1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Một số giải pháp dạy học văn bản nghị luận hiện đại trong chương trình ngữ văn 12

24 347 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 230,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực tế giảng dạy, từ tầm quan trọng của việc dạy học VBNL, tôi xin trình bày đề tài: “Một số giải pháp dạy học văn bản nghị luận hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12”, vớ

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT THỌ XUÂN 5

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP DẠY HỌC VĂN BẢN NGHỊ LUẬN HIỆN ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12

Người thực hiện: Vũ Thị Hương Chức vụ: Giáo viên – TT Chuyên môn SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ Văn

THANH HOÁ, NĂM 2017

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

1 PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.1 Lí do chọn đề tài ………….……… …… 1

1.2 Mục đích nghiên cứu ………….……… …… 1

1.3 Đối tượng nghiên cứu………….……… 1

1.4 Phương pháp nghiên cứu………….……… 1

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ……… 2

2.1 Cơ sở lý luận của đề tài ……… 2

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 2

2.2.1 Khảo sát nội dung, chương trình SGK Ngữ văn THPT hiện hành……… 7

2.2.2 Khảo sát hoạt động dạy VBNL của GV trong giờ học chính khoá 8

2.2.2.1 Giáo viên với việc dạy VBNL theo đặc trưng loại thể 9

2.2.2.2 Giáo viên với việc dạy học theo định hướng PTNL HS… 10

2.2.2.3 Giáo viên với việc tổ chức giờ học VBNL 11

2.2.3 Khảo sát thực tiễn việc học VBNL của học sinh ……… 11

2.2.3.1 Học sinh với việc đọc hiểu tác phẩm nghị luận …… 11

2.2.3.2 Trình độ hiểu biết của HS về VBNL……… 7

2.2.3.3 Những khó khăn và nguyện vọng của HS trong quá trình tiếp nhận VBNL ……… 7

2.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học VBNL trong chương trình Ngữ Văn 12 ………

8 2.3.1 Hình thành và bồi dưỡng kĩ năng đọc hiểu văn bản nghị luận cho học sinh……… 10

2.3.2 Sử dụng linh hoạt các dạng câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS trong dạy học VBNL……… 10

2.3.3 Khơi dậy hứng thú học tập của HS trong quá trình tiếp nhận VBNL 11 2.3.3.1 Tái hiện sinh động không khí lịch sử, thời đại, tình huống tạo nên tác phẩm………

11 2.3.3.2 Gia tăng chất “văn học” để giảm bớt tinh chất “lí luận khô khan, giáo huấn” của các văn bản nghị luận………

12 2.3.3.3 Phân tích được cái hay cái đẹp trong nghệ thuật lập luận của mỗi tác giả, tác phẩm………

12 2.3.3.4 Phân tích vẻ đẹp ngôn từ của văn nghị luận ……… 12

2.3.3.5 Sử dụng các phương tiện dạy học nhằm kích thích niềm say mê và khả năng sáng tạo của HS………

13 2.4 Hiệu quả của đề tài ……… 14

2.4.1 Hiệu quả đối với hoạt động giáo dục học sinh……… 14

2.4.2 Hiệu quả đối với bản thân, đồng nghiệp, nhà trường……… 14

3 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 18

3.1 Kết luận 18

3.2 Những kiến nghị, đề xuất 18

Trang 3

QUY ƯỚC VỀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNTT : Công nghệ thông tin

GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo

ĐC : Đối chứng

TN : Thực nghiệm

NXB : Nhà xuất bản

Trang 4

1 PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài

Là một trong những môn học có vị trí và tầm quan trọng số một ở nhàtrường phổ thông, ngoài chức năng công cụ, môn Ngữ văn còn góp phần rất lớnhình thành và phát triển các năng lực chung cũng như góp phần bồi dưỡng tưtưởng, tình cảm và các phẩm chất cao đẹp của người học Chính vì thế không cóbất cứ nước nào coi nhẹ chương trình môn học này Tuy vậy, làm thế nào đểmôn học Ngữ văn xứng đáng với vị trí và tầm quan trọng của nó thực sự là mộtthách thức lớn mà vai trò quyết định thuộc về các nhà giáo, các tác giả xâydựng chương trình và biên soạn sách giáo khoa

Một trong những điểm mới của Chương trình, SGK Ngữ văn THPT hiệnnay: văn bản nghị luận(VBNL) chiếm một vị trí quan trọng Đề tài của VBNLnói chung và VBNL trong SGK THPT nói riêng rất phong phú, đa dạng, đề cậpđến những vấn đề thời sự quan trọng về chính trị, văn hoá, xã hội của đấtnước, cộng đồng Sự phong phú, đa dạng; tính cập nhật của đề tài nghị luậntrong chương trình Ngữ văn phổ thông đã thể hiện rõ quan điểm dạy học văngắn với thực tế đời sống, rút ngắn khoảng cách giữa văn học nhà trường và đờisống xã hội Vì vậy, dạy học VBNL có tác dụng rất lớn trong việc bồi dưỡngcho HS ý thức trách nhiệm đối với cuộc sống; nâng cao nhận thức, hiểu biết vềnhững vấn đề chính trị, xã hội, văn hoá Với mục tiêu chủ yếu: hình thành và rènluyện cho HS năng lực đọc hiểu cũng như tạo lập các loại văn bản, chương trìnhNgữ văn THPT lựa chọn văn bản tác phẩm theo thể loại và tổ chức dạy học theođặc trưng thể loại Với đặc trưng riêng của mình, VBNL đòi hỏi phải có cáchtiếp cận riêng, theo đúng đặc trưng loại thể Những VBNL được đưa vào chươngtrình Ngữ văn 12 đều là VBNL hiện đại Ngoài những đặc điểm chung của vănnghị luận, VBNL hiện đại còn mang đặc trưng riêng về mục đích, chức năng,kết cấu Như vậy, hướng khai thác và tổ chức dạy học sẽ có những nét khác biệt

so với VBNL trung đại [1]

Qua thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy việc dạy học VBNL còn nhiềuđiểm bất cập Nhiều HS không thích học VBNL vì: VBNL vừa khô, vừa khóhiểu Trạng thái tâm lí đó khiến giờ học nặng nề, tẻ nhạt, ít hứng thú Về phía

GV, một số còn ngại dạy, thậm chí tỏ ra lúng túng khi dạy VBNL do chưa nắmchắc đặc trưng, chưa xuất phát từ những đặc trưng của VBNL để khai thác mộtcách thấu đáo những đặc sắc về nội dung và hình thức của VBNL, chưa cảmnhận hết vẻ đẹp, chưa thấy được vai trò quan trọng của áng văn nghị luận trongviệc rèn luyện kĩ năng lập luận, giáo dục nhân cách cho HS Khó khăn đặt rakhông chỉ với việc phát huy tính tích cực học tập, với quá trình tiếp nhận VBNLcủa HS mà với cả quá trình dạy VBNL của GV Rõ ràng, việc dạy học VBNLkhông hề đơn giản Dạy học VBNL như thế nào để đảm bảo đúng đặc trưng loạithể, khơi dậy hứng thú học tập của HS, qua đó giáo dục, rèn luyện khả năng tưduy, kĩ năng làm văn nghị luận cho HS Đó là điều trăn trở của nhiều GV dạyNgữ văn Xuất phát từ thực tế giảng dạy, từ tầm quan trọng của việc dạy học

VBNL, tôi xin trình bày đề tài: “Một số giải pháp dạy học văn bản nghị luận

hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12”, với mong muốn đóng góp một phần

nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả dạy học VBNL trong chương trình Ngữ văn 12

Trang 5

1.2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng và đưa ra một số giải pháp dạy học văn bản nghị luậnhiện đại trong chương trình Ngữ văn 12, từ đó góp phần nâng cao chất lượngdạy học môn Ngữ Văn ở Trường THPT Thọ Xuân 5 nói riêng và ở cấp họcTHPT nói chung

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Một số giải pháp dạy học văn bản nghị luận hiện đại trong chương trìnhNgữ văn 12 và kinh nghiệm ở một tiết dạy cụ thể áp dụng cho một đối tượng cụthể là học sinh trường THPT Thọ Xuân 5 - Thọ Xuân

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi vận dụng các phương phápnghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Phương pháp này được tiến hành trên

cơ sở tìm hiểu thu thập nghiên cứu phân tích những thành tựu về lí thuyết đã có

để làm tiền đề cho giả thuyết khoa học mà mình đặt ra

- Phương pháp điều tra khảo sát: Với phương pháp này, chúng tôi chọn đốitượng khảo sát là học sinh lớp 12 trường THPT Thọ Xuân 5

- Phương pháp thực nghiệm: Chúng tôi tiến hành thực nghiệm đối với HSlớp 12 THPT Thọ Xuân 5

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 Cơ sở lí luận của đề tài

Những vấn đề cơ bản về VBNL như đã trình bày ở phần trên giúp chúng takhẳng định rằng nghị luận là loại văn có những giá trị, đặc sắc và công dụngriêng “Có thể nói cả một truyền thống tư tưởng, lí thuyết phong phú của nhânloại xưa nay đều nhờ có văn nghị luận mà được hình thành và lưu truyền Thiếunăng lực nghị luận, trí tuệ con người không được đào tạo toàn diện”…[2] SGK Ngữ văn THPT được biên soạn theo quan điểm tích hợp, hướng tới mụctiêu chung: hình thành và rèn luyện cho HS năng lực đọc hiểu cũng như tạo lậpcác loại văn bản Tuy nhiên do đặc thù về kiến thức và kĩ năng, mỗi phân môn:Văn (Đọc - hiểu văn bản), Tiếng Việt, Tập làm văn vẫn phải nhằm thực hiệnnhững mục tiêu riêng.Trong quá trình dạy học, GV phải luôn ý thức rõ ràng ranhgiới mục tiêu; các phương pháp, biện pháp, cách thức tổ chức dạy học đặc thùcủa phân môn Văn so với phân môn Làm văn về văn nghị luận Như vậy, sẽtránh được sự chồng chéo, giẫm đạp lên nhau ở hai phân môn và để giờ đọc -hiểu văn bản nghị luận không trở nên quá khô khan, nặng nề đối với HS

Trong thực tế dạy học văn ở trường phổ thông, vấn đề loại thể văn học được

đặt ra không chỉ như một vấn đề tri thức mà chủ yếu còn là vấn đề phương pháp.Tác phẩm nào cũng tồn tại trong một hình thức thể loại nhất định và thể loại làphạm trù về chỉnh thể tác phẩm Tác giả sáng tác theo thể loại thì độc giả phảiđọc và cảm nhận theo đặc trưng loại thể Việc dạy và học một tác phẩm vănchương phải tôn trọng đặc trưng ấy của tác phẩm Nếu không ý thức được sựkhác biệt thể loại thì đọc một bài thơ trữ tình mà lại tập trung phân tích cốttruyện, nhân vật là điều hoàn toàn có thể xảy ra Như vậy, việc dạy học tác phẩmvăn chương theo đặc trưng loại thể là một yêu cầu không thể thiếu đối với GVNgữ văn Khi đến với một VBNL, GV có thể dẫn dắt HS theo trình tự sau:

Trang 6

- Trước hết cho HS bước đầu tiếp xúc với văn bản để có một cái nhìn tổngquát về văn bản đó Ở bước này cần giúp HS xác định được: vấn đề nghị luận,

bố cục, luận điểm chính của mỗi phần và các thao tác lập luận được sử dụng

- Sau khi đã có cái nhìn tổng quát về toàn bộ văn bản, HS sẽ tìm hiểu vănbản qua nội dung và hình thức Tuỳ đặc điểm riêng của từng văn bản mà chọncách tìm hiểu phù hợp Nếu văn bản đó có bố cục rõ ràng gồm ba phần: Đặt vấn

đề, Giải quyết vấn đề và Kết thúc vấn đề thì dẫn dắt HS tìm hiểu văn bản đótheo các phần như trên Nếu văn bản đó chỉ là một đoạn trích ở một văn bảnlớn, không có bố cục thông thường của một văn bản nghị luận, thì GV hướngdẫn các em tìm hiểu từng luận điểm chính được nêu ra và cách giải quyết vấn đề

ở đó Hệ thống câu hỏi mà HS phải tìm lời giải ở bước này phụ thuộc vào nộidung và nghệ thuật nghị luận ở từng văn bản

- Cuối cùng, khắc sâu ấn tượng của HS về văn bản bằng việc tổ chức, khơigợi HS trao đổi, bàn luận thêm về vấn đề được tác giả nêu ra, giải quyết trongvăn bản và nghệ thuật nghị luận mà các em có thể học tập để làm văn nghị luận

Ngoài ra, khi dạy VBNL, giáo viên phải dạy học theo định hướng phát triển

năng lực học sinh Các năng lực mà môn học Ngữ văn hướng đến bao gồm:

- Năng lực giải quyết vấn đề: đây là một năng lực chung, thể hiện khả năng

của mỗi người trong việc nhận thức, khám phá được những tình huống có vấn đềtrong học tập và cuộc sống mà không có định hướng trước về kết quả, và tìm cácgiải pháp để giải quyết những vấn đề đặt ra trong tình huống đó, qua đó thể hiệnkhả năng tư duy, hợp tác trong việc lựa chọn và quyết định giải pháp tối ưu[3] Với môn học Ngữ văn, năng lực này cũng cần được hướng đến khi triểnkhai các nội dung dạy học của bộ môn, do tính ứng dụng thực tiễn và quy trìnhhình thành năng lực có thể gắn với các bối cảnh học tập (tiếp nhận và tạo lậpvăn bản) của môn học, khi nảy sinh những tình huống có vấn đề Với một số nộidung dạy học trong môn Ngữ văn như: xây dựng kế hoạch cho một hoạt độngtập thể, tiếp nhận một thể loại văn học mới, viết một kiểu loại văn bản, lí giảicác hiện tượng đời sống được thể hiện qua văn bản, thể hiện quan điểm của cánhân khi đánh giá các hiện tượng văn học,… quá trình học tập các nội dung trên

là quá trình giải quyết vấn đề theo quy trình đã xác định Quá trình giải quyếtvấn đề trong môn Ngữ văn có thể được vận dụng trong một tình huống dạy học

cụ thể hoặc trong một chủ đề dạy học

- Năng lực sáng tạo: Năng lực này được hiểu là sự thể hiện khả năng của

học sinh trong việc suy nghĩ và tìm tòi, phát hiện những ý tưởng mới nảy sinhtrong học tập và cuộc sống, từ đó đề xuất được các giải pháp mới một cách thiếtthực, hiệu quả để thực hiện ý tưởng Trong việc đề xuất và thực hiện ý tưởng,học sinh bộc lộ óc tò mò, niềm say mê tìm hiểu khám phá [3]

Việc hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cũng là một mục tiêu màmôn học Ngữ văn hướng tới Năng lực này được thể hiện trong việc xác địnhcác tình huống và những ý tưởng, đặc biệt những ý tưởng được gửi gắm trongcác văn bản văn học, trong việc tìm hiểu, xem xét các sự vật, hiện tượng từnhững góc nhìn khác nhau, trong cách trình bày quá trình suy nghĩ và cảm xúccủa HS trước một vẻ đẹp, một giá trị của cuộc sống Năng lực suy nghĩ sáng tạobộc lộ thái độ đam mê và khát khao được tìm hiểu của HS, không suy nghĩ theo

Trang 7

lối mòn, theo công thức Trong các giờ đọc hiểu văn bản, một trong những yêucầu cao là HS, với tư cách là người đọc, phải trở thành người đồng sáng tạo vớitác phẩm (khi có được những cách cảm nhận riêng, độc đáo về nhân vật, về hìnhảnh, ngôn từ của tác phẩm; có cách trình bày, diễn đạt giàu sắc thái cá nhântrước một vấn đề,…)

- Năng lực hợp tác: Học hợp tác là hình thức học sinh làm việc cùng nhau

trong nhóm nhỏ để hoàn thành công việc chung và các thành viên trong nhóm cóquan hệ phụ thuộc lẫn nhau, giúp đỡ nhau để giải quyết các vấn đề khó khăn củanhau Khi làm việc cùng nhau, học sinh học cách làm việc chung, cho và nhận

sự giúp đỡ, lắng nghe người khác, hoà giải bất đồng và giải quyết vấn đề theohướng dân chủ Đây là hình thức học tập giúp học sinh ở mọi cấp học phát triển

cả về quan hệ xã hội lẫn thành tích học tập[3]

Trong môn học Ngữ văn, năng lực hợp tác thể hiện ở việc HS cùng chia sẻ,phối hợp với nhau trong các hoạt động học tập qua việc thực hiện các nhiệm vụhọc tập diễn ra trong giờ học Thông qua các hoạt động nhóm, cặp, học sinh thểhiện những suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về những vấn đề đặt ra, đồng thờilắng nghe những ý kiến trao đổi thảo luận của nhóm để tự điều chỉnh cá nhânmình Đây là những yếu tố rất quan trọng góp phần hình thành nhân cách củangười học sinh trong bối cảnh mới

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Từ những tiền đề lí luận đã nêu ở phần trên, chúng tôi tiến hành khảo sáttình hình dạy học VBNL ở lớp 12 THPT Thọ Xuân 5

* Nội dung khảo sát: gồm 3 vấn đề

Vấn đề thứ nhất: Khảo sát nội dung, CT - SGK

Vấn đề thứ hai: Khảo sát hoạt động dạy VBNL của GV

Vấn đề thứ ba: Khảo sát hoạt động tiếp nhận VBNL của HS lớp 12 THPT

* Phương pháp khảo sát

- Chúng tôi tiên hành dự giờ thăm lớp để trực tiếp nắm bắt được thực tế củaviệc dạy và học TPNL hiện đại Từ việc định hướng, xác định nội dung bài dạy,việc tổ chức giờ dạy của GV đến hoạt động học tập của HS dưới sự tổ chức, dẫndắt của GV và kết quả đạt được của giờ dạy nói chung

- Gặp gỡ, trao đổi với GV và HS để nắm được tình hình, tâm tư, nguyệnvọng của họ trong quá trình dạy học TPNL

- Phát phiếu điều tra để nắm được hiệu quả tiếp nhận của HS trong giờhọc TPNL

- Trưng cầu ý kiến của GV dạy Ngữ văn nhằm tìm hiểu phương pháp vàkinh nghiệm của GV trong quá trình dạy học TPNL

2.2.1 Khảo sát nội dung, chương trình SGK Ngữ văn THPT hiện hành

Để có cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất nội dung dạy học các văn bản NLhiện đại trong chương trình ngữ văn 12 chúng tôi tiến hành khảo sát nội dung,chương trình SGK Ngữ văn THPT hiện hành Bởi SGK THPT được biên soạntheo nguyên tắc đồng tâm, nâng cao Riêng với văn bản nghị luận ở phần Vănhọc, HS đã được làm quen từ lớp 7 THCS và được tiếp tục học ở lớp 8 và lớp 9với các văn bản NL trung đại và hiện đại Lên cấp THPT, các VBNL được học

Trang 8

ngày càng phong phú hơn, thiết thực và gần gũi với cuộc sống, có cả nghị luậntrung đại, nghị luận hiện đại và nghị luận nước ngoài Cụ thể:

* Lớp 10: HS được học các VBNL trung đại ở các thể loại

- Đại cáo bình Ngô - Nguyễn Trãi

- Tựa “Trích diễm thi tập” - Hoàng Đức Lương –

- Hiền tài là nguyên khí của quốc gia (Thân Nhân Trung)

* Lớp 11: HS tiếp tục học các TPNL trung đại và học thêm TPNL hiện đại

và nước ngoài

- Chiếu cầu hiền (Ngô Thì Nhậm),

- Xin lập khoa luật (Nguyễn Trường Tộ )

- Về luân lí xã hội ở nước ta ( Phan Châu Trinh)

- Tiếng mẹ đẻ - nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức (Nguyễn An Ninh)

- Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác ( Ăng- ghen)

- Một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh - Hoài Chân)

* Lớp 12: HS chủ yếu học TPNL hiện đại

- Tuyên ngôn độc lập ( Hồ Chí Minh)

- Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc ( PhạmVăn Đồng )

- Mấy ý nghĩ về thơ ( Nguyễn Đình Thi )

- Đô-xtôi-ép-xki ( X.Xvai-gơ )

- Những ngày đầu của nước Việt Nam mới ( Võ Nguyên Giáp )

- Nhìn về vốn văn hóa dân tộc (Trần Đình Hượu )

Có thể khẳng định VBNL chiếm một vị trí khá quan trọng trong chươngtrình Ngữ văn THPT Đề tài của các TPNL này rất gần gũi với các em HS Từ

đề tài về chiến tranh, hoà bình, chủ quyền độc lập của quốc gia đến việc bảo tồn,gìn giữ và phát huy truyền thống, bản sắc văn hoá của dân tộc; từ vai trò, vị trí, ýnghĩa đến đặc trưng nghệ thuật của văn chương; từ nhà văn trong nước đến nhàvăn nước ngoài Điều này đã thể hiện rõ quan điểm dạy học văn gắn với đờisống thực tế, rút ngắn khoảng cách giữa văn học nhà trường và đời sống xã hội;nâng cao hiểu biết về văn hoá, xã hội nói chung cho HS Trong các giờ họcVBNL, GV không chỉ tổ chức giờ học tốt, có phương pháp phù hợp để HS hiểucái hay, cái đẹp của TPNL mà cần phải bồi dưỡng HS ý thức trách nhiệm vớiđời sống, nâng cao nhận thức, hiểu biết về những vấn đề chính trị, xã hội, vănhoá đồng thời rèn luyện cho HS khả năng ứng xử nhanh nhạy trước những vấn

đề phức tạp đang đặt ra trong cuộc sống; phát triển tư duy lôgic, tư duy sáng tạocho HS Như vậy, nhiệm vụ của người GV khi dạy VBNL không nhẹ nhàngchút nào GV cần suy nghĩ, lựa chọn và luôn luôn sáng tạo trong suốt quá trìnhgiảng dạy để góp phần nâng cao hiệu quả việc dạy và học VBNL

2.2.2 Khảo sát hoạt động dạy VBNL của GV trong giờ học chính khoá

Ở phần này, chúng tôi tập trung khảo sát hoạt động của GV để làm nổi bật

ba vấn đề:

- GV với việc dạy VBNL theo đặc trưng loại thể

- GV với việc định hướng tích hợp cho bài dạy

- GV với việc tổ chức giờ học VBNL

Trang 9

Để nắm bắt tình hình dạy VBNL theo đặc trưng loại thể, chúng tôi trựctiếp trao đổi về phương pháp dạy học, tham khảo giáo án và dự giờ thăm lớp.Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy: nhìn chung các thầy cô giáo đều say mê,nhiệt tình giảng dạy, luôn chủ động tìm tòi soạn giảng, cách thức tổ chức dạyhọc để giờ học đạt hiệu quả cao Đối với giờ học VBNL, các thầy cô đều cóchung một nhận định : văn nghị luận chiếm một vị trí quan trọng trong chươngtrình Nếu khai thác đúng hướng và sâu sắc những giá trị nội dung tư tưởng vànghệ thuật của các VBNL sẽ có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục tư tưởng,nhận thức, quan điểm, thái độ sống tích cực đối với cuộc sống cho HS Đồngthời giúp các em học hỏi được kinh nghiệm viết văn nghị luận Đó là cách trìnhbày hệ thống luận điểm, luận cứ sao cho khoa học, thuyết phục Đó là kĩ năngvận dụng các phương thức biểu đạt, vận dụng kết hợp các thao tác lập luận Quảthật, văn nghị luận rất thiết thực với các em HS Nhưng trên thực tế, việc dạyVBNL còn gặp rất nhiều khó khăn Khó khăn đầu tiên mà 80% các thầy cô nêu

ra là HS ít hứng thú với việc học VBNL do VBNL vừa khô, vừa khó hiểu Trạngthái tâm lí đó khiến các em ngại đọc hiểu, ngại soạn bài hoặc chuẩn bị bài theokiểu chống đối bằng cách chép tài liệu Một trong những yêu cầu của việc đổimới phương pháp dạy học: HS là trung tâm của quá trình dạy học, HS phải thực

sự làm chủ quá trình tiếp nhận văn bản, GV chỉ đóng vai trò người tổ chức, dẫndắt HS tìm hiểu văn bản Muốn thực hiện yêu cầu đó, HS phải có hứng thú vớivăn bản nghị luận đó Nếu không có lòng say mê, không có hứng thú thì sự tiếpthu bài học của HS với TPNL là rất hạn chế GV có đầu tư bài dạy, có đổi mớiphương pháp đến mấy thì giờ học cũng không thể có kết quả cao Những khókhăn tiếp theo các thầy cô đưa ra là: Một số văn bản nghị luận trong chươngtrình đề cập đến những vấn đề chưa phù hợp với tâm lí, nhận thức của HS Thờilượng giành cho đọc hiểu văn bản nghị luận còn quá ít Thường là mỗi văn bảnchỉ được tìm hiểu trong một tiết Thậm chí, một tiết học phải hướng dẫn HS tìmhiểu 2 văn bản nghị luận dài và khó (“Mấy ý nghĩ về thơ” và “Đô-xtôi-ép-xki”).Hơn nữa kĩ năng đọc hiểu văn bản của HS rất hạn chế đặc biệt là văn bản nghịluận – văn bản vừa khô vừa khó hiểu đối với HS Những khó khăn đó đã ảnhhưởng không nhỏ đến hiệu quả của giờ đọc hiểu văn bản nghị luận Chúng tôitiến hành khảo sát, cụ thể:

2.2.2.1 Giáo viên với việc dạy VBNL theo đặc trưng loại thể

Dạy học theo đặc trưng loại thể, đó là điểm mới thứ tư trong mười nội

dung đổi mới của chương trình Ngữ văn THPT Trong cuốn Ngữ văn 12 –

những vấn đề thể loại và lịch sử văn học, các tác giả Lê Huy Bắc, Phan Huy

Dũng đã khẳng định : “Chương trình mới lựa chọn văn bản tác phẩm theo thểloại và tổ chức dạy học theo đặc trưng thể loại Chương trình vẫn dựa vào tiếntrình lịch sử văn học dân tộc và thế giới, nhưng ở mỗi giai đoạn (thời kì) sẽ lựachọn ra các thể loại tác phẩm văn học tiêu biểu để làm văn bản mẫu cho việc dạyđọc hiểu ” [1] Rõ ràng, việc dạy học theo đặc trưng loại thể không phải là việcnói rồi để đấy mà là yêu cầu bắt buộc đối với GV

Chúng tôi tiến hành dự giờ và tham khảo giáo án của GV và nhận thấy:25/30 GV (chiếm tỉ lệ 83,3%) đều khai thác văn bản theo đúng đặc trưng loại

Trang 10

thể văn nghị luận: phân tích hệ thống luận điểm, luận cứ trong mối quan hệ vớiluận đề, và tìm hiểu nghệ thuật (nghị luận và diễn đạt) của tác phẩm

Ở các giờ dạy GV thường khai thác nghệ thuật nghị luận song song vớiquá trình khai thác hệ thống luận điểm, luận cứ của văn bản Song cũng có giờdạy, nghệ thuật nghị luận được khai thác riêng, sau khi đã khai thác nội dungcủa văn bản Có được kết quả như vậy, bởi các thầy cô luôn bám sát vào mụctiêu của chương trình SGK Ngữ văn THPT, thực hiện tốt qui chế chuyên môn

mà Bộ giáo dục đã ban hành, luôn có ý thức đổi mới phương pháp dạy học đểđạt hiệu quả cao trong giảng dạy Nhiều GV đầu tư thời gian soạn bài chu đáo,

sử dụng thiết bị dạy học đạt hiệu quả giảng dạy cao, gây được ấn tượng, pháthuy tính tích cực, chủ động của HS chúng tôi nhận thấy: để dạy cho đúng đặctrưng loại thể, GV phải nắm chắc những đặc trưng của từng thể loại, hiểu sâu, cókiến thức chắc chắn về văn bản mình đang dạy Bởi lẽ, nếu GV còn mù mờ vềmặt kiến thức thì không thể dạy cho đúng đặc trưng loại thể, không thể dạy chohay, cho hiệu quả cao ở giờ học đó Mỗi GV cũng cần phải nhận thấy không thểhạn chế cách tiếp cận VBNL chỉ ở góc độ kết cấu, thể loại Song, với một giờđọc hiểu trên lớp, với khả năng tư duy lôgic, tư duy trừu tượng còn hạn chế ở

HS phổ thông; với mục đích tích hợp thì việc nhấn mạnh đến hướng tiếp cậntheo đặc trưng kết cấu thể loại là rất cần thiết Bên cạnh những giờ dạy tốt,chúng tôi nhận thấy vẫn còn một số giờ dạy chưa bám sát đặc trưng loại thể củavăn nghị luận Giờ dạy vì thế mà tẻ nhạt, chưa làm sáng bật được vấn đề tác giảnghị luận, theo đó vẻ đẹp của nghệ thuật nghị luận cũng khai thác rất sơ sài.Hoặc có GV lại làm phức tạp hoá vấn đề khiến HS càng khó hiểu, tạo không khínặng nề cho giờ học Chúng tôi cũng nhận thấy, ngay cả ở những giờ GV dạytheo đúng đặc trưng loại thể song hiệu quả cũng chưa được như mong muốn.Hứng thú HS chưa cao, giờ học VBNL có phần nào vẫn kém sôi nổi hơn các giờhọc thể loại khác Đó là một thực tế và cần có những công trình nghiên cứu đểnâng cao hiệu quả giờ học VBNL

2.2.2.2 Giáo viên với việc dạy học theo định hướng PTNL HS

Trong thực tế giảng dạy của bản thân và việc dự giờ đồng nghiệp, chúng tôithấy việc dạy – học các văn bản văn học nói chung, văn bản nghị luận nói riêngtrong chương trình tại các trường THPT chưa thật sự phát huy và khơi dậy tối đacác năng lực của học sinh Điều đó, thể hiện ở những tồn tại sau:

- Dạy học đọc – hiểu chủ yếu vẫn theo hướng truyền thụ một chiều những

cảm nhận của giáo viên về văn bản, chưa hướng tới việc cung cấp cho HS cáchđọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề về nội dung và nghệ thuật của vănbản Dạy học chú trọng đến cung cấp kiến thức hơn là hình thành kỹ năng

- Dạy học tích hợp đã được chú trọng trong những năm học gần đây và

cũng đã đạt được một số kết quả bước đầu Tuy nhiên, dạy học tích hợp vẫnmang tính khiên cưỡng, thiếu tự nhiên, tức là giáo viên thường áp đặt những nộidung tích hợp vào bài học một cách lộ liễu Chưa phát huy học sinh huy độngkiến thức, kỹ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực… để giải quyết các nhiệm

vụ học tập Chủ yếu tích hợp liên môn, chưa chú trọng tích hợp các phân môn…chính vì vậy chưa giúp học sinh hình thành kiến thức, kỹ năng mới và tất nhiêncác năng lực của học sinh chưa được phát triển

Trang 11

- Việc vận dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực

Trong những năm học vừa qua, nhận thức của đội ngũ giáo viên về tính cấpthiết phải đổi mới phương pháp dạy học đã thay đổi và có nhiều chuyển biến;việc áp dụng những phương pháp dạy học tích cực đã được thực hiện Tuy nhiêncách thực hiện, hiệu quả giảng dạy để đạt được mục tiêu của nó là chưa cao, cụthể như : Phương pháp thảo luận nhóm được tổ chức nhưng chủ yếu vẫn dựa vàomột vài cá nhân học sinh tích cực tham gia, các thành viên còn lại còn dựa dẫm,

ỉ lại chưa thực sự chủ động Mục đích của thảo luận nhóm chưa đạt được – tínhdân chủ, mọi cá nhân được tự do bày tỏ quan điểm, thói quen bình đẳng, biếtđón nhận quan điểm bất đồng để hình thành quan điểm cá nhân

2.2.2.3 Giáo viên với việc tổ chức giờ học VBNL

Nhìn chung, hiệu quả của việc dạy học VBNL phụ thuộc khá nhiều vàocách thức tổ chức giờ học của GV Chúng tôi tiến hành dự giờ và nhận thấy có

ba tồn tại sau đây:

Thứ nhất, ở những GV tổ chức dạy học tốt, giờ học sôi nổi, gây hứng thú,phát huy được tính tích cực của HS, có HS còn chủ động nêu vấn đề để GV và

HS cả lớp giải quyết Dự những giờ học đó, đã làm dấy lên cảm hứng dạy họcVBNL trong chúng tôi

Thứ hai, ở những giờ học không có sự chu đáo trong cách tổ chức thì HS íthào hứng, ít khích lệ sự tích cực trong HS Có GV không làm chủ được giờ dạy,

bị cuốn theo hoạt động của HS, hoặc lúng túng trước những tình huống có vấn

đề mà HS nêu ra

Thứ ba, GV chuẩn bị bài dạy, giáo án chu đáo nhưng không có tính khả thi

do GV chưa nắm được trình độ, năng lực học tập của HS dẫn đến việc lựa chọnphương pháp dạy học chưa phù hợp Ví dụ: Với đối tượng HS có lực học trungbình, GV lại luôn nêu các câu hỏi có vấn đề, không có câu hỏi gợi mở, địnhhướng cho HS Như vậy, vô hình chung đã làm cho giờ học trở nên căng thẳng,nặng nề Hoặc với những đối tượng HS ý thức kém, GV lại lựa chọn phươngpháp dạy học hợp tác khiến lớp học trở nên nhốn nháo, giờ học không đạt hiệuquả

2.2.3 Khảo sát thực tiễn việc học VBNL của học sinh

Với đối tượng này, chúng tôi tiến hảnh khảo sát các vấn đề sau :

- HS với việc đọc hiểu VBNL

- Trình độ hiểu biết của HS về các VBNL

- Những khó khăn và nguyện vọng của HS trong quá trình tiếp nhận VBNL

2.2.3.1 Học sinh với việc đọc hiểu tác phẩm nghị luận

Với chương trình và SGK Ngữ văn mới, dạy văn thực chất là dạy cho HSphương pháp đọc hiểu Đọc hiểu là hoạt động duy nhất để HS tiếp xúc trực tiếpvới các giá trị văn học Trong quá trình học đọc, HS sẽ biết cách đọc để tích luỹkiến thức, đọc để lí giải, đọc để đánh giá và đọc sáng tạo, phát hiện Đọc văntheo tinh thần đó thực chất là toàn bộ quá trình tiếp nhận, giải mã văn bản.Muốn thế HS phải được trang bị trên hai phương diện: những kiến thức để đọcvăn và phương pháp đọc văn Vậy thực tế HS đã có kiến thức gì về đọc hiểu vănbản nghị luận ?

Trang 12

- Chúng tôi đã đưa câu hỏi để khảo sát : Theo em, việc đọc hiểu văn bảnnghị luận cần thực hiện qua mấy bước ? Đó là những bước nào ?

- Yêu cầu trả lời: Việc đọc hiểu văn bản nghị luận cần tiến hành qua cácbước sau :

Bước 1: Tìm hiểu thân thế tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm nghịluận Từ đó nhận xét : vấn đề nêu lên trong tác phẩm xuất phát từ nhu cầu nàocủa thực tế, có tầm quan trọng như thế nào với cuộc sống, với lĩnh vực được bànluận?

Bước 2: Phải nắm bắt được mạch suy nghĩ,sự vận động của tư tưởng theotiến trình diễn giải, trình bày vấn đề Chú ý tóm lược các luận điểm và xác địnhmối quan hệ giữa chúng với nhau

Bước 3 : Cảm nhận tâm tư, tình cảm thể hiện trong sự bàn luận để làm tăngsức thuyết phục của tác phẩm nghị luận

Bước 4 : Phân tích nghệ thuật lập luận, cách nêu chứng cứ, sử dụng ngônngữ, tác dụng của các biện pháp đó với từng vấn đề được trình bày trong nộidung tác phẩm

Bước 5 : Nêu khái quát giá trị của tác phẩm nghị luận về cả hai phươngdiện : nghệ thuật biểu hiện và nội dung tư tưởng Những bài học sâu sắc rút ra từtác phẩm

Đây là những kiến thức về văn nghị luận mà HS đã được học ở học kì IIcủa lớp 11 nhưng khi được hỏi chỉ có khoảng 40% số HS nắm được cách đọcvăn nghị luận Số còn lại chưa hình dung được các công việc cụ thể của việc đọchiểu một văn bản nghị luận nên trả lời chung chung hoặc lạc hướng Các em chorằng :

+ “Để đọc hiểu văn bản nghị luận cần có vốn hiểu biết sâu rộng, đọc kĩ vănbản và hiểu được toàn bộ nội dung mà văn bản đề ra”

+ “Để đọc hiểu văn bản nghị luận cần trau dồi kiến thức đời sống, luyện tậpnhuần nhuyễn các kĩ năng viết văn nghị luận, hiểu rõ tính chất, cách viết mộtvăn bản nghị luận”

Một số em khác bỏ trống câu trả lời Ở đây có một thực tế khiến chúng tôiphải quan tâm là HS THPT rất hạn chế về kiến thức và phương pháp đọc hiểuvăn bản Để giúp các em học tập có hiệu quả ở giờ đọc hiểu văn bản nói chung

và giờ đọc hiểu văn bản nghị luận nói riêng, GV cần phải trang bị kiến thức vềđọc hiểu, về thể loại cho HS Kiến thức này nên được cung cấp và bổ sung trongcác giờ đọc hiểu văn bản

Để giúp các em học tập có hiệu quả ở giờ đọc hiểu văn bản nói chung vàgiờ đọc hiểu văn bản nghị luận nói riêng, GV cần phải trang bị kiến thức về đọchiểu, về thể loại cho HS Kiến thức này nên đƣợc cung cấp và bổ sung trong cácgiờ đọc hiểu văn bản

2.2.3.2 Trình độ hiểu biết của HS về VBNL

Để đánh giá được trình độ hiểu biết của HS đối với các VBNL, chúng tôitiếp tục đưa ra câu hỏi : Đặc điểm nổi bật phân biệt văn bản nghị luận với cácloại văn bản khác là gì?

- Yêu cầu trả lời:

Đặc điểm của văn nghị luận

Ngày đăng: 16/10/2017, 14:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w