất cảcác nhóm tạo thành xã hội đó: các đẳng cấp, các giai cấp, các giới nghề nghiệp hay tínngưỡng,v.v Với sự phát triển của những sự khác nhau mà mỗi nhóm đó coi là hếtsức quan trọng Một trong những điểm nổi bật của xu hướng toàn cầu hóa và kinhdoanh quốc tế đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ chính là mối tương tác ngày càng lớngiữa những con người và xã hội khác nhau trên khắp thế giới Một mặt, toàn cầu hóa

và kinh doanh quốc tế làm xuất hiện những đơn vị văn hóa chung đối với mọi nước,mọi người dân (như mốt, thể thao, du lịch, văn hoá đại chúng)

Văn hóa là một tập hợp các giá trị, chuẩn mực mà các thành viên trong cộngđồng, trong tổ chức và trong xã hội thu nhỏ, tuân thủ một cách tự nguyện Điều nàythường đúng với các nước phát triển Để có những giá trị, những chuẩn mực này.Những giả định phải tuân thủ theo thời gian, những giả định này được gọt giũa, trởthành những chuẩn mực định hướng

3.2 Khái niệm đa văn hóa

Đa văn hóa là sự đa dạng về văn hóa của các thành viên trong một tổ chức, đơn

vị hay mở rộng ra là một cộng đồng nào đó Đối với nhân loại tính đa dạng văn hóacũng giống như tính đa dạng trong giới tự nhiên là một điều kiện không thể thiếu đểduy trì sự cân bằng của sự sống Tính đa dạng là di sản chung của loài người Tính đadạng văn hóa có hai tầng bậc, một là đa dạng trên phạm vi thế giới, đó là đa dạng vềvăn hóa các dân tộc Hai là trong phạm vi một dân tộc văn hóa cũng đa dạng, khôngchỉ đa dạng về sắc tộc, mà đa dạng về các hình thức biểu hiện đa dạng theo các loạichủ thể Văn hóa ngoại biên của các quần thể dân cư là biểu hiện nổi bất của tính đadạng và hình thức biểu hiện trong một nền văn hóa dân tộc

3.3 Khái niệm quản trị đa văn hóa

Quản trị đa văn hóa là quá trình quản trị một tổ chức bình thường kết hợp vớikhai thác các yếu tố đa văn hóa một cách hiệu quả nhất Đây là quá trình lập kế hoạch,

tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá và điều chỉnh nếu cần thiết để kết hợp một cách

Trang 10

tốt nhất các cá nhân có nền văn hóa khác nhau và còn phát huy tối đa năng lực, phẩmchất của họ, hạn chế các đặc điểm có tính tiêu cực của mỗi một nền văn hóa.

3.4 Tính tất yếu của Quản trị Đa văn hóa

Tuy nhiên, toàn cầu hóa và kinh doanh quốc tế đông thời cũng kéo theo nó sựphân hoá về văn hoá một cách sâu sắc nhất Người ta nói rằng biểu thị sinh động cho

sự phân hoá này là sự ra đời của hàng loạt các khái niệm: nền văn minh, văn hoá khuvực, văn hoá dân tộc, văn hoá vùng Sự cọ sát giữa các nền văn hoá sẽ làm cho vănhoá các dân tộc trên thế giới phát triển Điều này có nghĩa là chỉ có những thuộc tínhvăn hoá chung của nhân loại, chứ không có cái gọi là nền văn hoá nhân loại tồn tạimột cách độc lập, bên cạnh văn hoá dân tộc và văn hoá nhóm Như vậy, đa văn hóahay (đa dạng văn hóa) chính là sự kết hợp của nhiều xã hội hay nhiều nền văn hóakhác nhau trong một khu vực cụ thể hay trong một thế giới

Đa văn hóa bao gồm tất cả những đặc tính và kinh nghiệm xác định mỗi chúng

ta như những cá nhân, nó bao gồm toàn bộ các chiều chính yếu về một cá nhân baogồm: sắc tộc, đạo đức, giới tính, tuổi tác, tôn giáo, thể trạng và định hướng về giới.Còn chiều thứ yếu về cá nhân đó là cách giao tiếp, cách làm việc, vai trò trong tổchức, địa vị kinh tế và vị trí địa lí (ví dụ như đông, tây, nam) Kinh nghiệm và nghiêncứu gần đây cho thấy khi được nhận thức và xác định giá trị, đa dạng văn hóa làmtăng năng suất cá nhân, hiệu quả tổ chức và duy trì cạnh tranh

Trong những công ty mà các nhân viên luôn có thói quen làm theo các yêu cầu

và mong muốn của cấp trên thì ở đó người ta nói rằng công ty đó có giá trị văn hóa

“khoảng cách quyền lực cao” Sự ngoan ngoãn nghe lời cấp trên trong những công tynày không chỉ tồn tại ở những nhân viên cấp thấp mà nó còn tồn tại trong thói quenlàm việc của các nhân viên cấp cao Các công ty có văn hóa “khoảng cách quyền lựccao” luôn cho rằng: Điều quan trọng nhất đối với nhân viên không phải là tôi đã làm

gì cho công ty, đã đóng góp gì cho công ty mà là họ đã đạt được cái gì bằng việc trảlời “vâng” Đối với tất cả những gì mà cấp trên của họ yêu cầu Việc làm ngược lạinhững gì cấp trên nói và mong muốn sẽ đồng nghĩa với việc đi tìm một công việc mớicho bản thân mình ở một doanh nghiệp khác

4 Thực trạng của đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội hiện nay của các Doanh nghiệp Việt nam Biện pháp để giải quyết các thực trạng đó.

Trang 11

4.1 Thực trạng của đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội hiện nay của các Doanh nghiệp Việt nam

4.1.1 Thứ nhất, nhận thức của người dân về đạo đức kinh doanh còn nhiều hạn chế

Số lượng công trình nghiên cứu về đạo đức kinh doanh còn chưa nhiều, sáchbáo tài liệu về đạo đức kinh doanh còn hạn chế Mặc dù văn hóa doanh nghiệp và đạođức kinh doanh đã được đưa vào giảng dạy ở một số trường đại học nhưng mới chỉdừng lại là môn học tự chọn Trong một cuộc điều tra có 40/60 người được hỏi thườngxuyên nghe đến các vấn đề về đạo đức kinh doanh, 20 người còn lại thỉnh thoảng nghenói 55/60 người cho rằng đạo đức kinh doanh là tuân thủ pháp luật, chỉ có 5 ngườicho rằng đạo đức kinh doanh là bảo vệ quyền lợi của khách hàng và không ai cho rằngđạo đức kinh doanh bao gồm cả hai điều trên Điều đáng nói là cuộc điều tra này đượctiến hành ở thủ đô Hà Nội vì vậy kết quả này được đánh giá là thấp, cho thấy rõ hiểubiết hạn hẹp, mơ hồ của người dân về đạo đức kinh doanh

4.1.2 Đ a số doanh nghiệp trốn tránh không thực hiện trách nhiệm xã hội của mình

Phải thừa nhận rằng, ở Việt Nam, rất nhiều doanh nghiệp đã không thực hiệnmột cách nghiêm túc trách nhiệm xã hội của mình Điều đó thể hiện ở các hành vi gianlận trong kinh doanh, báo cáo tài chính, không bảo đảm an toàn lao động, sản xuất,kinh doanh hàng kém chất lượng, cố ý gây ô nhiễm môi trường Điển hình là các vụ

xả nước thải không qua xử lý gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cho các dòngsông và cộng đồng dân cư của các Công ty Miwon, Công ty thuộc da Hào Dương,Công ty Giấy Việt Trì, công ty Hyundai Vinashin (Khánh Hòa), các vụ sản xuất thựcphẩm chứa chất có hại cho sức khỏe con người, như nước tương có chứa chất 3-MCPD gây ung thư, bánh phở chứa phormol, thực phẩm chứa hàn the, sữa có chứamelamine Đây không còn là những hiện tượng hiếm thấy mà thậm chí ngày càngnghiêm trọng hơn (vụ Nicotex Thanh Thái) gây bức xúc cho người dân

4.1.3 C ác hình thức Marketing phi đạo đức ngày càng nhiều

Hai hình thức phổ biến nhất của Marketing luôn thường xuyên bị doanh nghiệp

sử dụng một cách phi đạo đức là bán hàng phi đạo đức và quảng cáo phi đạo đức

Các sản phầm được ghi là “ giảm giá” tức là thấp hơn so với mức dự kiến trongkhi chưa bao giờ bán được với mức giá đó hoặc là ghi là “sản phẩm giới thiệu” chosản phẩm bán đại trà hay giả vờ thanh lí Sản phẩm được ghi là loại “mới”, “đã cảitiến”, “tiết kiệm” nhưng thực tế không hề có những tính chất này, hoặc miêu tả có

Trang 12

cường điệu về công dụng của sản phẩm, hình dáng, bao bì sản phẩm thì cực kì hấpdẫn Hoặc lôi kéo dụ dỗ khách hàng mua những sản phẩm mà họ không muốn mua,núp dưới chiêu bài từ thiện như : mua một sản phẩm là bạn đã góp 100 đồng vào quỹ

hỗ trợ người nghèo tất cả chiêu bán hàng đó làm cho người tiêu dùng hiểu lầm rấtlớn về sản phẩm và di đến quyết định sai lầm là mua hàng hóa, dịch vụ mà giá trị của

nó không tương xứng với số tiền bỏ ra

Hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam thường xuyên sử dụng các chiêu quảngcáo phi đạo đức như: Quảng cáo phóng đại, thổi phồng về sản phẩm; quảng cáo vớihình thức khó coi, phi thị hiếu:quảng cáo nhằm vào những đối tượng nhạy cảm;Quảng cáo bán hàng trực tiếp nhưng lại che dấu sự thật trong một thông điệp; Đưa ranhững lời giới thiệu mơ hồ về sản phẩm

4.2 Biện pháp để giải quyết các thực trạng đó.

Nước ta đang trong thời kỳ xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa đang diễn ra nhanh chóng vìvậy mỗi thành phần kinh tế cần tự hoàn thiện để bắt kịp xu thế với nền kinh tế chung,cần xây dựng nền kinh tế thị trường phát triển mạnh đi đôi với phát triển bền vững Đểđạt được những mục tiêu trên, các cơ quan chức năng cần:

Thứ nhất, hoàn thiện một hệ thống luật dân sự bảo đảm điều chỉnh một cáchkín kẽ và đồng bộ các quan hệ hàng hóa - tiền tệ trong nền kinh tế

Thứ hai, đổi mới hoạt động kế hoạch của Nhà nước Kế hoạch hóa phát triểnkinh tế - xã hội là cần thiết, nhưng phải thay đổi phương pháp, công nghệ kế hoạchhóa Mô hình kế hoạch hóa nhà nước sẽ là dạng tổ hợp các chương trình có mục tiêuliên quan chặt chẽ với nhau, những chương trình đó được triển khai theo hình thức đấuthầu

Thứ ba, xây dựng và duy trì hệ thống tài chính - tín dụng ổn định và điều tiếtlưu thông tiền tệ Phát huy đầy đủ vai trò các đòn bẩy kinh tế như giá cả, thuế, tíndụng, tiền lương, khối lượng tiền mặt phát hành, giá cả và tỷ giá hối đoái, dự trữ vàvàng, ngoại tệ Đồng thời, coi trọng công cụ pháp luật, tăng cường kiềm chế, kiểmsoát của Nhà nước Chỉ khi Nhà nước kiểm soát được tài chính và tiền tệ thì Nhà nướcmới có thể kiểm soát, điều tiết được thị trường

Thứ tư, chính sách xã hội Chức năng, vai trò và bản chất của Nhà nước ta làNhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Cần phải xây dựng những

Trang 13

chương trình của Nhà nước về phát triển giáo dục, y tế, bảo vệ xã hội đối với ngườilao động Thực hiện tốt chính sách xã hội, phát huy nhân tố con người, hạn chế sự bóclột, sự phân cực giàu nghèo, phát triển các sự nghiệp phúc lợi công cộng, bảo đảmcông bằng xã hội.

Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường Một quốc gia văn minh phải được tổchức, quản lý thống nhất, phân ngành chuyên sâu nhằm phục vụ tốt nhất lợi ích xãhội Chủ trương “xây dựng cơ chế thị trường có điều tiết” đòi hỏi mọi ngành, mọi cơquan các cấp từ trung ương xuống cơ sở cùng tham gia điều tiết theo chức năng củamình

Muốn một nền kinh tế phát triển theo hướng bền vững cần những nguyên tắckinh doanh đúng đắn, phù hợp với bối cảnh xã hội, với nền kinh tế chung, đạo đứckinh doanh ở đây được nhắc đến là một vấn đề lớn mà Đảng và Nhà nước đang rấtquan tâm Ngày nay, nền kinh tế thị trường đã có những bước tiến lớn và ngày càng cóquan hệ chặt chẽ với đời sống con người Thị trường trở thành khâu then chốt tronghoạt động kinh tế của cả loài người, gắn liền quá trình từ sản xuất đến tiêu dùng Đốivới Việt Nam, việc chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tếhàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhànước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng tronglĩnh vực kinh tế Tuy nhiên, trên thực tế, nền kinh tế thị trường chỉ mới thành công ởcác nước tư bản chủ nghĩa, còn dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triểnkinh tế thị trường như thế nào thì chưa có một hình mẫu hoàn chỉnh để chúng ta họchỏi và tham khảo Có thể coi đây như một bài toán khó, đòi hỏi toàn Đảng và toàn dântộc Việt Nam phải tự đi tìm lời giải cho chính mình Ngoài ra, như đã phân tích ở trên,nền kinh tế thị trường bản thân nó luôn có tính hai mặt, một mặt là những ảnh hưởngtích cực, kích thích và tạo động lực cho sự phát triển, nhưng mặt khác, nó là môitrường thuận lợi nuôi dưỡng những tệ nạn, những thói hư, tật xấu, làm đảo lộn các giátrị, đặc biệt là các giá trị đạo đức

Ngày đăng: 16/10/2017, 15:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Phân tích mô hình quản trị đa văn hóa tại hãng thiết bị nội thất IKEA - Phân tích mô hình quản trị đa văn hóa tại hãng thiết bị nội thất IKEA
h ân tích mô hình quản trị đa văn hóa tại hãng thiết bị nội thất IKEA (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w