Trước những yêu cầu của việc dạy học đổi mới, cùng với mong muốn học sinh nhận thức rõ hơn và yêu quý hơn nền văn học truyền thống nên tôi mạnh dạn đề xuất “Một số kinh nghiệm giảng dạy
Trang 1I MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4/11/2013 tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo xác định
“…Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội…” và “… Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học… Tiếp tục đổi mới mạnh
mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu
khoa học Đẩy mạnh ứng dụng CNTT- TT trong dạy và học” [1]
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011- 2020 ban hành kèm theo Quyết định 711/QĐ-TTg, ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ:
"Tiếp tục đổi mới PPDH và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học"; "Đổi mới kỳ thi tốt nghiệp THPT, kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ theo hướng đảm bảo thiết thực, hiệu quả, khách quan và công bằng; kết hợp kết quả kiểm tra
đánh giá trong quá trình giáo dục với kết quả thi" [2]
Bởi vậy, trong những năm qua, đội ngũ cán bộ giáo viên trong các nhà trường đã và đang tổ chức thực hiện những thay đổi cần thiết về phương pháp giảng dạy để làm tiền đề cho sự nghiệp đổi mới giáo dục của đất nước Trong chương trình giáo dục THPT, môn Ngữ văn là một môn học có vai trò quan trọng không chỉ giúp học sinh trau dồi kiến thức, rèn luyện tư duy mà còn góp phần vào quá trình phát huy năng lực, hình thành nhân cách con người Việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn trong nhà trường cũng không nằm ngoài mục đích đó
Văn học với chức năng giáo dục, nhận thức và thẩm mĩ cung cấp cho các học sinh kho tri thức phong phú về lịch sử phát triển của văn học nhân loại nói chung và văn học Việt Nam nói riêng Chương trình Ngữ Văn lớp 10 giành phần lớn thời lượng để truyền tải đến các em tri thức về văn học dân gian, nền văn học gắn bó với nhiều truyền thống và những nét văn hóa của nhân loại và dân tộc ta từ ngàn đời xưa Bên cạnh đó là một số tác phẩm văn học dân gian nước ngoài tiêu biểu, đặc sắc thể hiện nền văn hóa, văn minh nhân loại Có thể nói văn học dân gian đem đến cho học sinh nhiều hứng thú và sự say mê, tuy nhiên
do độ lùi của thời gian, và có nhiều thể loại văn học dân gian có đặc trưng riêng dẫn đến việc cảm thụ của các em với các tác phẩm văn học cũng hạn chế Nếu các thể loại văn học dân gian khác như truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện
Trang 2cười, tục ngữ và ca dao được học sinh làm quen từ bậc tiểu học và Trung học cơ
sở (THCS), thì thể loại sử thi đến lớp 10- Trung học phổ thông (THPT) học sinh mới được làm quen Sử thi là loại hình dân gian ra đời từ rất sớm có cách tư duy, cách xây dựng nhân vật theo đặc trưng theo thể loại Vì vậy chúng ta không thể đánh đồng việc giảng dạy tác phẩm sử thi với các thể loại tự sự dân gian khác Mặt khác do sự đổi mới nội dung sách giáo khoa (SGK), chương trình ngữ văn hiện nay sắp xếp các tác phẩm thành cụm thể loại tạo nên nét khác biệt trong phương pháp giảng dạy Trước những yêu cầu của việc dạy học đổi mới, cùng với mong muốn học sinh nhận thức rõ hơn và yêu quý hơn nền văn học truyền
thống nên tôi mạnh dạn đề xuất “Một số kinh nghiệm giảng dạy tác phẩm sử thi trong chương trình Ngữ văn lớp 10 ở trường THPT Ngọc Lặc”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Từ thực tế quá trình giảng dạy tác phẩm sử thi trong chương trình Ngữ văn lớp 10 THPT, tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm nhằm trao đổi với các đồng nghiệp về đổi mới phương pháp giảng dạy tác phẩm sử thi, qua đó giúp học sinh hiểu sâu sắc về tác phẩm sử thi, góp phần nhỏ vào quá trình đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Một số văn bản sử thi, đoạn trích sử thi trong chương trình sách giáo khoa (SGK) Ngữ Văn lớp 10 tập I
- Giáo viên tổ Ngữ văn và học sinh lớp 10 trường THPT Ngọc Lặc
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết: Thu thập thông tin qua SGK; Sách giáo viên (SGV); Sách chuẩn kiến thức kĩ năng (KTKN) Ngữ Văn lớp 10, Tài liệu tham khảo; Tranh ảnh minh họa… tìm chọn những cơ sở lí thuyết cho lí luận của đề tài
+ Phương pháp phân tích tổng hợp lí thuyết
+ Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lí thuyết
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
+ Đối tượng điều tra, khảo sát: Học sinh khối lớp 10 Trường THPT Ngọc Lặc
+ Phương pháp điều tra: Sử dụng phương pháp phỏng vấn bằng cách đưa
ra hệ thống câu hỏi, bài kiểm tra để đánh giá tính hiệu quả của bài học
+ Thu thập thông tin: qua các kênh như giáo viên bộ môn, học sinh các lớp được phân công giảng dạy trong 3 năm học (từ 2014- 2017)
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu: Phân tích kết quả thu được sau khi đề tài được thử nghiệm
- Vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học đổi mới: chuẩn kiến thức, kĩ năng, theo hướng phát huy năng lực của học sinh
Trang 3II NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lí luận
“Sử thi là tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn, sử dụng ngôn ngữ có vần, có nhịp, xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tráng hào hùng để kể
về một hoặc nhiều biến cố lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng của cư dân thời
cổ đại"[3]
Sử thi có 2 loại: Sử thi thần thoại và Sử thi anh hùng Khi tìm hiểu tác phẩm sử thi cần chú trọng những đặc điểm cốt lõi như: Không gian sử thi (thường là khung cảnh đại ngàn hùng vĩ, núi rừng bao la, bản làng phồn thịnh, với những cảnh sinh hoạt cộng đồng gắn liền với những tập tục của bộ tộc); Nhân vật Sử thi (thường là người anh hùng với vẻ đẹp ngoại hình và sức mạnh phi thường, những chiến công kỳ vĩ, những việc làm có ý nghĩa và ảnh hưởng tới toàn cộng đồng, được tập thể tôn sùng, ngưỡng mộ); Ngôn ngữ sử thi (giàu hình ảnh, nhịp điệu, trang trọng; sử dụng nhiều thủ pháp so sánh và phóng đại, trùng điệp, kết cấu tầng lớp và mang tính hiệu triệu cao)…
Thể loại sử thi đã được nhiều học giả, nhà khoa học dày công nghiên cứu Nhiều công trình khoa học đã khai thác giá trị của những bộ sử thi nổi tiếng Các tác phẩm sử thi trong và ngoài chương trình sách giáo khoa (SGK) cũng được nghiên cứu biên soạn, in ấn, xuất bản với số lượng lớn Tuy vậy, việc giảng dạy tác phẩm sử thi là một vấn đề còn cần nhiều sự quan tâm, đóng góp và sẻ chia nhất là trong quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy hiện nay Trong các tài liệu nghiên cứu về sử thi, những chuyên luận về văn bản sử thi trong nhà trường, các tác giả đều chỉ ra được những đặc sắc của những tác phẩm này trong đời sống văn học và tìm ra hướng tiếp cận thể loại này Tuy nhiên, trước yêu cầu của việc đổi mới giáo dục, việc tìm ra một hướng tiếp cận sử thi hiệu quả nhất ở từng tác phẩm, trích đoạn đối với người dạy và người học còn gặp những khó khăn nhất định
2.2 Thực trạng vấn đề
Đổi mới phương pháp giảng dạy môn ngữ văn đã và đang được triển khai thực hiện trong các nhà trường Tuy nhiên việc giáo viên vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học đổi mới không phải giáo viên nào cũng làm được, nhiều giáo viên giảng dạy còn theo lối cũ dẫn đến tình trạng học sinh thụ động, chịu sự tác động một chiều từ phía giáo viên, khiến giờ học văn có tình trạng đọc chép, hoặc mang tính máy móc, áp đặt chưa có tính thực tiễn, chưa khơi dậy được tính chủ động, sáng tạo và phát huy năng lực của học sinh Nhiều giáo viên còn giảng dạy theo một “phom cũ”, chưa chịu đổi mới, chưa mạnh dạn áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học mới vào giảng dạy Việc vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học mới hướng đến lấy học sinh làm trung tâm đã phát huy vai trò của chủ động lĩnh hội kiến thức ở học sinh Tuy nhiên trong các giờ dạy
về cá tác phẩm sử thi học sinh vẫn còn tỏ ra lúng túng, chưa tiếp thu hết được nội dung ý nghĩa của văn bản, chưa có cái nhìn tổng thể và toàn diện về giá trị của văn bản Nguyên nhân có thể do những tác phẩm sử thi có độ lùi về thời gian, tư duy của các tác giả dân gian khác với tư duy hiện đại ngày nay, ngôn
Trang 4ngữ của các tác phẩm này cũng khác nhiều so với ngôn ngữ của các tác phẩm văn học hiện đại, hoặc cũng có thể nguyên nhân chính từ các truyền thụ kiến thức của giáo viên còn quá khuôn mẫu chưa linh hoạt, đổi mới Từ thực trạng
đó, tôi muốn đưa ra một số kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy tác phẩn sử thi với mong muốn chia sẻ cùng đồng nghiệp để hướng dẫn học sinh tiếp cận, tiếp thu hiệu quả hơn những giá trị của những tác phẩm sử thi trong chương trình Ngữ văn lớp 10 THPT
2.3 Giải pháp thực hiện để nâng cao hiệu quả giảng dạy tác phẩm sử thi
Thực tiễn đổi mới giáo dục ở nước ta trong những năm gần đây đã khẳng định việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo định hướng phát triển năng lực học sinh là xu hướng tất yếu, đáp ứng yêu cầu giáo dục và đào tạo con người mới Chính vì thế, từ kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm và tham khảo các sáng kiến kinh nghiệm của các đồng nghiệp, tôi đề xuất một số kinh nghiệm giảng dạy tác phẩm sử thi theo hướng đổi mới gắn với yêu cầu định hướng chuẩn kiến thức kĩ năng và phát huy năng lực của học sinh:
2.3.1 Giảng dạy tác phẩm sử thi bằng phương pháp tóm tắt.
Giảng dạy tác phẩm sử thi, giáo viên cần giúp học sinh nắm vững cốt truyện sử thi qua việc tóm tắt văn bản Khi cho học sinh đọc tác phẩm, yêu cầu học sinh tìm hiểu phần tóm tắt văn bản trong mục tiểu dẫn, sau đó hệ thống lại các sự kiện cơ bản như: Khi tóm tắt sử thi Đăm Săn, chú ý hơn tới nội dung Đăm Săn giao chiến với các tù trưởng khác Điều này giúp học sinh nhận thức cuộc chiến giữa Đăm Săn và Mtao Mxây nằm trong một chuỗi những chiến thắng của tù trưởng này, và cuộc chiến này không chỉ mang mục đích giành lại
vợ mà còn để mở mang bờ cõi, xây dựng bộ lạc Hay khi tóm tắt sử thi Ô đi xê, giáo viên kể cho học sinh những chi tiết liên quan đến cuộc trường chinh của Uy- lít- xơ trên đường trở về và mưu trí của Pê- nê- lốp trong thời gian chờ đợi đối phó với bọn cầu hôn Qua đó học sinh sẽ hiểu trí tuệ hơn người của Uy-
lít-xơ và lòng chung thủy, dũng cảm của người vợ Pê- nê- lốp Những chi tiết này
là những gợi ý ban đầu giúp cho học sinh cắt nghĩa, lí giải đoạn trích trọn vẹn
Vì vậy việc tóm tắt văn bản sử thi là hoạt động cần thiết trong giờ dạy
Ví dụ: Tóm tắt sử thi Đăm Săn như sau:
(1) Chị em Hơ Nhí và Hơ Bhí theo luật tục chuê- nuê, đòi lấy Đăm Săn làm chồng, Đăm Săn không chịu
(2) Đăm Săn bỏ về nhà chị là Hơ Aâng, Trời làm anh chết đi sống lại nhiều lần và anh tự thân cứu được Hơ Nhí anh chịu thành hôn với hai người
(3) Tù trưởng Mtao Grư (tù trưởng Ó) cướp Hơ Nhí Đăm Săn đánh lại, giành được vợ, bắt làm tù binh
(4) Đăm Săn đi phát rẫy, dọn ruộng, Mtao Mxây (tù trưởng Sắt) lại cướp
vợ anh, anh giết được kẻ thù, thành một tù trưởng giàu mạnh
(5) Đăm Săn chặt cây thần Cây đổ, hai chị em Hơ Nhí và Hơ Bhí chết, Đăm Săn lên trời toan chém đầu trời, được Trời bày phép làm cho vợ sống lại
(6) Đăm Săn đi bắt Nữ thần Mặt Trời về làm vợ, bị từ chối Anh chết chìm trong rừng đất nhão
Trang 5(7) Vía của Đăm Săn hoá thành con ruồi, bay vào miệng Hơ Aâng, Hơ Âng thụ thai sinh được một con trai, cũng đặt tên là Đăm Săn Đó là Đăm Săn cháu gọi Đăm Săn đã mất là cậu Đăm Săn cháu tiếp tục nối dây với chị em Hơ Nhí và Hơ Bhí
Ví dụ: Tóm tắt và nêu ý nghĩa đoạn trích “Chiến thắng Mtao- Mxay”
- Tóm tắt (SGK, trang 31)
- Ý nghĩa đoạn trích: khẳng định sức mạnh và ngợi ca vẻ đẹp của người anh hùng Đăm Săn - một người trọng danh dự, gắn bó với hạnh phúc gia đình,
và thiết tha với cuộc sống bình yên, phồn vinh của thị tộc, xứng đáng là người
anh hùng mang tầm vóc sử thi của dân tộc Ê-đê thời cổ đại.[5]
2.3.2 Giảng dạy tác phẩm sử thi cần nhấn mạnh đến đặc điểm nhân vật
Trong tác phẩm sử thi, nhân vật được hiện lên qua các chi tiết miêu tả ngoại hình, ngôn ngữ và hành động Đó chính là sự cụ thể hóa phẩm chất và tính cách, tâm lí nhân vật Nhân vật sử thi là con người của sự hoàn thiện, toàn mĩ: Đăm Săn tài năng bản lĩnh dũng cảm phi thường, sức mạnh vô địch được thần
và dân giúp đỡ Uy- lit- xơ “ muôn vàn trí xảo” và Pê- nê- lốp “thận trọng, khôn ngoan” trong trích đoạn Uy- lít- xơ trở về đại diện cho trí tuệ và tâm hồn người
Hi Lạp Nhân vật trong tác phẩm sử thi là kết tinh, đại diện của cả cộng đồng nên khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác phẩm, giáo viên cần chỉ ra cho các em thấy mọi việc làm, mọi hành động của người anh hùng đều nhìn dưới cái nhìn của cộng đồng Trong sử thi Đăm Săn, nhân vật luôn được đặt vào những biến
cố để thể hiện tính cách Trong đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây”, Đăm Săn
luôn được so sánh với nhân vật phản diện về chân dung, sức mạnh, tính cách Quá trình chiến đấu của Đăm Săn cũng là quá trình người Ê đê chế ngự thiên nhiên, phát triển và bảo vệ cộng đồng Như vậy, nhân vật sử thi mang tính chức năng nhiều hơn tính cách, họ là hiện thân của con người bổn phận, con người danh dự Bởi vậy, giáo viên cần định hướng đúng đắn để học sinh hiểu đặc điểm của nhân vật sử thi
2.3.3 Giảng dạy tác phẩm sử thi bằng phương pháp lập bảng so sánh
Trong chương trình Ngữ Văn lớp 10 THPT, các tác phẩm sử thi được sắp xếp thành cụm, thuận lợi cho việc so sánh, đối chiếu, hoặc liên hệ các tác phẩm với nhau Theo phân phối chương trình, các tác phẩm này không được sắp xếp liền nhau, tuy nhiên tổ, nhóm bộ môn và giáo viên có thể linh hoạt dạy thành chuỗi sử thi để học sinh có cái nhìn toàn diện hơn về thể loại này
Ví dụ: Khi giảng dạy các tác phẩm sử thi, giáo viên có thể tổng hợp cho học sinh thấy tuy cùng viết về những anh hùng của dân tộc nhưng Đăm Săn là
sử thi dân gian mang tư duy hồn nhiên, chất phác; Còn tác phẩm Ô- đi- xê và Ramayana là sử thi bác học vì thế phong phú, phức tạp, sâu sắc tinh tế hơn Sau khi học xong các tác phẩm giáo viên có thể lập bảng so sánh để học sinh dễ nhận biết sự giống và khác nhau giữa các tác phẩm sử thi trong chương trình:
Bảng 1:
Tiêu chí Sử thi Đăm Săn Sử thi Ô- đi- xê Sử thi Ramayana
Loại sử thi Sử thi anh hùng Sử thi anh hùng Sử thi anh hùng
Trang 6Sử thi dân gian Sử thi bác học Sử thi bác học Tác giả Nhân dân Tây Nguyên Thi sĩ: Hô- me- rơ Đạo sĩ: Van- mi- ki Đặc điểm Tư duy chất phác, hồn
nhiên
Mang tính nhân văn và giá trị thẩm mĩ
Mang màu sắc tôn giáo, tâm linh Bảng 2:
Tác phẩm Anh hùng Kẻ đối địch Người vợ Trợ giúp
Ô- đi- xê Uy- lít- xơ 108 kẻ cầu hôn Pê- nê- lốp Gia nhân
Bảng 3:
Nội dung
Cuộc phiêu lưu trên biển của Uy- lít- xơ tiêu biểu cho quá trình người Hy Lạp vươn ra biển mở rộng giao lưu thương nghiệp
Hành trình trong rừng sâu của Rama tái hiện quá trình người
Ấn Độ hướng tới những suy tư
về tôn giáo, triết học, thấy được mối quan hệ giữa con người và
vũ trụ Đặc điểm Mang màu sắc thực tiễn Mang tính tôn giáo tâm linh Giá trị Gửi gắm khát vọng trí tuệ Nhấn mạnh phẩm chất đạo đức
2.3.4 Giảng dạy tác phẩm sử thi bằng việc vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực theo chuẩn kiến thức, kĩ năng, phát huy năng lực của học sinh
Luật Giáo dục, Điều 24.2, đã ghi: "PP GDPT phải phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS" Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp vừa đòi hỏi vừa thúc đẩy sự tích cực bên trong (tư duy, tình cảm) và tích cực bên ngoài (thái độ, hành động) của giáo viên và học sinh Hạt nhân cơ bản của tính tích cực nhận thức là
hoạt động tư duy [4]
Dạy học theo hướng phát huy năng lực là trang bị cho học sinh tính chủ động sáng tạo Học sinh không chỉ chủ động tìm hiểu, tiếp cận văn bản mà còn cần có ý thức đọc, suy ngẫm, liên tưởng và tăng cường tính tự chủ để hoàn thiện trí tuệ và nhân cách cá nhân thông qua môn học Sử thi với đặc điểm riêng của mình đã trở thành một thể loại có ưu thế trong việc dạy học theo hướng tích cực Giáo viên có thể áp dụng những phương pháp, kĩ thuật dạy học sau đây để đổi mới giờ dạy tăng hiệu quả bài học
* Phương pháp vấn đáp
Trang 7Vấn đáp là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi để học sinh trả lời, qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức và nộị dung của bài học, giáo viên có thể vận dụng các kiểu loại câu hỏi vấn đáp cho phù hợp như: Vấn đáp tái hiện; Vấn đáp giải thích – minh
hoạ; Vấn đáp tìm tòi [4]
Khi giảng dạy đoạn trích Chiến thắng Mtao- Mxây trong sử thi Đăm Săn,
giáo viên có thể vận dụng phương pháp vấn đáp tái hiện: Em hãy tái hiện lại cuộc chiến đấu của hai tù trưởng Đăm Săn và Mtao- Mxây?
Hoặc khi giảng dạy đoạn trích Uy- lít- xơ trở về, giáo viên có thể vận
dụng phương pháp vấn đáp tìm tòi: Những chi tiết nào liên quan đến bí mật của Uy- lít- xơ và Pê- nê- lốp trong cuộc đấu trí giữa hai vợ chồng gặp lại nhau sau
20 năm xa cách?
* Phương pháp gợi mở
Phương pháp gợi mở là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất trong việc giảng dạy các văn bản văn học hiện nay Hệ thống câu hỏi gợi mở được giáo viên đưa ra để giúp học sinh theo sát nội dung tác phẩm, nắm chắc được ý nghĩa của văn bản Khi giảng dạy các tác phẩm sử thi giáo viên cũng có thể vận dụng phương pháp này để nâng cao hiệu quả:
Với đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây, giáo viên có thể đưa ra các dạng
câu hỏi như:
- Trận đánh nhau với Mtao Mxây được miêu tả qua những chặng nào?
Để trả lời câu hỏi này, giáo viên có thể gợi ý học sinh bằng những câu hỏi nhỏ:
- Diễn biến của hiệp đấu thứ nhất như thế nào? Thái độ và tài năng của Đăm Săn và Mtao Mxây được thể hiện thế nào?
- Cảnh hai người múa khiên được miêu tả đối lập như thế nào? Tại sao Đăm Săn không múa khiên trước mà để Mtao Mxây múa trước?
Trong đoạn trích “Uy- lit- xơ trở về” khi tìm hiểu cuộc gặp gỡ của hai vợ
chồng, giáo viên có thể đặt câu hỏi:
- Trước khi Uy- lit- xơ trở về, Pê- nê- lốp rơi vào hoàn cảnh như thế nào?
- Khi được nhủ mẫu báo tin chồng trở về, tâm trạng của nàng ra sao?
- Qua cử chỉ và lời nói của nàng cho thấy Pê- nê- lốp là người phụ nữ như thế nào?
* Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề
“Tư duy luôn luôn bắt đầu từ một vấn đề” (X.L.Rubinxtên) Xác định
được “vấn đề” và xây dựng các tình huống có vấn đề là hạt nhân của Dạy học nêu vấn đề Điều này có nghĩa là để tạo ra các tình huống có vấn đề đích thực,
bản thân giáo viên phải phát hiện trong tài liệu học tập của học sinh đâu là vấn
đề có “vấn đề”, phải thiết kế thế nào để chúng trở thành các tình huống có vấn
đề và phải nêu vấn đề thế nào để khơi gợi hứng thú, sự tích cực tham gia giải quyết của học sinh Hạt nhân của dạy học nêu vấn đề như nhiều nhà nghiên cứu
đã nhận định là tình huống có vấn đề nhưng sự triển khai cụ thể trong giờ học lại
Trang 8là những câu hỏi nêu vấn đề Vì vậy khi giảng dạy các tác phẩm sử thi giáo viên
cũng nên vận dụng những câu hỏi nêu vấn đề: [4]
- Khi giảng dạy đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây” giáo viên có thể đặt vấn đề:
Cuộc chiến của Đăm Săn có phải chỉ là cuộc chiến đòi lại vợ hay không? Hay còn vì lí do khác, lí do đó là gì?
- Khi giảng dạy đoạn trích Uy- lít- xơ trở về, giáo viên có thể nêu vấn đề:
Sau 20 năm gặp lại người chồng yêu quý tại sau nàng Pê- nê- lốp không vội vàng mà dùng “phép thử” đối với Uy- lít- xơ? Điều đó thể hiện phẩm chất gì của người phụ nữ Hi- Lạp cổ đại?
* Phương pháp thảo luận nhóm
Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ giáo
viên Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành: Làm việc chung cả lớp (Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức, Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ, Hướng dẫn cách làm việc trong nhóm); Làm việc theo nhóm (Phân công trong
nhóm, Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm,
Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm); Tổng kết trước lớp (Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả, Thảo luận chung) Giáo viên tổng
kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài [4]
Giáo viên vận dụng phương pháp thảo luận nhóm để giải quyết các vấn đề thông qua các kĩ thuật dạy học như: khăn phủ bàn, các mảnh ghép để phát huy năng lực của học sinh trong giờ học Tuy nhiên cần phải căn cứ trên đối tượng học sinh (theo tùy vùng, miền) Dạy trích đoạn chiến thắng Mtao- Mxây có thể chia lớp ra làm nhiều nhóm làm việc, mỗi nhóm được giao thực hiện nhiệm vụ khác nhau, sau đó tách nhóm theo sơ đồ các mảnh ghép để thực hiện nhiệm vụ tiếp theo
Ví dụ: Khi giáng trích đoạn chiến thắng Mtao- Mxây, giáo viên có thể giao
nhiệm vụ cho các nhóm:
Nhóm 1: So sánh hai nhân vật trước cuộc chiến?
Nhóm 2: Diễn biến hiệp đấu thứ nhất?
Nhóm 3: Diễn biến hiệp đấu thứ hai?
Nhóm 4: Ý nghĩa của cuộc chiến?
Trên cơ sở đó, giáo viên tiếp tục giao nhiệm vụ cho các nhóm thực hiện
để xâu chuỗi các vấn đề của văn bản và đi đến khái quát toàn bộ nội dung và nghệ thuật của văn bản
2.3.5 Giảng dạy tác phẩm sử thi theo hướng tích hợp kiến thức liên môn
Tích hợp kiến thức các môn học có liên quan đến nhau góp phần giúp người học có tầm nhận thức rộng hơn về nội dung kiến thức Việc dạy học tích hợp hiện nay đang là một phương pháp được sử dụng trong việc đổi mới phương
Trang 9pháp dạy học môn Ngữ văn trong trường THPT vì vậy việc dạy tích hợp trong mỗi bài học môn ngữ văn là rất cần thiết cho học sinh Tích hợp kiến thức liên môn lịch sử, địa lí và văn hóa xã hội khi giảng dạy tác phẩm sử thi bởi đây là thể loại được hình thành trong thời kì các tác phẩm văn học sử học, triết học rất gần gũi với nhau về nội dung
- Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu sử thi Đăm Săn, giáo viên có thể cung cấp cho học sinh những kiến thức về văn hóa dân gian của người Ê đê nói riêng
và Tây Nguyên nói chung Đó là tục lệ “Nối dây” trong hôn nhân xưa, là sinh hoạt văn hóa cồng chiêng của nhân dân Tây Nguyên (Năm 2006, UNESCO công nhận di sản Cồng, Chiêng là di sản văn hóa thế giới) Giáo viên có thể giới thiệu những hình ảnh về trang phục truyền thống; địa bàn sinh sống, cách sống, cách sinh hoạt, săn bắn, hái lượm; sự hình thành và phát triển của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên qua các thời kì lịch sử để học sinh có thể tưởng tượng và hình dung được về chân dung của tù trưởng Đăm Săn qua những lời kể trong sử thi Đăm Săn
- Những kiến thức về địa lí, lịch sử, văn hóa của các quốc gia khác trên thế giới cũng rất cần thiết và gây được sự chú ý và hứng thú cho học sinh, tạo hiệu quả cho bài học như: khi dạy về tác phẩm Ô- đi- xê, giáo viên giới thiệu về
bộ thần thoại Hy Lạp nổi tiếng với các vị thần tiêu biểu; cuộc chiến thành Tơ Roa và vai trò của Uy- lit- xơ trong cuộc chiến này; các công trình nghệ thuật đặc trưng cho nền văn minh phương Tây, lối ăn mặc, trang phục của người phụ
nữ, đàn ông Hy Lạp thời kì trước Vì vậy, việc đưa thêm những kiến thức tích hợp liên môn sẽ càng làm phong phú đa dạng nội dung cho bài học và tăng thêm hứng thú học tập cho học sinh
2.3.6 Giảng dạy tác phẩm sử thi trong mối liên hệ với văn hóa địa phương
(văn hóa dân tộc Mường).
Trường THPT Ngọc Lặc đứng chân trên địa bàn huyện Ngọc Lặc- huyện trung du miền núi xứ Thanh, nơi đây dân tộc Mường chiếm đại đa số dân số của huyện Vì vậy, học sinh của trường phần đa là người dân tộc Mường Khi giảng dạy trích đoạn sử thi Đam săn, tôi đặt câu hỏi cho học sinh tìm ra những nét tương đồng về văn hóa của dân tộc Ê đê với đặc điểm văn hóa dân tộc Mường Cảnh ăn mừng chiến thắng của người anh hùng Đăm Săn có những nét tương đồng với văn hóa truyền thống của dân tộc Mường như: cảnh giết thịt trâu, cảnh uống rượu, cảnh múa hát ăn mừng chiến thắng; những đạo cụ như cồng, chiêng, trống (Qua lời kể: Rượu bảy ché, trâu bẩy con; Rượu bảy ché, lợn thiến bẩy con; Chiêng, trống to kêu rộn rã, dây cồng dây chiêng không lúc nào vắng bớt treo trên giá Các chuỗi thịt trâu, thịt bò treo đầy nhà, chậu thau âu đồng nhiều không còn chỗ để Nhà Đam San đông nghịt khách Tôi tớ chật ních cả nhà Mở tiệc ăn uống linh đình)…
Việc vận dụng phương pháp so sánh, đối chiếu văn hóa dân tộc Ê- Đê với văn hóa dân tộc Mường để làm toát lên phông văn hóa của các dân tộc thiểu số,
từ đó giúp học sinh tiếp cận hiệu quả tác phẩm sử thi Trên cơ sở đối chiếu, so sánh, tôi giới thiệu cho học sinh một số nét đặc sắc trong sử thi “Đẻ đất, đẻ
Trang 10nước” của dân tộc Mường đã kích thích sự tò mò, hứng thú của học sinh muốn tìm hiểu về pho sử thi đồ sộ của dân tộc mình
Thiết kế bài giảng thể nghiệm:
CHIẾN THẮNG MTAO- MXÂY (Trích sử thi “ Đăm Săn”)
A Mục tiêu bài học: Giúp học sinh
1 Kiến thức: Nắm được đặc điểm của sử thi anh hùng trong việc xây dựng kiểu
“nhân vật anh hùng sử thi” về nghệ thuật miêu tả và sử dụng ngôn ngữ.
2 Kĩ năng: Biết cách phân tích một sử thi anh hùng để thấy được giá trị của sử
thi về nội dung và nghệ thuật, đặc biệt là cách sử thi mượn việc mô tả chiến tranh để khẳng định lí tưởng về một cuộc sống hòa hợp hạnh phúc
3 Thái độ: Có thái độ nghiêm túc, đúng đắn khi học tập Qua bài học, nhận
thức được lẽ sống cao đẹp của mỗi cá nhân là hi sinh, phấn đấu vì danh dự và hạnh phúc yên vui của cả cộng đồng
B Phương tiện thực hiện:
1 Giáo viên: Thiết kế bài học, SGK, SGV, tư liệu, máy chiếu, bảng minh họa.;
các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực chuẩn kiến thức theo kĩ năng, phát huy năng lực của học sinh
2 Học sinh: Soạn bài, sưu tầm các tài liệu về thi Đăm San, địa lí, lịch sử, văn
hóa Tây Nguyên và dân tộc Ê đê…
C Cách thức tiến hành : Hệ thống các câu hỏi (…), Đọc sáng tạo gợi tìm, Trao
đổi thảo luận, trả lời các câu hỏi
D Tiến trình dạy học:
1 Ổn định
2 Kiểm tra bài cũ: Phân tích các đặc trưng cơ bản của văn học dân gian?
3 Bài mới:
Sử thi Đam san là niềm tự hào lớn lao nhất của đồng bào Ê- Đê Là sản phẩm tinh thần vô cùng quí giá của họ Đồng bào Tây Nguyên thường
kể cho nhau nghe trong những ngôi nhà Rụng Vậy, để hiểu về sử thi Đam San chúng ta tìm hiểu bài “Chiến thắng MTao Mxây”
Hoạt động 1:
Gv yêu cầu hs :
Đọc tiểu dẫn và nhắc lại định
nghĩa về sử thi?
Hãy tóm tắt nội dung của sử thi
Đam săn?
Trình bày vị trí và đại ý của đoạn
trích?
I Giới thiệu chung về sử thi và sử thi
“Đăm Săn”
1 Sử thi : SGK, trang 17.
2 Sử thi “Đăm Săn” : SGK, trang 30.
a Tóm tắt : SGK, trang 30.
b Vị trí đoạn trích: đoạn giữa tác phẩm,
tiêu đề do người biên soạn đặt
c Đại ý: Miêu tả cuộc đọ sức giữa Đăm
Săn với kẻ thù Mtao Mxây và cuối cùng