SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁTRƯỜNG THPT CẨM THUỶ 1 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SỬ DỤNG SƠ ĐỒ ĐỂ CỦNG CỐ BÀI HỌC NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG DẠY HỌC PHẦN VĂN BẢN VĂN XUÔI MÔN NGỮ VĂN LỚP 1
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT CẨM THUỶ 1
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ ĐỂ CỦNG CỐ BÀI HỌC NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG DẠY HỌC PHẦN VĂN BẢN VĂN
XUÔI MÔN NGỮ VĂN LỚP 11
Người thực hiện: Hồ Thị Ly
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Ngữ văn
Trang 2THANH HÓA NĂM 2017
-Đối tượng nghiên cứu
-Phương pháp nghiên cứu
-Những điểm mới của Sáng kiến
34444
*Giáo viên chưa quan tâm đến phần củng cố bài học
*Thời gian dành cho phần củng cố bài học còn ít
*Văn bản Hai đứa trẻ của Thạch Lam
*Văn bản Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
*Văn bản Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng
*Văn bản Chí Phèo của Nam Cao
2.4.Hiệu quả của sáng kiến
5666
77777789910101111
3.Kết luận,kiến nghị
-Kết luận
-Kiến nghị
131313
Trang 31 Mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài:
Tác phẩm văn học - một bài thơ, một áng văn, một thiên truyện là mộtcông trình nghệ thuật, thể hiện những nghiền ngẫm, tìm tòi của nhà văn, nhà thơ
về cuộc sống, về con người được diễn tả bằng những hình thức nghệ thuật ngôn
từ tinh tế, đặc sắc Mỗi tác phẩm văn học thực sự có giá trị thường mang nhiều ýnghĩa và có ảnh hưởng lâu dài, sâu sắc trong nhận thức tư tưởng, tình cảm củangười đọc
Dạy học tác phẩm văn chương là một loại hình dạy học đặc thù, đòi hỏi sự
nỗ lực từ cả hai phía: giáo viên và học sinh Con đường và cách thức dạy học tácphẩm văn chương phản ánh những phương diện quan hệ hữu cơ của quá trìnhgiáo dục Bắt đầu từ việc lĩnh hội và thấm nhuần ý nghĩa, mục đích, định hướngđến xác định nhiệm vụ cụ thể của yêu cầu dạy học trên cơ sở kiến thức cơ bản
về tác giả, tác phẩm cũng như kiến thức tâm lí giáo dục học và khả năng sưphạm của bản thân, giáo viên từng bước hình thành kế hoạch tổ chức quá trìnhchiếm lĩnh tri thức văn học cho học sinh.Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng
nói: “Cái quan trọng nhất trong giảng dạy nói chung và trong dạy văn nói riêng
là rèn luyện bộ óc,rèn luyện phương pháp suy nghĩ,phương pháp nghiên cứu,phương pháp vận dụng kiến thức của mình” (Trích: Tạp chí nghiên cứu giáo
dục số 26 tháng 11/1973)
Sau nhiều năm trực tiếp dạy học môn Ngữ Văn ở trường trung học phổthông theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học, bản thân tôi thấy rằng: củng
cố và luyện tập sau giờ dạy học văn là một việc làm không kém phần quan trọng
so với các việc làm tích cực khác Đây là biện pháp để giáo viên kiểm tra kếtquả học tập của học sinh, khắc sâu kiến thức sau giờ dạy học đồng thời khơi gợi
ở các em những hướng suy nghĩ, tư duy sáng tạo, những tìm tòi mới mẻ thôngqua tác phẩm văn học
Tuy nhiên, trên thực tế, theo tinh thần đổi mới phương pháp và thiết kế bàidạy thì khâu củng cố và luyện tập đã được đặt ra song khi tiến hành vẫn chưađược coi trọng Phần vì học sinh quá chú trọng vào phần phân tích, phần vì việcphân bố thời gian chưa hợp lí nên thời gian cho khâu củng cố và luyện tập vẫn
bị hạn chế Mặt khác, nhiều giáo viên coi đây là việc làm “phụ” trong một giờhọc nên còn đại khái, qua loa Thông thường, sau khi phân tích tác phẩm, giáoviên lo tổng kết một số ý về nội dung và nghệ thuật là coi như hoàn thành bàihọc, phần củng cố và luyện tập hầu như giáo viên yêu cầu học sinh tự làm ởnhà Chính vì lẽ đó, sau tiết học, nhiều học sinh vẫn chưa nắm vững kiến thức cơbản và chưa vận dụng được vào thực tế bài làm của mình
Bên cạnh đó, nhìn lại chương tình sách giáo khoa Ngữ văn 11-Học kỳ 1 tathấy chương trình đã dành một phần lớn dung lượng cho việc học văn bản vănxuôi Thực tế là đã có 17 trên 70 tiết là văn bản văn xuôi (trong đó chủ yếu làtruyện ngắn 1930-1945) Tuy nhiên, một vấn đề nảy sinh là cho dù học sinh cóđọc văn bản thì cũng không nắm vững nội dung cũng như đặc sắc nghệ thuật của
Trang 4tác phẩm Từ đó, học sinh lúng túng trong việc vận dụng kiến thức cơ bản đểlàm phần thi đọc hiểu trong yêu cầu của đề thi mới.
Xuất phát từ tình hình thực tế đó, để giúp học sinh nắm vững kiến thứcvăn bản văn xuôi và vận dụng nó trong làm văn, tôi đã đã tìm tòi, nghiên cứu vàthực nghiệm khá thành công Sau đây, tôi xin trình bày một trong những kinhnghiệm mà tôi đã thực hiện trong 2 năm học gần đây đạt được hiệu quả cao, đólà:
“Sử dụng sơ đồ để củng cố bài học nhằm nâng cao hiệu quả trong dạy học phần văn bản văn xuôi môn Ngữ văn lớp 11”.
1.2 Mục đích nghiên cứu: Đề tài này nhằm mục đích giúp học sinh:
+Xác định được vai trò quan trọng của phần củng cố bài học
+Biết lập sơ đồ củng cố bài học phần văn bản văn xuôi lớp 11 và vận dụng đốivới các văn bản khác
+Nắm vững kiến thức bài học thông qua sơ đồ đã củng cố
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Củng cố bài học phần văn bản văn xuôi lớp 11(học kỳ 1) thông qua sơ đồ
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Để tổ chức được các hình thức củng cố và luyện tập sáng tạo cho họcsinh, tôi đã vận dụng các phương pháp trong dạy học văn theo tinh thần đổi mớinhư sau:
- Phương pháp đọc sáng tạo
- Phương pháp gợi tìm
- Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tái tạo
- Phương pháp tổng hợp - so sánh bằng sơ đồ
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
- Các sáng kiến kinh nghiệm có cùng chủ đề “Sử dụng sơ đồ để củng cố bài học” ở các năm học trước, tôi chủ yếu trình bày việc sử dụng sơ đồ trong việc củng cố bài học phần văn bản thơ để học sinh làm tốt phần thi đọc hiểu môn Ngữ văn trong kì thi THPT Quốc gia
- Trong sáng kiến kinh nghiệm này, tôi tập trung rèn luyện cho học sinh lớp 11
kỹ năng sử dụng sơ đồ để củng cố bài học phần văn bản văn xuôi nhằm giúp choviệc học văn có hiệu quả để vận dụng sáng tạo vào phần làm văn của bài thi mônNgữ văn trong kì thi THPT Quốc gia
Trang 52 Nội dung
2.1 Cơ sở lý luận của vấn đề
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông được thể hiệntrong Nghị quyết số 40/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội khóa X
về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông: “xây dựng một nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới” Văn bản đồng thời yêu cầu: “Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải quán triệt về mục tiêu, yêu cầu về nội dung phương pháp giáo dục của các bậc học, cấp học quy định trong giáo dục, khắc phục những mặt hạn chế của chương trình, sách giáo khoa, tăng cường tính thực tiễn, kĩ năng thực hành, năng lực tự học, coi trọng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn, bổ sung những thành tựu khoa học
và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh ”.
Cùng với việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông là đổi mới sáchgiáo khoa phổ thông phù hợp với mục tiêu giáo dục quy định trong luật giáodục Việc đổi mới chương trình sách giáo khoa đã đặt trọng tâm vào việc đổimới phương pháp dạy học Đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác địnhtrong Nghị quyết trung ương 4 khóa VII (Tháng 01 năm 1993), Nghị quyết trungương 2 khóa VIII (Tháng 12 năm 1996) được thể chế hóa trong luật giáo dục(2005) được cụ thể hóa các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo đặc biệt là chỉ thị
số 14 (Tháng 4 năm 1999) Luật giáo dục, điều 28.2 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh”.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành kèm theo quyết định số16/2006/QĐ – BGD&ĐT ngày 05/5/2006 xác định rõ:
“Môn Ngữ văn ở cấp PTTH nhằm giúp học sinh: Có những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại hệ thống về văn học và Tiếng Việt bao gồm: Kiến thức
về các tác phẩm tiêu biểu cho các thể loại cơ bản của văn học Việt Nam và một
số tác phẩm, đoạn trích văn học nước ngoài Những hiểu biết về lịch sử văn học
và một số vấn đề lí luận văn học cần thiết (cách tiếp nhận và tạo lập) Hình thành và phát triển các năng lực ngữ văn với yêu cầu cao hơn cấp THCS bao gồm: Năng lực sử dụng Tiếng Việt (thể hiện bốn kĩ năng cơ bản: đọc, viết, nghe, nói), năng lực tiếp nhận văn học, cảm thụ, thẩm mĩ, năng lực tự học, năng lực thực hành ứng dụng.”
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới ra đề thi THPT quốc gia từ năm 2014 của Bộ GD
và ĐT trong đó tăng cường kiểm tra kiến thức cơ bản của học sinh thông qua phầnđọc- hiểu mà theo PGS TS Đỗ Ngọc Thống, Phó Vụ Trưởng Vụ GD Trung học,
Bộ GD&ĐT, để đồng bộ trong đổi mới căn bản toàn diện việc dạy học môn Văntrong nhà trường phổ thông, khâu kiểm tra đánh giá cũng phải chuyển theo
Trang 6hướng đánh giá được năng lực của học sinh Với môn Văn THPT, năng lực nàythể hiện “đông đặc” trong các kỹ năng đọc, hiểu và tạo lập văn bản
Trong thực tế, đối với một giờ học văn phần củng cố bài học có ý nghĩakhá quan trọng Mặc dù chỉ chiếm một khoảng thời gian ít ỏi (khoảng từ 3 đến 5phút) trong một tiết học nhưng nó đã mang đến những hiệu quả nhất định:
Đây là biện pháp để giáo viên kiểm tra kết quả học tập của học sinh, khắc sâukiến thức sau giờ dạy học đồng thời khơi gợi ở các em những hướng suy nghĩ, tưduy sáng tạo, những tìm tòi mới mẻ thông qua tác phẩm văn học nhằm từngbước khắc phục tình trạng thụ động trong lĩnh hội kiến thức, khẳng định vai tròchủ động sáng tạo của học sinh
Góp phần khắc phục những bất cập của phương pháp dạy học văn theo lốitruyền thụ một chiều kích thích năng lực sáng tạo tự thân của học sinh để quátrình dạy học văn trở thành quá trình học sinh tự phát triển trí tuệ, hoàn thiệnnhân cách và bồi dưỡng tâm hồn cho các em
Khơi gợi những sáng tạo trong suy nghĩ, hình thành năng lực tư duy văn học chohọc sinh Tổ chức được các hình thức củng cố và luyện tập sáng tạo cho họcsinh chính là giáo viên đã phát huy được vai trò chủ động, tích cực của học sinhtrong quá trình học tập thông qua việc lĩnh hội kiến thức sau giờ học
b Cấu trúc, thời lượng của văn bản thơ trong chương trình SGK Ngữ văn 11-Học kỳ 1
3 Hạnh phúc của một tang gia – Vũ Trọng
Phụng
3
5 - Cha con nghĩa nặng (Trích) – Hồ Biểu Chánh
- Vi hành - Nguyễn ái Quốc
- Tinh thần thể dục - Nguyễn công Hoan
2
6 Vĩnh biệt cửu trùng đài (Trích Vũ Như Tô) -
Nguyễn Huy Tưởng
3
Nhìn vào cấu trúc chương trình Ngữ văn 11 –Học kỳ 1 ta nhận thấy,thời lượngdành cho phần văn bản văn xuôi cũng khá nhiều.Như vậy mục đích của ngườibiên soạn là nhằm cung cấp kiến thức cơ bản về các thể loại văn xuôi cho họcsinh
Trang 7Thực tế dạy học đã có nhiều giáo viên chú ý đến khâu củng cố và luyện tập củahọc sinh nhưng cũng nhiều giáo viên coi đây là việc làm “phụ” trong một giờhọc nên còn đại khái, qua loa Thông thường, sau khi phân tích tác phẩm, giáoviên lo tổng kết một số ý về nội dung và nghệ thuật là coi như hoàn thành bàihọc, phần củng cố và luyện tập hầu như giáo viên yêu cầu học sinh tự làm ở nhà.Một số giờ học đã chú ý đến phần củng cố và luyện tập nh ưng việc kích thíchcảm thụ còn hạn chế do không ít những câu hỏi không thích hợp
* Thời gian dành cho việc củng cố bài học còn ít
Nếu như giờ học Tiếng Việt, thời gian luyện tập chiếm tới 30% trong một tiếthọc thì với giờ dạy học Văn, thời gian dành cho phần củng cố và luyện tậpchiếm rất ít (chỉ từ 3 đến 5 phút cho bài học có phân phối chương trình 1 tiết và
từ 7 đến 10 phút cho bài học có phân phối chương trình 2 tiết trở lên)
Nhìn lại phân phối chương trình môn Ngữ văn 11-HK 1.Toàn bộ chương trìnhhọc kỳ 1 có tổng số 70 tiết,trong đó có 17 tiết dành cho luyện tập tiếng việt vàlàm văn.Chưa kể sau mỗi bài tìm hiểu kiến thức về Tiếng Việt và làm văn đều
có câu hỏi luyện tập và củng cố trong khoảng 10 phút.Trong khi đó,phần củng
cố bài học trong giờ học văn bản lại chưa được quan tâm.Như vậy chương trìnhchủ yếu quan tâm đến việc rèn cho học sinh kỹ năng mà chưa chú ý đến việckhắc sâu kiến thức cho học sinh.Chính vì lẽ đó, mà nhiều giáo viên còn chưachú trọng đến việc củng cố bài học cho học sinh sau mỗi tiết dạy củamình.Trong khi đó kiến thức của phần văn bản thơ thì nhiều (có 17/70 tiết).Họcsinh lại chủ yếu phải sử dụng phần kiến thức này để tham dự kỳ thi THPT Quốcgia khi mà bản thân các em chưa thực sự vững vàng
độ Giờ dạy học tác phẩm văn chương đã có thể kết thúc nhưng những vấn đề vềhình tượng văn học vẫn tiếp tục lung linh phát triển và “nổ vỡ lặng im” trongtâm hồn các em Chính trong phần củng cố luyện tập, nhiều học sinh đã cónhững phát hiện khá lí thú, độc đáo và sáng tạo Thiết nghĩ trong xu thế đổi mới
Trang 8phương pháp dạy học văn, cần phải trả giờ văn chương lại cho bản chất giao tiếpnghệ thuật, định hướng sư phạm cải tiến phải tạo nhiều thời gian cho học sinhtiếp xúc với bài văn trước, trong và sau khi học để “cuộc giao tiếp im lặng thực
sự diễn ra trong giao tiếp văn chương”
Đa dạng các hình thức củng cố và luyện tập sáng tạo cho học sinh tronggiờ văn còn để kích thích những rung động tâm hồn, niềm hứng khởi sáng tạo vàkhát khao mạnh mẽ của học sinh trước sức hấp dẫn kì diệu mà thế giới nghệthuật gợi nên
Kết thúc phần củng cố luyện tập nhưng suy nghĩ về tác phẩm không đónglại mà những vấn đề xung quanh tác phẩm còn mở ra để tạo được “dư âm”, “dưvị” tiếp tục Có những vấn đề, các em chỉ giải quyết được phần nào ở lớp hoặcgiải quyết xong cả nhưng những ám ảnh của nó thì không thể chấm dứt ngaytrong suy nghĩ của các em
Phát huy tính sáng tạo cho học sinh qua các hình thức củng cố và luyệntập trong giờ dạy học văn là rất quan trọng cầ n thiết nhưng giáo viên phải biếtđịnh hướng sự tiếp nhận văn học của học sinh Dù sáng tạo hay đến mấy, độcđáo đến mấy vẫn phải tuân thủ tính giới hạn, dựa trên lôgíc và cấu trúc đặc trưngcủa hình tượng văn học, ý đồ sáng tạo, tư tưởng của nhà văn và mục tiêu giáodục
Tổ chức các hình thức củng cố luyện tập sáng tạo cho học sinh còn phảituỳ thuộc vào đặc điểm, yêu cầu riêng của mỗi bài học và phù hợp với từng đốitượng học sinh, tránh sự lặp lại đơn điệu hoặc áp dụng một cách máy móc Vìthế cùng với việc lựa chọn khả năng thích hợp đối với từng đối tượng là yêu cầuvận dụng linh hoạt, uyển chuyển các hình thức, việc làm mới hi vọng tạo rahứng thú sáng tạo của học sinh Để làm tốt khâu này thì người giáo viên cầnphải có một kĩ năng trong việc vận dụng phương pháp dạy học
* Về phương pháp
Để tổ chức được các hình thức củng cố và luyện tập sáng tạo cho họcsinh, tôi đã vận dụng các phương pháp trong dạy học văn theo tinh thần đổi mớinhư sau:
- Phương pháp đọc sáng tạo
- Phương pháp gợi tìm
- Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tái tạo
- Phương pháp tổng hợp - so sánh bằng sơ đồ
Với mỗi bài, việc vận dụng từng biện pháp có khác nhau hoặc có thể đanxen của nhiều phương pháp Từ các phương pháp đó, giáo viên tiến hành tổchức cho học sinh củng cố và luyện tập ngay trong giờ học; bằng hệ thống câuhỏi, giáo viên đưa ra những yêu cầu để học sinh phát hiện, thảo luận và giáoviên định hướng cho học sinh vào đúng với chủ đề tư tưởng, mục đích giáo dụccủa tác phẩm
Có nhiều hình thức và biện pháp thực hiện thao tác củng cố bài học, ở đâytôi chỉ xin được nêu ra một số thao tác tiêu biểu sau:
- Tiến hành đọc diễn cảm toàn bộ đoạn trích, tác phẩm
- Tìm hiểu nội dung
Trang 9Để củng cố bài học đạt được hiệu quả cao chúng ta có thể vận dụng nhiềucách khác nhau như: Đặt câu hỏi mang tính khái quát để học sinh tổng quát lạigiá trị nội dung, giá trị nghệ thuật cũng như ý nghĩa của bài học… Song tôi thiếtnghĩ có một biện pháp đạt hiệu quả cao hơn cả đó là dùng bảng phụ có tínhTổng hợp – so sánh Cái khó của biện pháp này là thầy cần phải dành thời giannghiên cứu kĩ lưỡng để mỗi bài học đưa ra được một sơ đồ có tính Tổng hợp –
so sánh, khái quát toàn bộ kiến thức của bài học Và để thực hiện được cách làmnày thì giáo viên cần chuẩn bị trước vào bảng phụ hoặc thiết kế vào máy (nếucó), chỉ đến bước củng cố mới đưa ra sử dụng Để phát huy tối đa tác dụng củabảng phụ này thầy có thể dùng kết hợp các biện pháp: hỏi – đáp, diễn giảng,thảo luận, trình bày, … Nhưng xin lưu ý rằng dùng biện pháp nào và dùng nhưthế nào, cách thức ra sao còn tuỳ thuộc vào đối tượng thực tế của học sinh trongtừng tiết học cụ thể
Dưới đây, tôi xin đưa ra một số sơ đồ cụ thể cho phần củng cố trong giờhọc văn bản văn xuôi lớp 11
*.Văn bản Hai đứa trẻ của Thạch Lam (Ngữ văn 11-Cơ bản)
-Bức tranh thiên nhiên:
Đối lập bóng tối ánh sáng-Bức tranh cuộc sống:
Đơn điệu,tù túng,bế tắc-Tâm trạng liên: Ý thức sâu sắc cuộc sống
Cảnh đợi tàu:
-Sự xuất hiện của đoàn tàu và ý nghĩa của nó:
-Khung cảnh phố huyện khi đoàn tàu qua
Nghệ thuật:
-Truyện không có cốt truyện đặc biệt là sự kết hợp giữa tự sự và trữ tình
-Giọng văn nhẹ nhàng điềm tĩnh,lời văn bình dị tinh tế
Trang 10*Văn bản Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân (Ngữ văn 11-Cơ bản )
-Con người tài hoa-Con người có khí phách hiên ngang-Con người có thiênlương trong sáng->Nhân vật kết tinh tài năng phong cách,tư tưởng Nguyễn Tuân
Nhân vật Quản Ngục:
-Người có sở nguyện cao quý-Người có tấm lòng biệt nhỡn liêntài
->Sự hóa thân của Nguyễn Tuân thể hiện niềm luyến tiếc giá trị văn hóa
Cảnh cho chữ:
-Cảnh tượng xưa nay chưa từng có-Ý nghĩa:làm nổi bật chủ đề tác phẩm,sự chiến thắng và bất tử củacái đẹp,của nghệ thuật
Nghệ thuật:
-Tình huống truyện độc đáo
-Bút pháp điêu luyện sắc sảo khi dựng cảnh,dựng người
-Ngôn ngữ giàu hình ảnh,vừa cổ kính,vừa hiện đại
*Văn bản Hạnh phúc của một tang gia (Trích :Số đỏ) của Vũ Trọng Phụng (Ngữ văn 11-Cơ bản)
Hạnh phúc của một tang gia
Ý nghĩa nhan đề:
-Hạnh phúc: Vui
sướng
-Tang gia: Đau buồn
->Tạo ra mâu thuẫn
-Niềm vui chung:
Cái chúc thư đi vào thời kỳ thực hành-Niềm vui riêng:
+Cụ cố Hồng: Khoe
sự già cả của mình+Ông Văn Minh:ra mắt trang phục của tiệm may Âu hóa+Cô Tuyết: Khoe sự trinh tiết
Cảnh đám tang:
-Hình thức:ta,tây,
tàu lẫn lộn-Người đưa đám: Khoảng 300 người,phần nhiều tân thời,có đủ trai thanh gái lịch đất
Hà Thành-Cảnh hạ huyệt:
Trang 11Nghệ thuật:
-Bút pháp châm biếm mãnh liệt,tạo nên một màn hài kịch phong phú,biến hóa-Kết hợp hai thủ pháp tương phản,đối lập với phóng đại cường điệu tạo nênnhững bức chân dung biếm họa đặc sắc
*Văn bản Chí Phèo của Nam Cao (Ngữ văn 11-Cơ bản)
Chí Phèo
Nhân vật Chí Phèo
- Quá trình tha hóa
Trước khi vào tù: Không cha
mẹ,nhà cửa,người thân…bị bỏ rơi
bên cái lò gạch bỏ không
Sau khi ra tù: Thay đổi cả nhân
-Giá trị nhân đạo:
+Đồng cảm,xót thương với nhân vật Chí Phèo
+Tố cáo xã hội thực dân phong kiến
+Khẳng định ngợi ca phẩm chất tốt đẹp của Chí Phèo
Nghệ thuật
-Nghệ thuật xây dựng và điển hình hóa nhân vật
-Nghệ thuật miêu tả và phân tích tâm lý nhân vật
-Ngôn ngữ sống động,giọng điệu phong phú,có sự đan xen nhiều loại ngôn ngữ-Cốt truyện hấp dẫn,kết cấu độc đáo,đầy kịch tính và biến hóa bất ngờ
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Qua việc tổ chức thực hiện củng cố bài học trong giờ học văn bản văn xuôichương trình SGK Ngữ văn 11-học kỳ 1 trong năm học 2015-2016 và 2016-2017 tôinhận thấy :
- Đa số học sinh nắm vững kiến thức cơ bản và vận dụng tốt vào việc làm phần đọc –hiểu theo yêu cầu đổi mới ra đề thi theo hướng phát triển năng lực của học sinh
- Đa số học sinh phát triển năng lực sáng tạo của bản thân.Trên cơ sở các sơ đồ củng cốbài học giáo viên đã cho học sinh có thể triển khai tiếp ở các văn bản khác
Kết quả cụ thể như sau :
Sau đây là bảng thống kê điểm bài kiểm tra học kỳ II trong hai năm học2015-2016 và 2016-2017 có sự so sánh đối chiếu giữa những lớp có sử dụng