Nếu nghị luận văn học giúp học sinh nâng cao năng lựccảm thụ tác phẩm văn học, đưa ra những ý kiến đánh giá về các vấn đề văn học để từ đó bồi đắp thế giới tâm hồn, tình cảm của mình thì
Trang 1I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nghị luận xã hội là một trong hai kiểu bài nghị luận trong bộ môn Ngữ Văn
ở nhà trường phổ thông Nếu nghị luận văn học giúp học sinh nâng cao năng lựccảm thụ tác phẩm văn học, đưa ra những ý kiến đánh giá về các vấn đề văn học
để từ đó bồi đắp thế giới tâm hồn, tình cảm của mình thì nghị luận xã hội lạigiúp học sinh khả năng đưa ra ý kiến, suy nghĩ của bản thân mình trước nhữnghiện tượng đời sống, trước các vấn đề xã hội, những tư tưởng đạo lý để từ đóhình thành ý thức công dân và nhân cách con người Chất lượng của việc dạy vàhọc làm văn nghị luận xã hội có ý nghĩa rất quan trọng đối với chất lượng giáodục đạo đức học sinh trong nhà trường Học sinh ngày nay phải đối mặt với rấtnhiều vấn đề của đời sống xã hội Sự phát triển của kinh tế, khoa học, công nghệdẫn đến những thay đổi về giá trị, quan điểm, lối sống, đạo đức Chính vì thế, đềvăn nghị luận xã hội cũng phải đề cập được những vấn đề mới mẻ, phức tạpthường xuyên xuất hiện trong đời sống nói chung và đời sống, tình cảm của họcsinh nói riêng để các em được bày tỏ suy nghĩ, quan niệm của mình Mỗi thờiđại, mỗi thế hệ thậm chí là mỗi ngày lại có những yêu cầu mới, nhiệm vụ mớitrong công tác giáo dục học sinh.(1)
Đầu năm học 2016- 2017 với những yêu cầu trong đổi mới và nâng caochất lượng giáo dục quốc gia toàn diện trong lộ trình đổi mới giáo dục Bộ giáodục và đào tạo đã thay đổi một số nội dung trong đề thi THPT Quốc gia mônNgữ Văn chuyển thời lượng từ 180 phút xuống còn 120 phút với cấu trúc 2 phầnĐọc – hiểu và Làm văn (nghị luận xã hội và nghị luận văn học) Câu nghị luận
xã hội chuyển từ yêu cầu viết bài văn thành đoạn văn 200 chữ Sự thay đổi này
là một thực tế yêu cầu phải có những nắm bắt kịp thời cả về phía người thầy cô
và học sinh dặc biệt là các em học sinh lớp 12 trong một khoảng thời gian ngắn
để đạt được kết quả tốt nhất khi làm bài thi Ngữ Văn trong kì thi THPT Quốcgia Việc thay đổi này đối với các em học sinh trong nhà trường đặc biệt là vớicác em học sinh khối 12 chuẩn bị bước vào kì thi cuối cấp, khiến các em gặpnhiều khó khăn trong quá trình học và làm bài Có không ít giáo viên dạy Ngữvăn và học sinh ngộ nhận đoạn văn là một bài văn ngắn, điều này dẫn tới kết quảlàm bài kiểm tra vẫn thấp Đề bài yêu cầu bàn luận đánh giá một vấn đề đặt ratrong phần đọc – hiểu Học sinh chỉ có thể làm tốt phần nghị luận xã hội sau khi
đã thông hiểu văn bản ở phần đọc hiểu và câu văn trích dẫn yêu cầu nghị luận.Cùng với đó thói quen viết bài nghị luận xã hội khiến các em mắc lỗi dàn trảitrong quá trình đi vào thực hành viết đoạn văn Để các em có thể nắm bắt vàthực hiện tốt với những thay đổi trong cấu trúc đề thi và làm tốt phần nghị luận
Trang 2xã hội tôi đã mạnh dạn đề xuất sáng kiến “Một số giải pháp giúp học sinh khối
12 làm tốt bài nghị luận xã hội viết đoạn văn 200 chữ trong đề thi THPT Quốc gia”
2 Mục đích nghiên cứu
Thứ nhất, sáng kiến nghiên cứu nhằm giúp các em nắm vững hệ thống kiếnthức lí thuyết và rèn luyện kĩ năng thực hành viết đoạn văn nghị luận xã hội, để
từ đó làm tốt bài thi THPT Quốc gia
Thứ hai, thông qua quá trình rèn luyện viết đoạn văn nghị luận xã hội giúphọc sinh nâng cao khả năng trình bày quan điểm của mình, cung cấp vốn tri thứcphong phú về các vấn đề xã hội để các em có thể nâng cao nhận thức và kĩ năngsống, sống tốt hơn, biết sống đẹp, hoàn thiện nhân cách của mình
Thứ ba, là giúp các giáo viên cung cấp tài liệu cho giáo viên ôn tập, luyệnthi phần nghị luận xã hội ở nhà trường THPT
3 Đối tượng nghiên cứu
Tập trung vào các kiểu bài nghị luận xã hội đã học và đặc biệt là chươngtrình lớp 12 với các dạng bài nghị luận về một hiện tượng đời sống và nghị luận
về một tư tưởng, đạo lí bám sát cấu trúc đề thi THPT Quốc gia
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và thực hiện nhiệm vụ mà đề tài đề ra chúng tôi sửdụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Phương pháp liệt kê
- Phương pháp thống kê phân loại
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp thực nghiệm
Trang 3II NỘI DUNG
1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo
cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”(1) Để thực hiện tốt mục
tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần
có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo địnhhướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương phápdạy học theo hướng này
Thực hiện nhiệm vụ đổi mới giáo dục phổ thông theo tinh thần Nghị quyết
29/NQ-TW, Bộ GD&ĐT đã “Đổi mới kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn trong trường phổ thông” nhằm kế hoạch triển khai việc đổi mới
phương thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn ở trường phổ thôngtheo định hướng phát triển năng lực người học với cách thức xây dựng đềthi/kiểm tra và đáp án theo hướng mở; tích hợp kiến thức liên môn; giải quyếtvấn đề thực tiễn
Để đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn và xu thế quốc tế, cần đổi mới kiểm trađánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn nói chung và nhất là ở cấp THPT, bởi nó
có tác động trực tiếp đến hai kì thi mang tầm quốc gia đối với học sinh: thi tốtnghiệp và thi tuyển sinh vào đại học, cao đẳng theo định hướng phát triển năng lựcngười học
Từ năm 2006, khi Bộ Giáo dục và Đào tạo thay sách giáo khoa môn Ngữ văn,nghị luận xã hội đã được chú trọng hơn trước đây Nhiều bài kiểm tra trong chươngtrình có nội dung là nghị luận xã hội Và từ năm 2008 – 2009 thì nghị luận xã hội đãđược đưa vào đề thi tốt nghiệp và đại học cao đẳng chiếm 30% điểm số bài thi Vậndụng kiến thức xã hội và đời sống để viết bài văn ngắn 400 chữ hoặc 600 chữ (đối vớihọc sinh Cao đẳng, Đại học) Các dạng đề nghị luận xã hội xuất hiện thường xuyên lànghị luận về một hiện tượng đời sống và nghị luận về một tư tưởng đạo lí Tuy nhiên
từ đầu năm học 2016- 2017 với những yêu cầu trong đổi mới và nâng cao chất lượnggiáo dục quốc gia toàn diện trong lộ trình đổi mới giáo dục Bộ giáo dục và đào tạo đãthay đổi một số nội dung trong đề thi THPT Quốc gia môn Ngữ Văn chuyển thời
Trang 4lượng từ 180 phút xuống còn 120 phút với cấu trúc 2 phần Đọc – hiểu và Làm văn(nghị luận xã hội và nghị luận văn học) Câu nghị luận xã hội chuyển từ yêu cầu viếtbài văn thành đoạn văn 200 chữ
2 Thực trạng vấn đề trước khi sử dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Thuận lợi
Nghị luận xã hội không còn là một vấn đề xa lạ với học sinh trong nhàtrường THPT nói chung và học sinh trường Đặng Thai Mai nói riêng Trongphân môn Làm văn đã có những thời lượng nhất định dành cho học sinh tìmhiểu và rèn luyện các kiểu bài nghị luận xã hội Ở các bài kiểm tra đánh giáthường xuyên và bài kiểm tra định kì cũng như các bài thi THPT Quốc gia họcsinh đã làm quen với dạng đề nghị luận xã khác nhau
Đối với giáo viên cùng với sự đổi mới phương pháp dạy và các thầy cô đã
có sự quan tâm và đầu tư cho dạng bài nghị luận xã hội để giúp các em học sinh
có thể nắm vững vấn đề và làm tốt kiểu bài nghị luận xã hội trong các bài thi, kìthi
2.2 Khó khăn
2.2.1 Về phía học sinh
Nhiều học sinh có thể làm tốt bài văn nghị luận văn học nhưng lại rất lúngtúng trước vấn đề nghị luận xã hội hoặc không hứng thú khi viết đoạn văn nghịluận xã hội, trong bài thi điểm số cho câu nghị luận xã hôi thường thấp Cónhiều lí do, tuy nhiên có thể khái quát mấy nguyên nhân sau:
Học sinh chưa nắm vững kĩ năng làm văn nghị luận xã hội, chưa biết vậndụng tổng hợp các thao tác lập luận trong quá trình viết bài Nhiều học sinhthậm chí còn chưa nhận diện, phân biệt được các dạng bài nghị luận xã hội.Thêm nữa bản thân học sinh chưa có thói quen thường xuyên tích lũy kiến thức
về những vấn đề cấp thiết mang tích thời sự và có ý nghĩa trong cuộc sống chonên không có kiến thức để lí giải tốt các vấn đề nghị luận xã hội
Dạng đề thi mới trong năm học 2016- 2017 đã thay đổi về cách ra đề Đềbài yêu cầu bàn luận / đánh giá về một vấn đề được đặt ra trong phần Đọc - hiểu
Có những đề yêu cầu dựa vào nội dung ở phần Đọc - hiểu, anh (chị) hãy viếtđoạn văn 200 chữ bàn về… Hoặc có những đề trích dẫn một câu văn và yêu cầuhọc sinh bàn luận,… Học sinh chỉ có thể làm tốt phần nghị luận xã hội khi đãhiểu thông điệp của văn bản ở đề đọc hiểu và câu văn được trích dẫn Trong khi
đó với nhiều học sinh việc thông hiểu hết nội dung đọc hiểu là điều không thểbởi có những hạn chế trong kĩ năng đọc hiểu một văn bản, điều này dẫn tới khókhăn khi các em viết phần nghị lận xã hội
Trang 5Hơn nữa câu nghị luận xã hội trong đề thi THPT Quốc gia bị giới hạn về
dung lượng Trước đây học sinh viết bài văn nghị luận, nhưng hiện nay chỉ cần viết đoạn văn 200 từ (200 chữ) Vì vậy thời lượng làm bài và biểu điểm bị rút
ngắn, rất nhiều em lâu nay các em đã định hình kĩ năng viết bài văn có độ dài
600 chữ, nhiều em nhẫm lẫn giữa đoạn văn và bài văn ngắn
2.2.2 Về phía giáo viên
Do thời lượng chương trình, số tiết học dành cho bài nghị luận xã hội còn ítnên giáo viên không đủ thời gian để tổng quan vấn đề và rèn luyện kĩ năng viếtđoạn cho học sinh Bản thân một số giáo viên cũng có sự nhầm lẫn giữa một bàivăn ngắn và đoạn văn
Điểm yếu 3,0 – 4,75
Điểm TB 5,0 – 6,75
Điểm khá 7,0 – 8,75
Điểm Giỏi 9,0 - 10
- Về hình thức bài văn gồm nhiều đoạn
văn dài ngắn khác nhau
- Về hình thức, đoạn văn bắt đầu từchữ viết hoa, lùi đầu dòng và kết thúc
là dấu chấm câu xuống dòng
- Về cấu trúc bài văn phải đảm bảo 3
phần: mở bài, thân bài và kết bài Phần
thân bài có thể gồm nhiều đoạn văn
khác nhau Các đoạn văn trong bài văn
đều cần có sự liên kết chặt chẽ với
nhau mỗi đoạn văn đều phải hướng
vào luận đề, làm rõ luận đề
- Cấu trúc đoạn văn đảm bảo 3 phầnliền mạch: mở đoạn, thân đoạn và kếtđoạn Các câu trong từng phần đượcliên kết chặt chẽ Các câu đều hướng
về làm rõ chủ đề của đoạn
- Trong bài văn học sinh có thể sử - Đoạn văn có thể trình bày theo nhiều
Trang 6dụng kết hợp với nhiều thao tác lập
luận như phân tích, so sánh, bác bỏ,
bình luận để làm rõ vấn đề nghị luận
kiểu: diễn dịch, quy nạp, tổng phânhợp, song hành hay móc xích, đoạnvăn so sánh, giải thích, tương phản, tự
sự, thuyết minh hay nghị luận…
3 2 Giúp học sinh nắm kiến thức cơ bản về kiểu văn nghị luận xã hội
Đây là những kiến thức cơ bản về kiểu bài văn ngị luận xã hội nói chunghọc sinh đã tiếp nhận giáo viên giúp học sinh lại trước khi chuyển sang viếtđoạn
3.2.1 Dàn ý kiểu nghị luận về tư tưởng đạo lí (2)
A Mở bài
- Dẫn dắt vào vấn đề cần nghị luận
- Nêu vấn đề cần nghị luận ra (trích dẫn)
B Thân bài
* Bước 1 Giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận
- Giải thích khái niệm, trên cơ sở đó giải thích ý nghĩa, nội dung vấn đề
- Giải thích nghĩa đen của từ ngữ, rồi suy luận ra nghĩa bóng, trên cơ sở đógiải thích ý nghĩa, nội dung vấn đề
- Giải thích mệnh đề, hình ảnh trong câu nói, trên cơ sở đó xác định nộidung, ý nghĩa của vấn đề mà câu nói đề cập
- Lưu ý : Tránh sa vào cắt nghĩa từ ngữ (theo nghĩa từ vựng)
* Bước 2: Phân tích và chứng minh những mặt đúng của tư tưởng, đạo lícần bàn luận
- Bản chất của thao tác này là giảng giải nghĩa lí của vấn đề được đặt ra đểlàm sáng tỏ tới cùng bản chất của vấn đề Phần này thực chất là trả lời câu hỏi:Tại sao? (Vì sao?) Vấn đề được biểu hiện như thế nào? Có thể lấy những dẫnchứng nào làm sáng tỏ?
* Bước 3: Bình luận, đánh giá (bàn bạc, mở rộng, đề xuất ý kiến…)
- Đánh giá vấn đề: Nêu ý nghĩa của vấn đề, mức độ đúng – sai, đóng góp –hạn chế của vấn đề
- Phê phán, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề đang bànluận
- Mở rộng vấn đề
* Bước 4: Rút bài học nhận thức và hành động
- Từ sự đánh giá trên, rút ra bài học kinh nghiệm trong cuộc sống cũng nhưtrong học tập, trong nhận thức cũng như trong tư tưởng, tình cảm, …(Thực chấttrả lời câu hỏi: từ vấn đề bàn luận, hiểu ra điều gì? Nhận ra vấn đề gì có ý nghĩađối với tâm hồn, lối sống bản thân? )
- Bài học hành động
Trang 7+ Đề xuất phương châm đúng đắn, phương hướng hành động cụ thể (Thựcchất trả lời câu hỏi: Phải làm gì? …)
- Giới thiệu hiện tượng đời sống cần nghị luận
- Xác định vấn đề đặt ra cần nghị luận trong hiện tượng
- Ảnh hưởng, tác động ( Hậu quả, tác hại của hiện tượng đời sống đó)
+ Ảnh hưởng, tác động - Hậu quả, tác hại đối với cộng đồng, xã hội (…)+ Hậu quả, tác hại đối với cá nhân mỗi người (…)
- Nguyên nhân: Nguyên nhân khách quan (…) và nguyên nhân chủ quan(…)
* Bước 3: Bình luận về hiện tượng (tốt/ xấu, đúng /sai )
- Khẳng định: ý nghĩa, bài học từ hiện tượng đời sống đã nghị luận
- Phê phán, bác bỏ một số quan niệm và nhận thức sai lầm có liên quan đếnhiện tượng bàn luận (…)
- Hiện tượng từ góc nhìn của thời hiện đại, từ hiện tượng nghĩ về nhữngvấn đề có ý nghĩa thời đại
* Bước 4: Đề xuất những giải pháp (Cần dựa vào nguyên nhân để tìm ranhững giải pháp khắc phục)
Trang 8- Những biện pháp tác động vào hiện tượng đời sống để ngăn chặn (nếugây ra hậu quả xấu) hoặc phát triển (nếu tác động tốt)
+ Đối với bản thân; Đối với địa phương, cơ quan chức năng; Đối với xãhội, đất nước; Đối với toàn cầu
C Kết bài:
- Tóm tắt, chốt lại vấn đề
- Rút ra bài học
3 3 Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn có độ dài 200 chữ theo yêu cầu của đề
3.3.1 Bước 1: Xác định và đáp ứng các yêu cầu đề
3.3.1.1 Xác định yêu cầu nội dung
Hiện nay theo xu hướng ra đề mới của Bộ GD&ĐT thì đề văn NLXH có sựtích hợp với phần Đọc – hiểu Vì vậy các em cần phải:
Thứ nhất: Phải xác định được Đề bài yêu cầu viết về vấn đề gì? (nội dungcủa đoạn văn) Đây là yêu cầu quan trọng nhất, đòi hỏi người viết phải bày tỏquan điểm cá nhân rõ ràng Cụ thể: Người viết hiểu vấn đề đó là gì (giải thích),tại sao lại nói như thế (phân tích)
Thứ hai: Cần phải có dẫn chứng thuyết phục bằng các ví dụ cụ thể trongđời sống
Thứ ba: Phải đánh giá và nêu thái độ của người viết trước vấn đề đang bànluận Cần nêu ra những bài học nhận thức sau khi bàn luận Từ đó, đề xuấtnhững giải pháp thiết thực và khả thi cho bản thân mình và tất cả mọi người Đối với dạng “đề nổi”, học sinh có thể dễ dàng nhận ra phạm vi nội dung
và phương pháp lập luận Đối với dạng đề chìm, học sinh phải tự mày mò hướng
NGƯỜI ĂN XIN
Một người ăn xin đã già Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông giàn giụa, đôi môi tái nhợt áo quần tả tơi Ông chìa tay xin tôi.
Tôi lục hết túi nọ đến túi kia, không có lấy một xu, không có cả khăn tay, chẳng có gì hết Ông vẫn đợi tôi Tôi chẳng biết làm thế nào Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tay nóng hổi của ông:
– Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả.
Trang 9Ông nhìn tôi chăm chăm đôi môi nở nụ cười:
Cháu ơi,cảm ơn cháu!Như vậy là cháu đã cho lão rồi.
Khi ấy tôi chợt hiểu ra: cả tôi nữa tôi cũng vừa nhận được một cái gì đó của ông.
(Theo Tuốc- ghê- nhép)
Với đề bài này, học sinh cần hiểu ý nghĩa câu chuyện, xác định vấn đề nghịluận và thao tác lập luận chủ yếu:
HS tự do bày tỏ cảm nhận của bản thân:
– Có thể HS trình bày về giá trị của tình yêu thương, sự đồng cảm trongcuộc sống
– Có thể HS trình bày bài học về một thái độ, cách ứng xử, ý thức cho vànhận của con người trong cuộc sống
– Có thể HS trình bày lời chia sẻ với những số phận bất hạnh…
Hoặc đôi khi đề bài trích dẫn 1 câu văn trong đề đọc hiểu và yêu cầu họcsinh viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ, ví dụ như đề thi minh họa của Bộ
GD (sẽ nói kĩ ở phần sau)
3.3.1.2 Xác định các yêu cầu hình thức trình bày đoạn văn
Thứ nhất: Đề bài yêu cầu viết đoạn văn 200 chữ, học sinh cần trình bàytrong 1 đoạn văn (không được ngắt xuống dòng), dung lượng an toàn khoảng2/3 tờ giấy thi (khoảng trên dưới 20 dòng viết tay), có thể nhiều hơn 1 vài dòngcũng không bị trừ điểm Đoạn văn cần diễn dạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả,dùng từ, đặt câu
Thứ hai: Đoạn văn phải đảm bảo bố cục ba phần: Đặt vấn đề – Giải quyếtvấn đề – Kết thúc vấn đề
Thứ ba: Đoạn văn sử dụng các thao tác lập luận: Giải thích – Phân tích –Chứng minh – Bình luận – Bác bỏ – Bình luận mở rộng Diễn đạt phải trongsáng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp
(Giáo viên có thể gợi ý để học sinh khá giỏi chọn kiểu đoạn văn nên chọnkiểu đoạn văn tổng phân hợp còn với những học sinh trung bình thì nên viếtđoạn diễn dịch sẽ đễ dàng hơn)
3.3.2 Bước 2: Tìm ý cho đoạn văn
– Xác định sẽ viết những nội dung cụ thể gì (ý chính)?
– Ghi ra giấy nháp những ý chính của đoạn văn (theo hệ thống các thao táclập luận)
– Việc tìm ý cho đoạn văn sẽ giúp ta hình dung được những ý chính cầnviết, tránh tình trạng viết lan man dài dòng, không trọng tâm
3.3 Xây dựng các phần cho đoạn văn
Trang 10a Mở đoạn
- Nhiệm vụ: Câu mở đoạn là câu nêu chủ đề, giới thiệu khái quát chủ đềcủa đoạn văn
- Yêu cầu:
+ Phải hiểu được đề thi bàn về vấn đề gì?
+ Câu mở đoạn phải xuất hiện từ hoặc cụm từ chìa khóa được nêu trongphần yêu cầu đề; hoặc trích dẫn ý kiến, nhận định mà đề nêu (nếu có)
- Định hướng:
+ Khoảng 2 dòng
+ Nên viết theo hướng: nêu nội dung khái quát rồi dẫn câu nói vào (hoặckhông dẫn nguyên câu thì trích vào cụm từ khóa)
+ Ví dụ theo đề thi minh họa lần 1 của Bộ:
“Thành công luôn là khao khát của mỗi con người trên hành trình chinh phục những ước mơ và khát vọng – nhưng khi lên đến đỉnh của thành công, điều quan trọng nhất vẫn là để “ngắm nhìn thế giới” chứ không phải là để cho ai đó nhận ra mình”
+ Giải thích: giải thích cụm từ khóa, giải thích nghĩa cả câu (ngắn gọn, đơn
giản, khái quát; bỏ qua khâu giải thích nghĩa đen, nghĩa gốc, nghĩa tường minh)
c Kết đoạn
Trang 11- Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị
luận( Tùy theo khả năng của từng học
sinh viết, có thể khoảng 1/3 trang
giấy)
- Thân bài: Triến khai theo cấu trúc
của dạng bài nghị luận về một tư tưởng
đạo lí hay nghị luận về một hiện tượng
đời sống hoặc vấn đề xã hội đặt ra
trong tác phẩm văn học Có thể viết
thành nhiều đoạn khác nhau, vận dụng
+ Bác bỏ (Hiện tượng trái ngược cầnphê phán là gì?)
– Câu kết đoạn: Rút ra bài học (Bản thân
và mọi người cần phải làm gì?) (2 – 4dòng)
Lưu ý :
- Đối với kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống, đôi khi đề bàikhông yêu cầu trình bày toàn bộ hiện tượng vấn đề, có đề chỉ yêu cầu viết đoạngiải thích hoặc có đề chỉ yêu cầu nêu nguyên nhân hiện tượng có đề lại chỉ yêucầu nêu giải pháp hoặc hiện trạng của hiện tượng Nhưng bản chất của đề bàivẫn là một vấn đề về một hiện tượng xã hội, nên cấu trúc của nó vẫn là các đơn
vị kiến thức về một hiện tượng xã hội Tùy từng yêu cầu của đề mà chúng ta viếtđậm hay nông từng đơn vị kiến thức, có vậy bài viết mới chỉn chu và tăng sứcthuyết phục
- Trong đoạn văn nghị luận xã hội, bên cạnh việc cắt nghĩa, lí giải, đánh giávấn đề là điều cần thiết thì khâu chứng minh cũng rất quan trọng Để đoạn văn nghị