Với tư cách là một giáo viên, sau nhiều năm đứng lớp tôi rất mong muốn tìm ra được một số biện pháp để “cải thiện” chất lượng các giờ đọc hiểu văn học nước ngoài, giúp các em học sinh sa
Trang 1MỤC LỤC Trang
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm 2
2 NỘI DUNG 3
2.1 Cơ sở lí luận 3
2.2 Thực trạng vấn đề 3
2.2.1 Thực trạng các giờ đọc hiểu văn học nước ngoài tại trường THPT 3
2.2.1.1 Về phía giáo viên 4
2.2.1.2 Về phía cấu trúc chương trình và kiểm tra đánh giá 4
2.2.1.3 Về phía học sinh 4
2.2.2 Thực trạng các giờ đọc hiểu văn học nước ngoài tại trường THPT Như Xuân 5
2.2.2.1 Thuận lợi 5
2.2.2.2 Khó khăn 5
2.3 Các giải pháp 5
2.3.1 Tạo điều kiện để cho giáo viên được học các chuyên đề bồi dưỡng về văn học nước ngoài 5
2.3.2 Đổi mới phương pháp dạy học bằng ứng dụng công nghệ thông tin 6
2.3.3 Về kiểm tra đánh giá 7
2.3.4 Tìm phương pháp phù hợp để học sinh thuộc thơ hoặc tóm tắt các tác phẩm, đoạn trích truyện một cách dễ dàng 7
2.4 Hiệu quả của sáng kiến 12
2.4.1 Với bản thân và đồng nghiệp 12
2.4.2 Kiểm nghiệm 12
3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 13
3.1 Kết luận 13
3.2 Kiến nghị 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 21 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài:
Trong thời đại ngày nay, không một dân tộc nào có thể đứng vững ở vị trí tiên phong mà thiếu đi sự học tập tích cực Sự phồn thịnh của một quốc gia phụ thuộc vào khả năng học tập của mọi người trong đó thế hệ trẻ là lực lượng tiên phong Do vậy, hiện nay trên thế giới trong đó có Việt Nam đã đặt giáo dục vào
vị trí “quốc sách hàng đầu”, giáo dục được coi là nhân tố quan trọng nhất, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội “Ở nước ta, mục tiêu giáo dục phổ thông đã được xác định rõ: Đó là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[1] Với mục tiêu đó, môn Ngữ văn trong nhà trường, trong đó có văn học nước ngoài, có một vị trí đặc biệt quan trọng, góp phần trang bị cho học sinh một tư duy năng động, sáng tạo, có khả năng liên kết và giải quyết vấn đề, đề xuất các ý tưởng độc đáo, giao tiếp và làm việc trong môi trường rộng lớn, đa quốc gia Đặc biệt, theo tôi, đối với thời đại hội nhập toàn cầu ngày hôm nay, văn học nước ngoài phải có vai trò quan trọng Nếu “văn học
là nhân học” (M Gorki) thì văn học, nhất là văn học nước ngoài có khả năng giúp bồi dưỡng những công dân toàn cầu khoan dung, hòa bình, hòa hợp trên cơ
sở hiểu biết con người, hiểu biết dân tộc mình và các dân tộc khác trên thế giới
“ Các tác phẩm văn học nước ngoài được đưa vào giảng dạy trong chương trình THPT hầu hết toàn là những đỉnh cao nổi tiếng cổ, kim, đông, tây đã được thời gian sàng lọc, với những áng văn thơ long lanh như châu ngọc -cả về hình thức nghệ thuật lẫn nội dung tư tưởng không chỉ mang lại cho các em những rung cảm thẩm mỹ trước những áng thơ, văn bất hủ mà còn trang bị cho các em những tri thức văn hoá về các nước trên thế giới”[2] Mặt khác, việc được học các hiện tượng văn học nước ngoài bên cạnh văn học Việt Nam sẽ giúp các em nhận thức được những tương đồng, khác biệt giữa văn học Việt Nam và văn học thế giới Từ đó, các em có thêm lòng tự tôn và tự cường dân tộc Tuy nhiên hiện nay, đã có nhiều ý kiến về sự sa sút đến mức đáng báo động của chất lượng, hiệu quả giảng dạy văn học trong nhà trường phổ thông Trên mặt bằng chung thấp
ấy, chất lượng, hiệu quả các giờ đọc hiểu văn học nước ngoài ở nhà trường THPT ngày càng thấp kém hơn nữa Với tư cách là một giáo viên, sau nhiều năm đứng lớp tôi rất mong muốn tìm ra được một số biện pháp để “cải thiện” chất lượng các giờ đọc hiểu văn học nước ngoài, giúp các em học sinh say mê và hứng thú đối với những tiết học tìm hiểu về những tác phẩm, đoạn trích của các tác giả nổi tiếng trên thế giới Vì vậy tôi chọn đề tài:
Trang 3“ Một số giải pháp nâng cao hiệu quả các giờ đọc hiểu văn học nước ngoài
ở trường trung học phổ thông ”
1.2 Mục đích nghiên cứu:
nguồn tài liệu bổ ích trong quá trình giảng dạy các tác phẩm, đoạn trích văn học nước ngoài, từ đó nâng cao hiệu quả giảng dạy đối với phân môn này
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
“Một số giải pháp nâng cao hiệu quả các giờ đọc hiểu văn học nước ngoài ở
trường trung học phổ thông ”
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
-Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Sử dụng trong việc sưu tầm một số công
trình nghiên cứu, giáo trình, tài liệu, sách báo….có liên quan đến đề tài
-Phương pháp thống kê: Chọn lựa và thống kê các ngữ liệu, dẫn chứng tiêu
biểu để phục vụ cho mục đích nghiên cứu
-Phương pháp điều tra khảo sát thực tế,thu thập thông tin: Lấy thông tin từ
học sinh và giáo viên để đưa ra được những biện pháp tối ưu nhất
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm:
- So với sáng kiến kinh nghiệm cùng đề tài năm ngoái, sáng kiến kinh nghiệm năm nay, cũng đề tài: “ Một số giải pháp nâng cao hiệu quả các giờ đọc hiểu văn học nước ngoài ở trường trung học phổ thông ”, trong phần nội dung, mục các
giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề ( mục 2.3) với giải pháp: Tìm phương
pháp phù hợp để học sinh thuộc thơ hoặc tóm tắt các tác phẩm, đoạn trích truyện một cách dễ dàng.( 2.3.4), tôi bổ sung thêm phương pháp tóm tắt các
tác phẩm văn học nước ngoài bằng hình ảnh- đây là một phương pháp tôi thấy rất hiệu quả qua thực tế giảng dạy
Trang 42 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận:
Báo cáo năm 1996 của Uỷ ban quốc tế về Giáo dục cho thế kỷ XXI do
Jaccque Delor làm Chủ tịch đã nêu bật tầm nhìn về 4 mục tiêu của giáo dục hiện đại bao gồm: (1) Học để biết; (2) Học để làm; (3) Học để tự khẳng định mình; (4) Học để cùng chung sống Trong 4 mục tiêu, “Học để cùng chung sống” được coi là một trụ cột quan trọng, then chốt, giúp các dân tộc có thái độ hoà bình, khoan dung, hiểu biết, tôn trọng lịch sử, truyền thống và những giá trị văn hoá, tinh thần của nhau Để mục tiêu trên hoàn thành các tác phẩm văn học nước ngoài đóng góp không nhỏ bởi văn học nước ngoài có khả năng giúp bồi dưỡng những công dân toàn cầu khoan dung, hòa bình, hòa hợp trên cơ sở hiểu biết con người, hiểu biết dân tộc mình và các dân tộc khác trên thế giới[3]
Tuy nhiên, kể từ ngày đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, văn hoá xã hội, nhiều chuẩn mực giá trị đã thay đổi Con người sống mạnh mẽ, năng động và cũng gấp gáp, thực dụng hơn Lối sống coi trọng giá trị vật chất, xem nhẹ đời sống tinh thần vốn xa lạ với truyền thống phương Đông, giờ đây có nguy cơ lan rộng, phổ biến trong xã hội, nhất là giới trẻ học sinh, sinh viên Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật tạo ra những thay đổi nhanh chóng, đáp ứng nhiều nhu cầu trước mắt cho con người Trong bối cảnh đó, khoa học xã hội nhân văn không được coi trọng trong đời sống xã hội Hậu quả của nó là môn Ngữ văn trong nhà trường ngày càng mất dần vị thế[4] Số lượng học sinh say mê học văn ngày một giảm, mặc dầu tình yêu văn chương, khả năng văn chương ở các em là rất lớn Áp lực công việc khi vào đời, lối sống thực dụng, tâm lý đám đông đã lấn lướt niềm hứng thú văn chương Thực trạng này với văn học nước ngoài còn tồi tệ hơn, mặc dù vẫn còn
đó nhiều em học sinh yêu thích văn học nước ngoài, nhận ra sự sâu sắc, mới lạ của văn học nước ngoài Với văn học Việt Nam, dù không muốn, các em cũng phải học, cho dù chỉ là đối phó Học để làm bài kiểm tra, để vượt qua các kỳ thi Văn học nước ngoài không có được cái "may mắn" đó Học sinh không cần học văn học nước ngoài vẫn có thể ra trường, vào đại học Sự xem nhẹ môn Ngữ văn, không quan tâm đến văn học nước ngoài có nguyên nhân ở đó Không thi thì không học Đó là lối hành xử phổ biến trong tuyệt đại bộ phần học sinh THPT hiện nay Bên cạnh đó, sự giảm sút tình cảm nghề nghiệp, ý thức trách nhiệm của một số cán bộ giáo viên cũng là một nguyên nhân không nhỏ dẫn tới tình trạng dạy, học văn như hiện nay Những giáo viên say nghề, tâm huyết với nghề dạy văn dường như càng ngày càng hiếm Đó là một thực trạng đáng báo động cho nền giáo dục, và xa hơn, cho xã hội bởi quay lưng với văn học là quay lưng với các giá trị làm người
2.2 Thực trạng vấn đề:
Trang 52.2.1 Thực trạng các giờ đọc hiểu văn học nước ngoài tại trường THPT
Văn học nước ngoài có một vai trò vô cùng quan trọng giúp các em hiểu
về nhiều vùng đất mới, nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới, biết được về các nước trên thế giới ở những thời điểm lịch sử trước đó, chẳng hạn học
“Thuốc” (Lỗ Tấn) nhà văn cho người đọc thấy được hình ảnh dân tộc Trung Hoa thế kỉ XIX: “Nhân dân thì ngủ say trong cái nhà hộp bằng sắt”, còn người cách mạng thì “bôn ba trong chốn quạnh hiu” … nhưng thực tế hiện nay các giờ đọc hiểu văn học nước ngoài không được coi trọng, thậm chí là xem nhẹ, không có hiệu quả
2.2.1.1 Về phía giáo viên:
Văn học nước ngoài được đưa vào giảng dạy ở cấp THPT gồm của rất nhiều các nước trên thế giới từ Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Mĩ,…nghĩa là để có một bài giảng văn học nước ngoài hay người giáo viên phải có một tri thức cực
kì sâu rộng về văn hóa, lịch sử các nước và các kiến thức về tác giả bởi có nhiều những tác phẩm thể hiện nét đẹp văn hóa và thời kì lịch sử của đất nước họ Tuy nhiên, thế hệ giáo viên ngữ văn trong các nhà trường THPT hiện nay về tuổi đời
có nhiều sự chênh lệch về tuổi tác, có những người thuộc thế hệ 6X, 7X qua nhiều lần thay đổi và cải cách chương trình giáo dục, nhiều tác phẩm, đoạn trích mới với các tác giả mới được đưa vào chương trình nên rất nhiều giáo viên phải dạy những điều mình chưa được học ở chương trình giáo dục đại học, thậm chí
là chưa từng biết mặc dù họ vẵn có phương pháp giảng dạy tốt Họ chỉ còn biết dựa vào hướng dẫn giảng dạy hoặc các tài liệu tham khảo, bản thân họ cũng thiếu hụt những tri thức cơ bản về văn hóa văn học nước ngoài
2.2.1.2 Về phía cấu trúc chương trình và kiểm tra đánh giá:
Một thực tế là hầu hết các bài học văn học nước ngoài đều được bố trí vào cuối mỗi học kỳ, khi mà việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn học của các
em về cơ bản đã hoàn tất Điều đó cũng có nghĩa là, phần văn học nước ngoài mặc nhiên đã bị loại ra khỏi nội dung kiểm tra đánh giá Thêm vào đó, trong các bài làm văn (bao gồm cả trên lớp và ở nhà) không có một bài nào dành cho văn học nước ngoài Những năm trước đang còn có sự riêng rẽ giữa kì thi tốt nghiệp THPT và kì thi đại học, cao đẳng thì đề thi tốt nghiệp chỉ có một câu 2 điểm (nhiều năm thuộc phần tự chọn) về văn học nước ngoài dưới hình thức kiểm tra kiến thức cơ bản (đúng hơn là sơ đẳng) về tác giả, tác phẩm Học sinh không cần học văn học nước ngoài cũng hoàn thành tốt bài thi Còn các đề thi đại học, cao đẳng hầu như không có sự xuất hiện của văn học nước ngoài Năm qua, các em học sinh chỉ còn một kì thi quan trọng là kì thi THPT quốc gia nhưng văn học nước ngoài cũng vắng bóng trong đề thi Là một phần khó học, khó nhớ, lại không phải kiểm tra, thi cử suốt trong ba năm THPT, học sinh không học cũng
là điều dễ hiểu
2.2.1.3 Về phía học sinh:
Khi học sinh nhận thấy không ảnh hưởng đến kết quả thi cử, đánh giá cuối cùng của học sinh thì học sinh đều xem văn học nước ngoài là cái bên lề, cái “hạng hai”, cái “dư thừa”, vô ích, các em sẽ không học hoặc học cho xong vì
Trang 6tâm lý của học sinh THPT nước ta hiện nay như trên đã nói, đa số là ứng phó,
“không thi không học”, “bỏ được phần nào hay phần đó”- đây là một thực trạng phổ biến mà chúng ta có thể bắt gặp ở bất cứ một trường THPT nào
2.2.2 Thực trạng các giờ đọc hiểu văn học nước ngoài ở trường THPT Như Xuân
những năm tháng đứng trên bục giảng với tư cách là giáo viên bộ môn ngữ văn, tôi nhận thấy một số thuận lợi và khó khăn khi giảng dạy bộ môn văn nói chung
và phân môn văn học nước ngoài nói riêng
2.2.2.1 Thuận lợi:
Đa số các em học sinh chăm ngoan, biết nghe lời thầy cô giáo, nhiều em học sinh tỏ ra rất yêu thích môn văn Đội ngũ giáo viên giảng dạy môn văn đang còn rất trẻ, được đào tạo tại các trường đại học có bề dày truyền thống, các thầy
cô rất tâm huyết nhiệt tình trong giảng dạy, luôn có những buổi phụ đạo để các
em nắm chắc kiến thức và nâng cao kiến thức về các bài học Đội ngũ lãnh đạo nhà trường luôn quan tâm đến chất lượng dạy và học, luôn có những biện pháp
và cách thức để chất lượng dạy và học đạt hiệu quả cao nhất
2.2.2.2 Khó khăn:
miền núi nghèo tỉnh Thanh Hóa, điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn, giao thông đi lại gặp nhiều cản trở, điều kiện cơ sở vật chất và các trang thiết bị phục vụ cho quá trình dạy học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng còn nhiều hạn chế như thư viện của nhà trường phạm vi hoạt động chủ yếu dành cho giáo viên, chưa có nhiều tài liệu tham khảo đặc biệt ở phân môn văn học nước ngoài;
hệ thống các máy chiếu đa năng phục vụ cho các bài dạy giáo án điện tử còn ít… Các em học sinh phần lớn là con em của các dân tộc thiểu số: Thái, Thổ, Mường, có nhiều em nói tiếng Kinh còn chưa sõi, chất lượng đầu vào trường của các em rất thấp, có những năm chỉ cần chống điểm liệt, các em đi học hầu hết chỉ có độc mỗi cuốn sách giáo khoa cùng vở ghi thậm chí không có, tài liệu tham khảo dường như các em không hề biết đến vì thế, khi học đến các văn bản văn học nước ngoài-tương đối khó học với các em nên năng lực học tập có nhiều hạn chế Phần lớn các em chỉ đặt ra mục tiêu là đỗ tốt nghiệp THPT nên chỉ học những kiến thức trong phạm vi thi, những đơn vị kiến thức văn học nước ngoài không thi nên các em không quan tâm
Làm thế nào để kéo các em trở lại với phần văn học nước ngoài trong chương trình, tạo hứng thú và áp lực cho giáo viên Đây là một câu hỏi lớn cũng
là một thách thức đối với nhiều nhà trường hiện nay Sau nhiều năm đứng lớp, tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp, trước hết để giúp cho bản thân mình và sau đó là các đồng nghiệp trong các tiết dạy đọc hiểu văn học nước ngoài đạt hiệu quả cao
2.3 Các giải pháp:
2.3.1 Tạo điều kiện để cho giáo viên được học các chuyên đề bồi dưỡng về văn học nước ngoài
Trang 7Hằng năm, Sở giáo dục đào tạo có tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên đề cho giáo viên THPT nhưng các chuyên đề ấy chủ yếu là phần văn học Việt Nam, các chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi rồi đổi mới phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh là đối tượng trung tâm, giáo viên chỉ là người định hướng, gợi
mở, dẫn dắt vấn đề… Thế nhưng vắng bóng các chuyên đề dành cho văn học nước ngoài Qua khảo sát một số đồng nghiệp tại trường THPT Như Xuân ở tổ Ngữ Văn, anh, chị em đều cho rằng:
Thứ nhất: Hiện nay, giáo viên THPT phải đảm đương cả văn học Việt Nam lẫn văn học nước ngoài, từ châu Á qua châu Âu, châu Mỹ, từ những bản anh hùng ca ra đời nhiều thế kỉ trước công nguyên đến những tác phẩm văn học hiện đại.Đành rằng người giáo viên cũng đã có lúc được nghe giảng và nghiên cứu trên đại học nhưng cũng không khỏi lúng túng khi giảng dạy cho học sinh những điều mà do điều kiện thời gian, mình chưa nhận thức cặn kẽ, đến nơi, đến chốn
Thứ hai: Qua nhiều lần cải cách SGK, nhiều tác phẩm mới, tác giả mới được đưa vào chương trình SGK để giảng dạy, họ chưa được tiếp cận ở đại học nên cần có nhiều tài liệu tham khảo, đặc biệt được đi học các chuyên đề bồi dưỡng về văn học nước ngoài dưới sự hướng dẫn của các giáo sư, nhà giáo có chuyên môn sâu để các giáo viên nâng cao trình độ kiến thức
2.3.2 Đổi mới phương pháp dạy học bằng ứng dụng công nghệ thông tin
Trong những năm gần đây, vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy đã được đặt ra một cách cấp thiết cùng với việc đổi mới nội dung chương trình SGK nhằm phát huy tối đa tiềm năng sáng tạo của các em học sinh Một trong những yếu tố quan trọng để đổi mới phương pháp dạy học là phương tiện dạy học trong đó công nghệ thông tin là một trong những phương tiện tiện ích
Ngữ văn là một môn học có vai trò qua trọng trong việc trau dồi tư tưởng, tình cảm cho học sinh.Thông qua bộ môn cùng với sự truyền thụ của người thầy, các em sẽ lĩnh hội được cái hay, cái đẹp ở mỗi tác phẩm văn văn học.Để học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp thì người giáo viên phải lựa chọn cho mình một cách truyền thụ sao cho hiệu quả nhất Trong xu thế dạy học ngữ văn theo phương pháp hiện đại, người ta nghĩ ngay đến ứng dụng công nghệ thông tin trong bài giảng.Vận dụng công nghệ thông tin vào bài giảng có nhiều hình thức, tùy vào sự sáng tạo của mỗi giáo viên, một trong những cách là hiệu quả nhất là xây dựng những bài giảng bằng giáo án điện tử sinh động, với hình ảnh, âm thanh, bản đồ đất nước, phong cảnh núi sông, tư liệu lịch sử, văn hóa, xã hội… Thực tế giảng dạy cho thấy, biện pháp này có hiệu quả rõ rệt: Cùng đối tượng khảo sát là 2 lớp 11B10 và lớp 11B7, khi tôi dạy văn bản “Người cầm quyền khôi phục uy quyền” (Trích:Những người khốn khổ-V.Huy Gô)-Lớp 11B10 dạy bằng giáo án điện tử, tôi cho học sinh xem những hình ảnh về nước Pháp, về những địa danh nổi tiếng ở Pháp, đặc biệt cho các em xem những chân dung minh họa của các nhân vật như Giăng-văn-Giăng; Gia-ve… đến khi học đoạn trích các em rất hứng thú, khái quát tính cách nhân vật rất nhanh còn lớp 11B7 dạy bằng giáo án thường không tạo được nhiều hứng thú cho học sinh
Trang 82.3.3 Về kiểm tra đánh giá:
Trong phần kiểm tra đánh giá thường xuyên nên có quy định bắt buộc phải có nội dung kiểm tra thuộc phần văn học nước ngoài Thi kiểm tra cuối kỳ bắt buộc phải có nội dung văn học nước ngoài theo một tỷ lệ tương ứng với các nội dung khác trong chương trình môn học Ðiều này là hợp lý Để đảm bảo tính khách quan và tránh học trò học tủ, giáo viên dạy đối phó, các trường nên xây dựng ngân hàng đề thi cho môn học Điều này là phù hợp với lý luận và thực tiễn, góp phần vào quá trình hội nhập đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ Hơn nữa, có thi, có lấy điểm mới tạo nên hứng thú và say mê cho các em học sinh trong các tiết học văn học nước ngoài bởi hiện nay học sinh THPT phải học một lượng kiến thức vô cùng “khổng lồ” để chuẩn bị cho kì thi cuối cấp, do vậy với tâm lý bỏ được phần nào không liên quan đến thi thi hay phần đó nên phần lớn các giờ dạy văn học nước ngoài thường uể oải, không khí lớp học buồn tẻ, nhạt nhẽo
2.3.4 Tìm phương pháp phù hợp để học sinh thuộc thơ hoặc tóm tắt các tác phẩm, đoạn trích truyện một cách dễ dàng
Trong bộ môn Ngữ văn nói chung và phân môn văn học nước ngoài nói
riêng, thuộc thơ và biết tóm tắt các tác phẩm truyện, đoạn trích nói riêng rất quan trọng, mang tính cấp thiết Thuộc thơ học sinh sẽ biết được mạch cảm xúc của tác giả, cách sử dụng từ ngữ, nhịp điệu thơ, nghệ thuật đặc sắc của bài thơ… Các em sẽ chiếm lĩnh được tác phẩm một cách sâu sắc Đặc biệt đối với đoạn trích trong một tác phẩm nào đó hoặc một tác phẩm văn học nước ngoài dài thì công việc tóm tắt sẽ giúp các em nắm được cốt truyện, những nội dung chính, nghệ thuật tiêu biểu… Nhiều học sinh khi học truyện nước ngoài, thầy cô yêu cầu chỉ ra những tình tiết liên quan đến nhân vật hoặc trong các bài kiểm tra đánh giá định kì khi phân tích một nhân vật nào đó các em cứ diễn nôm hoặc nói chung chung mà không có dẫn chứng cụ thể khiến bài viết cứ chung chung, sơ sài, không rõ ràng Đó là hậu quả của việc không đọc, không nắm được cốt truyện, các tình tiết đặc sắc Để khắc phục tình trạng này, trong quá trình giảng dạy truyện nước ngoài thì các thầy, cô giáo nên:
Thứ nhất: Tóm tắt bằng sơ đồ cả tác phẩm cho học sinh nắm toàn bộ tác phẩm Việc tóm tắt bằng sơ đồ sẽ giúp các em không ghi nhớ một cách máy móc
mà rèn luyện cách tư duy của học sinh Từ đó giúp các em hiểu đoạn trích, tác phẩm một cách cặn kẽ
Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn chú trọng tóm tắt bằng sơ đồ cho các
em những đoạn trích, tác phẩm Ví dụ:
+ Khi dạy đoạn trích “Hồi trống cổ thành” (Trích:Tam quốc diễn
nghĩa-La Quán Trung), tôi đã có 2 sơ đồ tóm tắt giúp học sinh dễ dàng nắm bắt đoạn trích, hiểu về “Tam quốc diễn nghĩa”, tránh hiện tượng học sinh “ thấy cây mà không thấy rừng”
Cụ thể:
Sơ đồ 1: Tóm tắt tác phẩm: “ Tam quốc diễn nghĩa” ( La Quán Trung)
Trang 9Sơ đồ 2: Tóm tắt đoạn trích “ Hồi trống Cổ Thành”
( Trích hồi 28- Tam quốc diễn nghĩa)
Nhà Hán (Hán Linh Đế) 184 Khởi nghĩa nông dân Khăn Vàng (184-190)
Các tập đoàn quân phiệt
Phía Bắc
(Liêu Biểu, Viên
Thiệu, Viên Thuật,
Tào Tháo
Phía Tây (Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi…
Phía Đông Nam (Tôn Sách, Tôn Quyền)
Trận Xích Bích
Ngô (Tôn Quyền)
Thục (Lưu Bị)
Ngụy (Tào Tháo)
Tư Mã Viêm (Nhà Tấn-280) Tam quốc diễn nghĩa
Trang 10
+ Khi dạy tác phẩm “ Người trong bao” (Sê-Khốp)-Ngữ văn 11, tập 2, NXBGD, tôi cũng có sơ đồ tóm tắt sau:
Thứ hai: Tóm tắt bằng hình ảnh minh họa: Ví dụ: Khi dạy văn bản “ Ông già và biển cả” ( Trích Ông già và biển cả của Ơ- nít- Hê- minh- uê), để học sinh
dễ dàng tiếp cận và nắm sâu và kĩ về vị trí của văn bản trong toàn bộ tác phẩm, hình dung rõ về văn bản, tôi tóm tắt bằng hình ảnh như sau:
Quan
Công
đến Cổ
Thành
Trương Phi kết tội Quan Công
Sái Dương xuất hiện
Em đánh trống, anh chém đầu tướng giặc
Anh em đoàn tụ
Câu chuyện của I-van-I-va-nứt và Bu-rơ-kin sau chuyến đi săn về muộn
Bê-li-cốp ( Thầy giáo dạy tiếng Hy Lạp)
Chân dung,
lối sống,
tính cách
Câu chuyện tình yêu với Va-ren-ca
Cuộc nói chuyện với Cô-va-len-cô
Cái chết của Bê-li-cốp
I-van-I-va-nứt đưa ra kết luận: “ Không thể sống mãi
như thế được”