Với bộ môn Ngữ Văn ở cấpTHPT sự đổi mới ấy thể hiện rõ trong một số phương pháp như: phương phápnhập vai, đọc sáng tạo, đàm thoại, vận dụng công nghệ thông tin...Song mỗiphương pháp vẫn
Trang 1SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT DÂN TỘC NỘI TRÚ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG HIỆU QUẢ SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG
Trang 3MỤC LỤC
Trang
I Mở đầu 0
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.5 Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm 2
II Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm 2
2.1 Cơ sở lí luận 2
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3
2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết 3
2.3.1 Cách tạo - các bước vẽ sơ đồ tư duy: 3
2.3.2 Vận dụng tư duy trong dạy văn và học văn 5
2.3.2.1 Trong tiết đọc hiểu văn bản 5
2.3.2.2 Trong tiết học làm văn nghị luận xã hội 15
2.4 Hiệu quả của đề tài 21
III Kết luận - Kiến nghị 22
3.1 Kết luận 22
3.2 Kiến nghị 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 4I Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
- Ngành giáo dục những năm gần đây đã chú ý tới đổi mới phương phápdạy học trong các cấp học, bộ môn học Các nhà nghiên cứu giáo dục, các nhàgiáo ưu tú từng nghĩ tới nhiều phương pháp để dạy học hiệu quả, nhằm phát huytính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Với bộ môn Ngữ Văn ở cấpTHPT sự đổi mới ấy thể hiện rõ trong một số phương pháp như: phương phápnhập vai, đọc sáng tạo, đàm thoại, vận dụng công nghệ thông tin Song mỗiphương pháp vẫn còn mang những hạn chế nhất định, chưa thay đổi được tư duysáng tạo, chưa phát huy hết tính tích cực, tự giác, chủ động của người học
- So với bộ môn học khác, Ngữ Văn là môn học mang đặc thù thù riêng,môn học của nghệ thuật ngôn từ, ngôn từ mang tính chất “phi vật thể”, đa nghĩa,tính hình tượng cao Trong khi đó mỗi trang văn, mỗi tác phẩm văn học đềutruyền tải tư tưởng, tình cảm, ước mơ, khát vọng, lí tưởng, nhân sinh quan
….của tác giả Mặt khác trong giờ giảng, người giáo viên dạy Văn vừa phải đảmbảo hệ thống kiến thức đồ sộ của bài học, song cũng cần cho học sinh cảm thụđược thứ ngôn ngữ văn chương giàu có, phong phú, sáng tạo, sang trọng, đẹp đẽ,đầy hình tượng thẩm mĩ Trong khi đó những bộ môn khác có thể dùng những kíhiệu, đường nét, màu sắc, âm thanh hỗ trợ thêm cho việc dạy học, làm rõnhững đơn vị kiến thức như: hội họa dùng màu sắc, đường nét, âm nhạc diễn tảbằng âm thanh, tiết tấu, điêu khắc dùng chất liệu (kim loại, đá, gỗ…) tạo nênhình khối, đường nét v.v… Còn giáo viên dạy Văn chỉ có ngôn từ để giúp họcsinh cảm thụ bộ môn của mình nên mỗi giờ học dễ sa vào thuyết giảng, dàidòng, lan man…Vì điểm này môn Văn dần trở nên ngại học, nhàm chán, thụđộng với học sinh ở độ tuổi trưởng thành THPT
- Phương pháp “Vận dụng hiệu quả sơ đồ tư duy trong dạy học Ngữ VănTHPT” sẽ khắc phục được những hạn chế của lối giảng Văn truyền thống, hơnnữa sẽ giản hóa được đơn vị kiến thức lớn ở mỗi bài học Mặt khác tính ưu việtcủa phương pháp này chính là giúp học sinh hiểu rõ được cấu trúc bài học mộtcách mạch lạc, khoa học nhất, thấy được trọng tâm kiến thức cần tiếp nhận,tránh học vẹt, học máy móc Đây cũng là phương pháp thúc đẩy học sinh pháthuy được sự nhạy cảm phong phú trong liên tưởng, suy luận, cảm xúc với tất cảmọi giác quan và tâm hồn, sự chủ động, tích cực, đặc biệt tất cả học sinh đều cóthể tham gia xây dựng bài
Vì những lí do trên, lại là người trực tiếp giảng dạy nhiều năm tôi nghĩ rằng
đề xuất một phương pháp dạy học hiệu quả hơn cho môn Văn là việc cần thiết
Vì thế tôi chọn đề tài “Vận dụng hiệu quả sơ đồ tư duy trong dạy học Ngữ VănTHPT”
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Đề tài này nghiên cứu nhằm mục đích giúp học sinh tóm tắt, ghi nhớ, tưduy, cảm thụ một cách hệ thống những đơn vị kiến thức trong mỗi bài học ĐọcVăn - Tiếng Việt - Làm văn - Ôn tập
Trang 5- Đề tài cũng giúp học sinh phát huy được tiềm năng trong khả năng sángtạo, tư duy, tạo sự hứng thú học tập tích cực, chủ động trong mỗi giờ học
- Đề tài còn đáp ứng được yêu cầu đổi mới trong giáo dục hiện nay
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài sẽ nghiên cứu về Sơ đồ tư duy và hiệu quả sử dụng sơ dồ tư duytrong dạy học Ngữ Văn THPT
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu loại hình: sơ đồ tư duy là một công cụ hỗ trợ tưduy hiện đại Đó là một kĩ thuật hình họa, một dạng sơ đồ kết hợp giữa từ ngữ,hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp, tương thích với cấu trúc, hoạt động của
1.5 Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
- Sáng kiến có cái nhìn đầy đủ hơn về phương pháp, kĩ năng sử dụng sơ đồ
tư duy trong dạy học Văn
- Trong sáng kiến sẽ đưa ra nhiều phân loại kiểu bài bộ môn Ngữ Văn cóthể áp dụng sơ đồ dạy học: Nghị luận văn học, Đọc hiểu văn bản, Tiếng Việt…
II Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
- Nghị quyết 40/2000 - QH10 của Quốc hội khóa 10 và Chỉ thị số14/2001/
CT - TTg của Thủ tướng Chính phủ, Bộ GD&ĐT đã đặc biệt chú trọng đến việcbồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên từng bước nâng cao trình độ, đổi mới PPDH.Ngày 05/5/2006, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành Quyết định số16/2006/BGDĐT nêu rõ những định hướng đổi mới phương pháp giáo dục, tạo
Trang 6điều kiện thuận lợi để giáo viên thực hiện việc đổi mới PPDH Cho nên sử dụngSĐTD sẽ đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tíchcực, lấy học sinh làm trung tâm, phát huy sự chủ động, sáng tạo trong học tập.Điều này rất phù hợp với mục đích học tập do UNESCO đề xướng: “Học đểbiết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
- Sự phát triển của công nghệ thông tin trong hệ thống trường học làm chothực trạng dạy và học môn Ngữ văn tại trường THPT hiện nay được nâng cao,đổi mới Những mô hình, sơ đồ, biểu đồ… giản tiện về công đoạn, thời gianmang nhiều ưu việt được đưa vào quá trình dạy học Vì thế những giờ học đã trởnên sôi nổi và hứng thú Học sinh không còn cảm thấy ngại học môn Văn nhưtrước, không còn thụ động trước những đơn vị kiến thức đồ sộ Ngược lại các
em có thể chủ động tiếp cận kiến thức qua những sơ đồ tư duy
- Tuy nhiên hiện nay việc đưa SĐTD vào ứng dụng trong quá trình dạy họcđối với môn học Ngữ văn, nhất là các tiết đọc hiểu còn là vấn đề gặp không ítkhó khăn, trở ngại đối với giáo viên Cụ thể như trong việc tổ chức, thiết kế cáchoạt động dạy học với việc sử dụng SĐTD Qua dự giờ, trao đổi kinh nghiệmchuyên môn đối với các đồng nghiệp trong tổ, tôi nhận thấy, hầu hết các giáoviên chưa quen với cách dạy học bằng SĐTD Họ mới chỉ dừng lại ở việc sửdụng SĐTD để hệ thống hóa kiến thức mỗi bài ôn tập, tổng kết một phân môn,một mảng kiến thức nào đó mà thôi chứ chưa mạnh dạn phát huy được tính phổbiến và đa năng của SĐTD trong các tiết đỌC hiểu văn học
- Không chỉ đối với giáo viên mà ngay học sinh trong trường có nhiều emchưa có khái niệm gì về SĐTD, chưa quen với cách học bằng SĐTD và cònnhiều lúng túng khi thiết lập một SĐTD Vì thế việc đưa phương pháp dạy họctheo sơ đồ tư duy vào dạy bộ môn Ngữ Văn là việc cần làm ngay để kích thích
tư duy người học
- Thực tế chất lượng trong mỗi giờ giảng Văn đang là vấn đề đáng bàn.Thời gian bó hẹp trong 45 phút, học sinh quen với cách cảm thụ theo kiểu truyềnthống, chưa chủ động tư duy, chiếm lĩnh tri thức Các giờ Tiếng Việt và Làmvăn tư duy trừu tượng khá dài Phần đọc hiểu văn bản lượng kiến thức cần nhớ
và học thuộc tương đối lớn Vì những lí do đó đã tạo ra tâm lí của học sinh vớimôn Văn: chán học, ngại ghi chép, ngại viết bài…tạo nên nhiều bài văn khôkhan, thiếu cảm xúc, không sáng tạọ…
2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết
2.3.1 Cách tạo - các bước vẽ sơ đồ tư duy:
- Cách tạo sơ đồ tư duy:
+ Dùng SĐTD để dạy bài mới: Giáo viên đưa ra một từ khoá cho bài mớisau đó hỏi những câu hỏi liên quan đến bài mới để học sinh tìm ra các ý kết nốicho bài mới Cuối cùng học sinh có thể tự hoàn thiện được sỏ đồ tư duy cho bàihọc mới
Qua SĐTD đó học sinh sẽ nắm được kiến thức bài học một cách dễ dàng
Trang 7+ Công cụ vẽ sơ đồ tư duy: vẽ bằng tay hoặc bằng máy vi tính Học sinhdùng giấy A4 và hộp màu cùng trí tưởng tượng để vẽ Nếu vẽ bằng tay học sinh
có thể tưởng tượng ra các cấu trúc hình vẽ khác nhau như: hình xương cá, hìnhcây, hình quả, hình tròn, hình càng cua, cánh bướm… Sau đó dùng màu phù hợp
để tô tạo những điểm nhấn Bước cuối cùng là ghi những ý chính vào hình vẽ đểhoàn thiện sơ đồ tư duy Khác với cách thức vẽ bằng máy vi tính, HS có thể sửdụng các phần mềm Mind Mapping, phần mềm Bzan’s iMindMap, phần mềmMindjet MindManager Professional…) hoặc vẽ bằng Microsoft Word, hình ảnhtrung tâm có thể dễ dàng tìm kiếm trên internet
+ Quy tắc vẽ sơ đồ tư duy: cần tuân theo các quy tắc: nhấn mạnh, liên kết
và mạch lạc
- Các bước vẽ sơ đồ tư duy
+ Vẽ chủ đề chính ở trung tâm: HS phải xác định được trọng tâm của bàihọc hoặc chủ đề chính của bài học rồi vẽ chủ đề ở chính giữa tờ giấy đặt nằmngang bằng hình ảnh hoặc từ khóa (Lưu ý đến kích thước, màu sắc… để làm nổibật nội dung của chủ đề chính)
+ Từ chủ đề trung tâm vẽ thêm các nhánh nhỏ hơn để cụ thể ý cho chủ đềtrung tâm Các nhánh nhỏ này chính là các tiêu đề phụ bằng hình ảnh hoặc chữ
in hoa xung quanh hình ảnh trung tâm Để làm nổi bật học sinh có thể chú ý đếncách bố trí và sử dụng màu sắc
+ Từ tiêu đề phụ học sinh vẫn có thể chia ra những tiêu đề nhỏ hơn nữa vàdùng thêm các chi tiết hỗ trợ Trong khi vẽ, HS cũng nên tận dụng các từ khóa
và hình ảnh Mỗi từ khóa, hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêngtrên nhánh
+ Cuối cùng để hoàn thiện sơ đồ tư duy của mình HS có thể thêm nhiềuhình ảnh và sử dụng màu sắc giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, bổ sung cácliên kết cần thiết để hoàn thiện sơ đồ tư duy của mình
- Cấu trúc một sơ đồ tư duy như sau:
+ Hình ảnh, biểu tượng trung tâm thể hiện một ý tưởng chính hay nội dungchính
+ Từ hình ảnh trung tâm này sẽ được chia ra các nhánh chính, nhánh nhỏnhằm thể hiện chủ đề ở mức độ sâu hơn
+ Các nhánh nhỏ này lại được chia tách thành các nhánh nhỏ hơn nhằm thểhiện chủ đề ở mức độ sâu hơn nữa
+ Tiêu điểm ở mỗi nhánh sẽ được khái quát bằng các cụm từ ngữ, câu vănhoặc một hình ảnh cụ thể ngắn gọn hàm súc
- Hiệu quả của sơ đồ tư duy:
– Sơ đồ tư duy tạo sự tập trung của mắt và bộ não, kích thích quá trình tưduy, giúp người tiếp nhận có khả năng ghi nhớ dễ dàng, hiệu quả
- Sự kết nối của các nhánh chính, nhánh phụ sẽ tạo sự liên kết chặt chẽtrọng tâm của vấn đề, kích thích được khả năng tưởng tượng và liên kết các ýtưởng của bộ não
Trang 8- Ghi nhớ sâu sắc vấn đề bằng hệ thống luận điểm, luận cứ, dẫn chứngmạch lạc, không thiếu ý, lặp ý, viết lan man, tự do trong diễn đạt.
- Học sinh sử dụng SĐTD hỗ trợ học tập ở nhà, phát triển tư duy lôgic, tựhọc trước bài mới, củng cố, ôn tập kiến thức bằng cách vẽ BĐTD trên giấy,bìa… hoặc để tư duy một vấn đề mới Nhờ vậy học sinh có khả năng tư duylôgic, khắc sâu kiến thức, kĩ năng ghi chép
- Học sinh nâng cao kĩ năng sử dụng máy tính trong học tập qua việc vẽSĐTD
2.3.2 Vận dụng tư duy trong dạy văn và học văn.
2.3.2.1 Trong tiết đọc hiểu văn bản
Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề
Từ chủ đề trung tâm, vẽ các nhánh chính Trên mỗi nhánh chính viết một khái niệm, phản ánh một nội dung lớn của chủ đề, viết bằng chữ in hoa Nhánh và chữ viết trên đó được vẽ và viết cùng một màu Nhánh chính đó được nối với chủ đề trung tâm Chỉ sử dụng các thuật ngữ quan trọng để viết trên các nhánh
• Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánh chính đó Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường
• Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo
- Văn bản minh họa:
*Lập sơ đồ kết cấu của Bình Ngô đại cáo và phân tích tác dụng của nghệ thuật kết cấu đó
Bình Ngô đại cáo là một áng văn nghị luận có sự kết hợp hài hoà giữa yếu
tố chính luận và yếu tố nghệ thuật Kết cấu của bài cáo rất chặt chẽ, thể hiện tínhchính luận và sự kết hợp chính luận - nghệ thuật Trong bài cáo của Nguyễn Trãi
ta không chỉ thấy được tư tưởng nhân nghĩa mà còn thấy được chân lí độc lậptác giả đưa ra ngay từ đầu tác phẩm Từ tiền đề chính nghĩa soi sáng vào thựctiễn ta lại thấy được tác giả vừa tố cáo được tội ác của giặc Minh đồng thời cangợi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng Qua bài cáo người học cũng dễ rút rađược bài học lịch sử đầy ý nghĩa
Nhìn vào sơ đồ tư duy sau chúng ta có thể thấy rõ hơn được về nội dung tác
phẩm Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi).
Trang 9- Sơ đồ kết cấu trên cho thấy tính chính luận mẫu mực của một áng vănchính luận Trước hết nêu lên tiền đề chính nghĩa có tính chân lí làm cơ sở vữngchắc cho lập luận Trên cơ sở ấy, tác giả đem tiền đề lí luận soi sáng vào thựctiễn để chứng minh tính đúng đắn của nó Cuối cùng là kết luận được rút ra từthực tiễn Đó là lời kết luận phải đổi bằng xương máu nên vô cùng thấm thìa.Bài học được rút ra có giá trị nhân văn to lớn và sâu sắc
*Lập sơ đồ tư duy cho “Rừng Xà Nu” (Nguyễn Trung Thành):
Rừng Xà Nu chỉ là một truyện ngắn nhưng dung lượng hiện thực của nó
thật lớn lao Đó là bản anh hùng ca về cuộc chiến đấu anh hùng của đồng bàoTây Nguyên với sự trưởng thành của một thế hệ cách mạng mới, trẻ trung nhiệt
tình, mưu trí và kiên cường Đọc Rừng Xà Nu có cảm tưởng như được xem một
bộ phim về số phận một con người với biết bao sự kiện Truyện bắt đầu từ hiệntại từ cái thời điểm anh chiến sĩ giải phóng quân TNú đặt chân lên mảnh đất quêhương ‘‘sau ba năm đi lực lượng” rồi ngược dòng thời gian trở về quá khứ Quákhứ cứ hiện dần lên trong sự hồi tưởng của TNú, trong lời kể của tác giả, tronglời kể của cụ những mảng đời quá khứ, những mảng đời hiện tại, cứ đan ngang,soi tỏ cho nhau để cắt nghĩa sự trưởng thành của thế hệ TNú, sự trưởng thành
Tiền đền chính nghĩa
Tư tưởng nhân nghĩa Chân lí độc lập
Tiền đền chính nghĩa soi sáng vào thực tiễn
Giặc Minh phi nghĩa
(Tố cáo tội ác giặc Minh)
Đại Việt chính nghĩa
(Ca ngợi cuộc kh.nghĩa Lam Sơn)
Kết luận: Chính nghĩa chiến thắng
Bài học lịch sử
Trang 10của làng Xô Man trong cuộc chiến đấu với kẻ thù, để làm nổi rõ chủ đề củatruyện, từ nỗi đau riêng và nỗi đau chung Vì thế tư tưởng này đã chi phối kếtcấu tác phẩm Để vẽ sơ đồ tư duy tác phẩm ta phải thấy được hình ảnh trung tâmchính trong truyện là rừng Xà Nu và ý nghĩa của hình tượng này Từ hình tượngRừng Xà Nu chúng ta cũng thấy được vẻ đẹp của con người Tây Nguyên anhdũng và kiên cường trong tranh đấu, tình nghĩa với đồng bào, son sắt với quêhương Các nhân vật trong tác phẩm cũng tượng trưng cho những thế hệ conngười Tây Nguyên trong cuộc đấu tranh vệ quốc bảo vệ quê hương Cho nên ở
sơ đồ này chúng ta có thể chia thành hai nhánh lớn về hình tượng rừng Xà Nu và
vẻ đẹp con người Tây Nguyên Từ hai nhánh lớn tỏa ra các nhánh nhỏ cụ thểhơn về vẻ đẹp của hai hình tượng này
Trang 11Rừng Xà Nu
Ca ngợi vẻ đẹp con người Tây Nguyên
Hình tượng Xà Nu mang nhiều ý nghĩa
Cụ Mết già làng vững chắc
Hình tượng T Nú
Mai biểu tượng cho thế hệ trẻ
Dít, bé Heng thế hệ tương lai nối tiếp
Chịu thương tích, chết chócHam ánh sáng mặt trờiSức sống mãnh liệt
Có mặt trong sự kiện của làngGắn bó với người dân Tây Nguyên
Mưu trí, dũng cảmYêu nước sâu sắcGiàu tình yêu thươngTrung thành với cách mạng
Trang 12*Lập sơ đồ tư duy cho văn bản “Những đứa con trong gia đình”
( Nguyễn Trung Thành):
Đây là tác phẩm đã dựng nên được hình tượng những con người trong mộtgia đình nông dân Nam Bộ có truyền thống yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, thuỷchung, son sắt với cách mạng Những con người này có những nét chung thốngnhất, thể hiện rõ đặc điểm của nhân vật Nguyễn Thi Đó là: Căm thù giặc sâusắc ; Gan góc, dũng cảm, khao khát được chiến đấu giết giặc ; Giàu tình nghĩa,rất mực thuỷ chung son sắt với quê hương và cách mạng Tuy nhiên, trong cáidòng sông truyền thống của gia đình ấy, “mỗi người một khúc”, có nét tính cáchriêng, không ai giống ai Vì thế khi khai thác tác phẩm giáo viên cần chỉ rõ rađiểm chung và khác biệt giữa các nhân vật trong tác phẩm:
- Chú Năm: lạc quan, yêu đời, thường bày tỏ tâm tình bằng câu hò bài hát.Chú Năm xuất hiện trong thiên truyện như một biểu tượng cho truyềnthống gia đình Những việc làm của nhân vật này luôn nhằm động viên,khích lệ con cháu sống mạnh mẽ hơn
- Chiến: tính tình bộc trực, sớm biết thu vén việc gia đình, nhất là dũngcảm, gan góc
- Việt: thẳng thắn, chiến đấu dũng mãnh “gan lì”
Như vậy ở tác phẩm này giáo viên có thể hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ tưduy như sau: vẽ hình một dòng sông hoặc một cột dài nhất Từ đó vẽ các nhánhtỏa ra Mỗi nhánh tỏa ra tượng trưng cho một nhân vật Theo thứ tự nhân vật chúNăm đầu tiên rồi đến nhân vật má Chiến, Chiến, Việt…
- Nhìn vào sơ đồ sau ta có thể thấy rõ nét hơn về nội dung tác phẩm
Trang 13- Căm thù giặc sâu sắc
- Thương con vô bờ
- Người nông dân Nam Bộ bộc trực, vui tính, giàu tình cảm
- Lưu giữ được truyền thống gia đình