Bất cứ một nghề nào trong xã hội đều cần thiết phải có chữ “ Tài” và chữ “ Tâm”, và hơn nữa để thành đạt và có uy tín trong xã hội thì cần phải là người có cái tâm lớn “ chữ Tâm kia phải
Trang 11 PHẦN MỞ ĐẦU
1 1 Lí do chọn đề tài:
Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc
tế, một số đông bạn trẻ đang chạy theo vòng xoáy của “văn hóa tốc độ” Việc
giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống cũng như việc xây dựng hệgiá trị đạo đức mới ở nước ta đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải được giảiquyết Bên cạnh những giá trị mới được hình thành trong quá trình hội nhập, đặcbiệt là đội ngũ học sinh, sinh viên, là tầng lớp tri thức cao của mỗi quốc gia – làtương lai của đất nước là những người quyết định sự phồn thịnh của dân tộc vìchính họ là những “ mùa xuân của xã hội” thì những cái tiêu cực cũng đang xâmnhập vào đạo đức, lối sống của nhiều tầng lớp nhân nhất là học sinh còn đangngồi trên ghế nhà trường THPT
Không biết từ bao giờ "Tâm" và "Tài" đã trở thành một tiêu chí đánh giácho một nghề nghiệp, một vị trí trong xã hội hiện đại Bất cứ một nghề nào trong
xã hội đều cần thiết phải có chữ “ Tài” và chữ “ Tâm”, và hơn nữa để thành đạt
và có uy tín trong xã hội thì cần phải là người có cái tâm lớn “ chữ Tâm kia phải
bằng ba chữ Tài” (Nguyễn Du); Raxun Gamzatop trong “Đasghetxtan của tôi”
đã nói rằng: “Giống như ngọn lửa bốc lên từ những cành khô, tài năng bắt
nguồn từ những tình cảm mạnh mẽ của con người”; Viên Mai nói rằng “Tài
gia tình chi phát, tài tử thịnh tình tắc thâm” (Tài là ở tinh phát ra, tài cao ắt tình
sâu) Đó cũng chính là niềm tự hào và vinh quang của nghề giáo khi giáo dụchọc sinh trong các nhà trường
Giáo sư Vũ Ngọc Phan từng nhận xét:“ Chỉ người ưa suy xét đọc Nguyễn Tuân mới thấy thú vị, vì văn Nguyễn Tuân không phải thứ văn để người nông nổi thưởng thức” Nói đến nhà văn Nguyễn Tuân là nói đến một giá trị hiển
nhiên gợi nhắc một vùng trời riêng, xôn xao thanh âm ngôn ngữ dân tộc Nhữngsáng tác của ông tồn tại như những giá trị thẫm mĩ độc lập vừa gợi ý, kích thíchtìm tòi, sáng tạo nên các giá trị mới Đây là tác phẩm chính trong chương trìnhngữ văn THPT, cả về thi Quốc gia và học sinh giỏi, nên việc học tác phẩm nàyđòi hỏi học sinh phải khám phá, khai thác một cách khoa học, chuyên sâu, sángtạo như: ngôn từ, tình tiêt, cốt truyện, thể loại thông qua cảm thụ, tri giác đểcảm nhận hình tượng trong hai văn bản này được chọn vẹn Nắm được ý đồ sángtạo của Nguyễn Tuân để xâm nhập vào hệ thống hình tượng trong các nhân vậtcủa ông để từ đó rút ra tưởng tình cảm của tác giả, hiểu được vị trí tác phẩmtrong lịch sử văn hóa, tư tưởng, đời sống và truyền thống nghệ thuật dân tộc.Bên cạnh đó, tác phẩm giúp học sinh cảm nhận được nhân cách cao đẹp củaNguyên Tuân thanh sạch, cao thượng, nhân văn là nhờ cái Tài và cái Tâm độcđáo của ông cho dù sáng tác cả trước 1945 và sau 1945 Theo Nguyễn Tuân, Tài
phải đi đôi với tâm, ấy là "thiên lương"trong sạch, là lòng yêu nước thiết tha, lànhân cách cứng cỏi trước uy quyền phi nghĩa và đồng tiền phàm tục Người đọcmến Nguyễn Tuân về tài, nhưng còn trọng ông về nhân cách ấy nữa.Tuy văn củaNguyễn Tuân vẫn còn có nhược điểm: mạch văn quá phóng túng theo lối tùyhứng, khó theo dõi, nhiều đoạn tham phô bày kiến thức và tư liệu khiến ngườiđọc cảm thấy nặng nề, học sinh khó tiếp thu, dẫn đến khi làm đề thi về tác giả,cũng như tác phẩm của ông đều rất khó khăn
Trang 2Ngoài giáo dục tình cảm và đạo đức, việc bồi dưỡng nhân tài và đào tạohọc sinh giỏi văn của trường THPT Thọ Xuân 5, một loại hình trường từ bán côngnhiều năm, học sinh có học lực yếu không có nhân tố đào tạo Nên nhiệm vụ củangười giáo viên phải có tâm huyết, trách nhiệm, có kinh nghiệm phát hiện, lựa chọnnguồn học sinh giỏi nhất lại là chuyên văn, môn chính trong thi tốt nghiệp và Đại học,bởi nó là nhân tố quyết định sự tồn tại phát triển của nhà trường
Tiếp thu tinh thần đổi mới phương pháp dạy học, phát huy năng lực, đánh giáhọc sinh theo tinh thần của Bộ GD & ĐT, tôi đã đi sâu nâng cao kiến thức bài học, giúphọc sinh nâng cao năng lực đọc hiểu, cảm thụ, chuyên sâu, khoa học hơn trong ôn luyệnhọc sinh, qua các dạng đề nâng cao về tác giả Nguyễn Tuân và tác phẩm này nhất làdạng đề về lí luận văn học Từ những lí do trên, với giới hạn là trao đổi kinh nghiệm
của cá nhân, tôi mạnh dạn đưa ra vấn đề: “Kinh nghiệm nhận biết chữ Tài và chữ Tâm trong truyện ngắn “ Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân và việc giáo dục quan niệm sống cho học sinh” Hy vọng đề tài sẽ góp phần phục vụ ôn thi ôn thi hoc sinh, phù hợp với chương trình đổi mới ra đề và đổi mới thi cử hiện nay
1 2 Mục đích nghiên cứu:
Giúp học sinh phát hiện và hiểu rõ nội dung, bản chất về tác giả NguyễnTuân cũng như chữ Tâm và chữ Tài trong các sáng tác của ông.Từ đó hình thành kĩnăng kiến thức bồi dưỡng giáo dục nhân cách và tài năng cho học sinh
Tìm, lựa chọn được những học sinh có năng khiếu cảm thụ, tạo lập được bàivăn nghị luận văn học, thông qua lí luận văn học và lí luận xã hội Nhằm thúc đẩyphong trào học Ngữ văn của nhà trường
1 3 Đối tượng nghiên cứu:
Tôi chọn bài: truyện ngắn “Chữ người tử tù” tiết 39,40,41, SGK, Ngữ văn
11 tập 1 để đưa ra hệ thống lí thuyết về tác giả Nguyễn Tuân, sự nghiệp, phongcách sáng tác và nội dung nghệ thuật của tác phẩm trên để hình thành phát triển các
năng lực cho học sinh như : Năng lực giải quyết vấn đề; Năng lực tư duy sáng tạo; Năng lực hợp tác; Năng lực giao tiếp Tiếng Việt; Năng lực cảm thụ thẩm mĩ, trong
đó chủ yếu là: Năng lực tư duy sáng tạo và Năng lực giải quyết vấn đề, bài học liên
quan đến giáo dục nhân cách, tài năng cho học sinh
1 4 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài chỉ ngiên cứu một khía cạnh nhỏ, đó là chữ Tài và chữ Tâm của nhàvăn Nguyễn Tuân thể hiện trong truyện ngắn “Chữ người tử tù” sáng tác trước
1945 Nên tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích nêu vấn đề
1.5 Những điểm mới của sáng kinh nghiệm:
Trong bài viết này tôi nêu ra hiểu biết của mình về việc cảm thụ một tác phẩm theo đúng hướng khai thác truyện ngắn “ Chữ người tử tù ” – khai thác theo con đường đi tìm cái đẹp của nhân vật Mục đích của tôi là đưa các em học
Trang 3sinh cảm nhận bằng tấm lòng vẻ đẹp của nhân vật theo con đường tìm đến cái đẹp Nhờ đó mà giáo dục các em có quan niệm sống lành mạnh, tốt đẹp hơn Tôi dạy học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực người, một phương pháp giáo dục như: nêu vấn đề, phương pháp dạy học phát huy tính tích cực củahọc sinh Điểm khác nhau giữa các phương pháp là ở chỗ dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học có yêu cầu cao hơn, mức độ khó hơn, đòi hỏi người dạy phải có phẩm chất, năng lực giảng dạy nói chung cao hơn trước đây,
sẽ làm cho việc dạy và việc học được tiếp cận gần hơn, sát hơn với mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách con người
2 PHẦN NỘI DUNG:
2.1 Cơ sở lí luận:
a Quan niệm về chữ Tài và chữ Tâm trong văn học Việt Nam:
a.1 Quan niệm về chữ Tâm trong văn học Việt Nam:
Theo từ điển tiếng Việt và quan niệm dân gian ta Chữ Tâm là tiếng Hán
-Việt, nếu nói theo chữ Việt thuần túy thì đó là lòng người Khi nói đến chữ Tâmkèm theo với chữ khác như: Tâm an”, “Tâm hoà”, “Tâm bình”, “Tâm ngay thẳng”,Tâm trong sáng”, “Trực tâm”, ngược lại là những chữ “Ác tâm”, “Hắc tâm”, “Tàtâm”, “Tâm đen tối” Tâm ở trước các chữ như “tâm thần”, “tâm lí”, “tâm cảm”,
“tâm cảnh”, “tâm thức”, tâm tình” Tâm ở sau các chữ như: “thiện tâm”,“vọngtâm”, “nội tâm”, “chân tâm”, thành tâm”, “ác tâm” v.v.Trong văn học, Tâm có mộtnội hàm rộng lớn vì bao gồm tâm thức (lĩnh vực nhận thức, có ý thức), tâmcảnh (dùng các ý về cảnh để tả tình cảm), tâm niệm, tâm tư, tâm tính, tâm sự, tâmpháp (mọi phương pháp tác động lên tâm lý, từ tác động lên ý thức như giáo dục vàcông tác tư tưởng đến tác động lên vô thức như tâm lý liệu pháp), tâm cảm, tâmtrạng, tâm hồn, tâm linh, tâm xúc, tâm bệnh Trong truyện Kiều Nguyễn Du cóviết:
Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài
Chữ Thiện căn ở đây tức là: Khi ta làm được 3 nghiệp lành như thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp là ta đã gieo được một thiện căn tốt Chữ Tâm ở đây
có nghĩa là thái độ sống
Theo dòng lịch sử văn học Việt Nam, chữ Tâm xuất hiện hầu hết các thể loại
văn hoc như: ca dao, tục ngữ, truyện Nôm Kiều của Nguyễn Du, văn học hiệnđại sáng tác trên lập trường Tâm và Tài Đấy chính là điểm sáng của vănchương ta
a.2 Quan niệm về chữ Tài trong văn học Việt Nam:
Theo từ điển tiếng Việt: Tài chính là tài năng, là kiến thức, là hiểu biết, là
kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm sống để con người có thể hoàn thành công việc củamình một cách tốt nhất, đặc biệt là trong những hoàn cảnh khó khăn, những tìnhhuống phức tạp Là kết quả của nhiều yếu tố: năng khiếu bẩm sinh, sự cần cù tronghọc tập, sự chăm chỉ rèn luyện trong lao động và cuộc sống Tài biểu hiện trong laođộng chân tay và lao động trí óc
Theo lí luận văn học Việt Nam: Tài: là kỹ năng của các nhà văn như: kỹ năng
sử dụng ngôn ngữ để mô tả một ý tưởng, một phong cảnh, dù đó là sự hư cấu hay thực
tế Nhà văn, tuy thường được hiểu là người sáng tác ra các tác phẩm bao gồm cả
Trang 4những thể loại văn học như thơ, văn xuôi, tiểu thuyết, kịch bản văn học Dựa trênkhuynh hướng sáng tác, loại thể chuyên sáng tác của từng tác giả văn học, nhà văn cóthể được xếp vào các vị trí khác nhau như nhà thơ, tiểu thuyết gia, nhà soạn nhạckịch, sử gia, ký giả, nhà báo, nhà viết kịch bản phim
b Biểu hiện chữ Tài và chữ Tâm trong sáng tác của Nguyễn Tuân:
b.1 Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân: Theo GS Nguyễn Đăng Mạnh giới thiệu:
* Cuộc đời và nhân cách con người: Sinh năm 1910 - 1987 tại phố Hàng Bạc
- Hà Nội, trong gia đình có truyền thống nho học lâu đời Nhưng đến thời thân sinh
(là cụ Tú Hải Văn) nho học thất thế, nhường chỗ cho Tây học, xã hội giao thời Tây Tàu nhố nhăng, dẫn đến tư tưởng bất đắc chí Là một trí thức giàu tinh thần dân tộc,Nguyễn Tuân đã phải trải qua những năm tháng vô cùng khổ sở, có lúc bế tắc, tuyệtvọng
- Năm 1929, bị đuổi học, bị bắt, Nguyễn Tuân lâm vào tình trạng khủng hoảngtinh thần sâu sắc Ông lao vào con đường ăn chơi trụy lạc, thành kẻ "đại bất đắc
chí", như một người "hư hỏng hoàn toàn" Năm 1938, tham gia vào đoàn làm phim
"Cánh đồng ma", quay tại Hồng Kông
- Từ 1942 đến 1945, ngày càng bế tắc, suy sụp, ông có ý định tự sát Cách mạngtháng tám đã tự "lột xác" và chân thành đứng vào hàng ngũ nhà văn Cách mạng.Năm 1950, vào Ðảng CSÐD.Từ 1948-1958, là tổng thư ký Hội VN VN Hăng háitham gia vào hai cuộc kháng chiến, đi nhiều, có mặt ở tuyến lửa ác liệt, dùng vănchương ngợi ca đất nước và cùng nhân dân đánh giặc Ông mất ngày 28-7-1987 tại
Hà Nội
- Là một trí thức dân tộc rất mực tài hoa, uyên bác Am tường cả Hán học lẫnTây học, có lòng say mê thiết tha đối với tiếng Việt, đề cao và chú tâm gìn giữnhân cách nghệ sĩ Căm ghét thói xấu xa đê tiện, rởm đời, vô văn hóa Ðọc vănông, có khoái cảm thẩm mỹ từ nghệ thuật ngôn, là một tài năng phong phú, cónăng lực ở nhiều lĩnh vực nghệ thuật thức về nhạc, họa, điêu khắc, kiến trúc, lịch
sử, địa lý, điện ảnh Có quá trình lao động nghệ thuật thật sự nghiêm túc, khi đã ởđỉnh cao nghề nghiệp, luôn nghiêm khắc với chính mình "suốt đời đi tìm cái Ðẹp,
cái Thật" (Nguyễn Ðình Thi), tự nhận mình là người "sinh ra để thờ Nghệ Thuật với hai chữ viết hoa"
* Sự nghiệp sáng tác:
- Tác phẩm tiêu biểu :Trước 1945 : Một chuyến đi (1938), Vang bóng một thời (1939),
Ngọn đèn dầu lạc (1939), Thiếu quê hương (1940), Tàn đèn dầu lạc (1941), Chiếc lưđồng mắt cua (1941), Tùy bút I (1941), Tùy bút II (1943), Tóc Chị Hoài (1943), Nguyễn(1945) Sau 1945 : Chùa Ðàn (1946), Ðường vui (1949), Tình chiến dịch (1950), Thắngcàn (1963), Tùy bút kháng chiến và hòa bình (Tập I/1955, tập II/1956), Sông Ðà (1960),
Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972), Ký (1976), Hương vị và cảnh sắc đất nước (1978),Tuyểntập Nguyễn Tuân (1994)
- Nội dung:
+ Trước 1945: Sinh ra trong gia đình Hán học, nên Nguyễn Tuân sáng tác theo bút
pháp cổ điển, chưa gây được tiếng vang như: "Giang hồ hành" (thơ), "Vườn xuân lan
tạ chủ" (truyện ngắn) Ðó là tinh thần hoài cựu, luôn chăm chút nhặt nhạnh những vẻđẹp xưa dù đã tàn tạ, cuối mùa; là hệ thống nhân vật tài hoa tài tử, nhuốm chút ngôngnghênh kiêu bạc; là lối văn cầu kỳ trúc trắc mà uyên bác hơn người
Trang 5Đến khi xuất hiện trên các báo với những truyện ngắn hiện thực trào phúng, cườichâm biếm: (Ðánh mất ví, Một vụ bắt rượu, Mười năm trời mới gặp lại cố nhân), nhưngkhông khẳng định được vị trí trên văn đàn Đến khi tùy bút - du ký "Một chuyến đi",(1938), Nguyễn Tuân mới thể hiện được giọng điệu riêng, hết sức phóng túng, linh hoạt
đến kỳ ảo : "Khi thì trang nghiêm cổ kính, khi thì đùa cợt bông phèng, khi thì thánh thót trầm bổng, khi thì xô bồ bừa bãi như là ném ra trong một cơn say chếnh choáng, khinh bạc đấy, nhưng bao giờ cũng rất đỗi tài hoa" (Nguyễn Ðăng Mạnh) Nhân vật chính là
cái "tôi" ngông nghênh kiêu bạc của nhà văn chịu quá nhiều đắng cay tủi cực đã hoàinghi tất cả, chỉ tin ở cái vốn tình cảm, ý nghĩ, cảm xúc sắc sảo và tinh tế của mình tíchlũy được trên bước đường xê dịch
Đỉnh cao "Vang bóng một thời" 1939, đạt đến độ "toàn thiện toàn mỹ" ấy (Vũ
Ngọc Phan) góp phần đưa nghệ thuật văn xuôi Việt Nam phát triển thêm một bước mới
trên con đường hiện đại hóa Nội dung: "Vang bóng một thời" : Một thời đã qua nay chỉ
còn vang bóng (đẹp xưa) của thời phong kiến suy tàn, thời có những ông Nghè, ôngCống, ông Tú thích chơi lan chơi cúc, thích đánh bạc bằng thơ hoặc nhấm nháp chén tràtrong sương sớm với tất cả nghi lễ thành kính đến thiêng liêng Hay tên đao phủ cònchém người bằng đao, người ta còn đi lại trên đường bằng võng, bằng cáng; vừa đi vừadềnh dàng đánh cờ bằng miệng, Thời gian hầu như chưa trở thành nỗi ám ảnh lớn đốivới con người, bởi nó còn được đo bằng mùa, bằng tiết Nhưng những vẻ đẹp có màusắc truyền thống ấy đang có nguy cơ bị mai một Ðau đớn nhận ra điều đó, NguyễnTuân ra sức níu giữ, gom góp và phục chế lại bằng tất cả tấm lòng thành kính.“VBMT”như một bảo tàng lưu giữ các giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc
Năm 1945, sáng tác dần đi vào ngõ cụt Cái "tôi" ấy có vẻ mất tự tin vàniềm tin vào cuộc sống, Nguyễn Tuân lâm vào tình trạng ngày càng khủng hoảngsâu sắc, viết thưa dần, xuất hiện thêm các đề tài mới hướng về thế giới của yêu tinh,
ma quỷ ("Xác ngọc lam", "Ðới roi", "Rượu bệnh", "Loạn âm")
+ Sau năm 1945: Tự "lột xác" để dấn thân vào cuộc đời mới (Vô đề, Ngày
đầy tuổi tôi Cách Mệnh) Riêng "Chùa Ðàn" - một tác phẩm được viết khá côngphu và đầy tâm huyết Là truyện về một nhân vật mắc căn bệnh cá nhân chủ nghĩa,ích kỷ đến tàn nhẫn, như được uống liều thuốc cải lão hoàn đồng, tự cải tạo vươnlên thành con người mới, sống chan hòa với xung quanh, là một cố gắng đáng trân
trọng Tiếp theo, hai tập tùy bút : "Ðường vui" (1949) và "Tình chiến dịch" (1950).
Ðáp lời kêu gọi của Ðảng, ông hăng hái xốc ba lô lên vai dấn thân khắp các nẻođường chiến dịch Cái "tôi" giờ đây không còn phá phách, ngông nghênh nữa màrưng rưng hòa nhập, sẻ chia với đồng bào đồng chí Giọng điệu văn chương trở nênsôi nổi tin yêu, tràn ngập một tình cảm chân thành đến hồn nhiên đối với quêhương đất nước, với Cách mạng và kháng chiến, lại tiếp tục bôn ba trên hành trình
đi tìm cái Ðẹp, cái Đẹp vốc từng vốc lớn chất liệu hiện thực và bày biện một cáchhết sức tài hoa, tinh vi lên trang viết để thết đãi cả nhân dân mình : "Phở", "Cây HàNội", "Con rùa thủ đô", "Tìm hiểu Sê Khốp",
Tùy bút "Sông Ðà", viết từ 1958 đến 1960, đỉnh cao mới từ sau CM tháng tám.Tác phẩm như một dòng thác lớn thanh âm ngôn ngữ, cảm xúc, tư tưởng được khơiđúng nguồn mạch chính, hệt con sông Ðà "hung bạo và trữ tình", chảy băng băng quavùng Tây Bắc hùng vĩ và ngạo nghễ với thời gian Ðọc "Sông Ðà", thấy cái Ðẹp - chất
"vàng mười" của đất nước và con người Việt Nam trong cuộc sống mới - quả là nhiều
Trang 6vô kể Cánh cửa tâm hồn tài hoa, lãng tử như mở toang ra cho cái Ðẹp ùa vào ("Hà Nội
ta đánh Mỹ giỏi" (1972), "Ký" (1976), "Hương vị và cảnh sắc đất nước" (1978) Sángtác thời kỳ này chia hai mảng : Viết về tình cảm Bắc - Nam và đấu tranh chống Mỹ -Ngụy; Tiếp tục khai thác vẻ đẹp của đất nước và con người Việt Nam, của truyền thốngvăn hóa Việt Nam trong thời đại mới, theo một cách riêng Dưới ngòi bút của ông,người Việt Nam vừa đánh Mỹ vừa sản xuất trong tư thế ung dung, sang trọng và đầy tàihoa, tư thế của một dân tộc không chỉ giành được chính nghĩa trong chiến đấu giữ nước
mà còn có bề dày truyền thống văn hóa lâu đời, người đọc phải ngỡ ngàng trước mộtsức bút kỳ lạ với vốn sống ngồn ngộn, tinh tế, vừa đầy ắp liên tưởng bất ngờ, thú vị vừanóng hổi tính thời sự
* Phong cách nghệ thuật :
- Ngông: Ngay từ bút danh: Nhất Lang,Thanh Thuỷ,Thanh Hà, Ngột Lôi
Nhật, Ngột Lôi Quật, Ân Ngũ Tuyên, Tuấn Thừa Sắc Thể hiện của sự chống trảmọi thứ nền nếp, phép tắc, định kiến cứng nhắc, hẹp hòi của xã hội bằng cách làm
ngược lại với thái độ ngạo đời "Hạt nhân của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân
có thể gói gọn trong một chữ ngông Cái ngông vừa có màu sắc cổ điển, kế thừa truyền thống tài hoa bất đắc chí của Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Ðà và trực tiếp hơn là cụ Tú Lan, thân sinh nhà văn vừa mang dáng vẻ hiện đại, ảnh hưởng từ các hệ thống triết lý nổi loạn của xã hội tư sản phương Tây như triết lý siêu nhân, quan niệm về con người cao đẳng, thuyết hiện sinh ” (Nguyễn Đăng Mạnh)
Trước CM: Cực đoan, đẩy lên thành chủ nghĩa : chủ nghĩa duy mỹ, chủ nghĩa xêdịch, chủ nghĩa hưởng lạc, chủ nghĩa ẩm thực, đây là phản ứng tâm lý của một cánhân trước tấn kịch xã hội, một trí thức yêu nước không chấp nhận chế độ thựcdân, tự đặt những nghịch thuyết để tách mình ra và vượt lên trên cái xã hội củanhững kẻ xu thời, thỏa mãn với thân phận nô lệ Sau CM: Mất đi phần cực đoan,giữ lại cái cốt cách, độc đáo cho trang viết, cái ngông tồn tại như hạt nhân, chi phốitoàn bộ các phương diện khác của phong cách nghệ thuật, từ đề tài, hệ thống nhânvật cho đến thể loại, giọng điệu, ngôn ngữ
- Mới, lạ, không giống ai: Đề tài: luôn quan niệm "chưa ai khơi" và “sáng tạo
những gì chưa ai có” Bằng cảm giác mạnh, ấn tượng rất sâu, ông say sưa trước cảnh,tình và tri thức phong phú các các loại được bày biện một cách đẹp đẽ, mặt khác, khicảm giác nhất thời qua đi, bao giờ người ta cũng thấy như quý yêu thêm một chút tự
hào thêm một chút về dân tộc mình, về thời đại mình đang sống; Hệ thống nhân vật:
Mỗi nhân vật thường sành hơn người ở một thú chơi hoặc một ngón nghề nào đó: Ðó
là cụ Kép, cụ Sáu, cụ Nghè Móm, ông Phó Sứ, ông Cử Hai những nghệ sĩ bậc thầycủa nghệ thuật uống trà, uống rượu, chơi đèn kéo quân và đánh bạc bằng thơ (trong
"Vang bóng một thời") Là ông Thông Phu lắm tài nhiều tật, cuối cùng đã gục chếttrên một ván cờ đất vì uất ức (trong "Chiếc lư đồng mắt cua")
- Tùy bút: Tài liên tưởng, lung linh kì ảo, mới lạ, cảm xúc chủ quan, linh hoạt
phong phú, giọng điệu hóm hỉnh, lí lẽ triêt lí, mặc sức vẫy vùng múa lượn trên đỉnh caosáng tạo nghệ thuật Mạch văn có lúc cuồn cuộn, ầm ào, gân guốc; có lúc đằm thắm, sâu
lắng, thiết tha : "Còn xa lắm mới đến cái thác dưới Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại, réo to mãi lên bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn
mù khói núi Mèo đốt nương xuân" Có lối ví von, so sánh thật chính xác, mới lạ; sự vật được miêu tả trong trường liên tưởng, cảm giác chuyển đổi tinh tế, bất ngờ : "Nước bể
Trang 7Cô Tô sao chiều nay nó xanh quá quắt đến như vậy ? ( ) Cái màu xanh luôn luôn biến đổi của nước bể chiều nay trên biển Cô Tô như là thử thách cái vốn từ vị của mỗi đứa tôi đang nổi gió trong lòng Biển xanh như gì nhỉ ? Xanh như lá chuối non ? Xanh như
lá chuối già ? Xanh như mùa thu ngả cốm làng Vòng? ( ) Sóng cứ kế tiếp cái xanh muôn vẻ mới, và nắng chiều luôn luôn thay mầu cho sóng Mà chữ thì không tài nào tuôn ra kịp với nhịp sóng" Có một kho từ vựng hết sức phong phú do lòng yêu say mê tiếng mẹ đẻ Luôn có ý thức sáng tạo từ và cách dùng từ mới, lạ: "Hiu quạnh sống trong người mình và chung quanh mình, cái gì cũng gợi đến những ý vắng, lạnh và cũ và mỏi
và ngừng hết Ngồi ăn một mình cả một mâm cơm chiều nay, tự nhiên tôi có cái cảm tưởng gở dại là mình đã trở nên một người góa bụa, hoàn toàn góa bụa Góa vợ con, thân thích, anh em bạn, góa nhân loại, góa tất cả Bát cơm và vào miệng, chỉ là những miếng thê lương" "Mãi đến bây giờ về gần đến Phố, tôi mới nhớ ra trong xe còn có thêm một hành khách nữa Ấy là một người đàn bà, một thứ đàn bà tồi Tồi ở chỗ lõa lồ trong câu nói tiếng cười Tồi ở cái cách phục sức rẻ tiền mà cứ gắng làm ra lộng lẫy cho kỳ được" Ông tự nhận xét : "Ngôn ngữ của Nguyễn lủng cà lủng củng, dấm dẳn cứ như đấm vào họng Ðọc lên nghĩa tối quá lời sấm ông trạng Nguyễn cứ lập ngôn một cách bướng bỉnh vì đời nó ngu thế thì không bướng bỉnh sao được".
b Về chữ tài và chữ Tâm của nhà nghệ sĩ lớn Nguyễn Tuân
b.2 Chữ Tài và chữ Tâm trong truyện ngắn “Chữ người tử tù ” của Nguyễn Tuân.
Sách giáo khoa Ngữ văn 11 tập 1 khẳng định: Nguyễn Tuân là một cái định nghĩa
về người sĩ Đối với ông, văn chương trước hết phải là văn chương, nghệ thuật trước hếtphải là nghệ thuật, và đã là nghệ thuật thì phải có phong cách độc đáo Tài phải đi đôi vớiTâm Ấy là "thiên lương" trong sạch, là lòng yêu nước thiết tha, là nhân cách cứng cỏitrước uy quyền phi nghĩa và đồng tiền phàm tục Người đọc mến Nguyễn Tuân về tàinhưng còn trọng ông về nhân cách ấy nữa Chúng ta đã biết, Nguyễn Tuân là nhà văn
“Duy mỹ” suốt đời đi tìm cái đẹp, ông đã thổi hồn vào những trang viết mang đến chongười đọc bao hình tượng văn học sáng ngời Tập truyện “Vang bóng một thời”, có lẽ lànơi hội tụ những nét đẹp cao quý: thú uống trà đạo, thả thơ, đánh thơ, chơi thư pháp Gắn liền với thú chơi tao nhà ấy là những con người tài hoa bất đắc chí “Chũ người tử tù”
là tác phẩm đặc sắc của Nguyễn Tuân trích trong tập truyện ấy
* Chữ tài của Nguyền Tuân trong truyện ngắn “Chữ người tử tù”:
Qua việc xây dựng ông Huấn Cao: một nhân cách kiêu dũng, bất khuấttrong vị thế một người tử tù trong một truyện ngắn trang nghiêm, cổ kính Nhưchúng ta đã biết, Huấn Cao là một nguyên mẫu lịch sử có thật ở thế kỉ XIX, là hiệnthân của võ tướng – người anh hùng cầm đầu cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương, một nhàthơ, nhà thư pháp Cao Bá Quát Được dân gian đương truyền “Văn như Siêu Quát
vô tiền Hán” Qua ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân , nguyên mẫu lịch sử này đivào những trang văn và hiện lên lung tỏa sáng trên những con chữ Vẻ đẹp củaHuấn Cao trước hết là vẻ đẹp của con người tài hoa, nghệ sĩ:
Trước hết, Tài viết chữ đẹp: chữ Huấn Cao viết là chữ Hán (chữ Nho), loại văn
tự giàu tính tạo hình Các nhà nho xưa viết chữ để bộc lộ Tâm – Chí – Khí phách củamình Đây con là một môn nghệ thuật gọi là thư pháp Có người viết chữ thì có ngườichơi chữ Người ta treo chữ đẹp ở những nơi trang trọng trong nhà, xem đó như là mộtthú chơi tao nhã của những người có trình độ văn hóa và thẩm mĩ cao Huấn Cao là
Trang 8một nghệ sĩ trong nghệ thuật thư pháp “Tài viết chữ rất nhanh và đẹp” của ông nổitiếng khắp cả tỉnh Sơn Ngay cả viên Quản ngục của một huyện nhỏ vô danh cũng biết
“Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm (…) Có được chữ ông Huấn Cao mà treo làmột báu vật trên đời” Cho nên “Sở nguyện của viên quản ngục này là có một ngày kiatreo ở nhà riêng mình một câu đối do tay ông Huấn Cao viết” Để có được chữ HuấnCao, viên quản ngục không những phải dụng công, phải nhẫn nhục, mà còn phải liềumang, biệt đãi Huấn Cao, một kẻ tử tù là một việc làm nguy hiểm, có khi phải trả giábằng tính mạng của mình
Điều làm cho bọn ngục quan kiêng nể không chỉ tài viết chữ đẹp mà còn là “tài
bẻ khóa vượt ngục” Nhưng đây không phải là trò của bọn tiểu nhân vô lại đục tườngkhoét vách tầm thường, mà là hình ảnh của một người anh hùng, ngang tàng, một nam
từ Hán đại trượng phu “Đinh thiên lập địa”, không ca chịu cảnh tù đày áp bức, muốnbứt phá gông cùm xiềng xích để thoát khỏi vòng nô lệ Những kẻ học theo đạo Nhothường thể hiện lòng trung quân một cách mù quáng Huấn Cao đã chọn con đườngkhác, đấu tranh cho quyền sống người dân vô tội, nhưng bị triều đình khép tội “giặc cỏ”,nhưng trong lòng dân lao động ông là anh hùng Lương Sơn Bạc ở Trung Hoa xưa
Chữ Tâm của Nguyễn Tuân ở truyện ngắn “Chữ người tử tù”:
thu tại ngoại” ( Một ngày ở tù bằng nghìn thu ở ngoài), thay vào buồn rầu chán
nản, ông lại có tâm thế "Thản nhiên nhận rượu và ăn thịt" mặc dù ông là kẻ sắpđến ngày vào Kinh để chịu án chém Ông coi nhà tù là chốn dừng chân nghỉ ngơi.Đối với Quản ngục Huấn Cao rất lạnh lùng, khinh bạc, xưng hô “ta” – “ngươi”miệt thị hạ nhục "Người hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều, là nhà ngươiđừng đặt chân vào đây" Đây là cách nói không thèm đếm xỉa đến sự trả thù của kẻ
đã bị mình xúc phạm Tuy nhiên cái tài của Nguyễn Tuân trong việc sáng tạo nhânvật kiểu rất có ý thức, đặt vị trí của mình lên trên những loại dơ bẩn “cặn bà” của
xã hội “Bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” Nhân cách của Huấn Cao quả
là trong sáng như pha lê, không chút trầy xước nào Ông còn là người có ý thức giữgìn cái đẹp, có lòng tự trọng “Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà
ép mình viết câu đối bao giờ” Còn khi phát hiện được cái tính biết phục thiện củaông khi ông biết được nỗi lòng viên quản ngục Ông Huấn “lặng nghĩ”, “mĩm cười”ngạc nhiên "Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất tấm lòng trong thiên hạ" Lời nói rấtchân tình, xúc động, Điều này cho thấy Huân Cao là một người hiên ngang, khíphách nhưng cũng đầy nghĩa khí, bởi ông quan niệm không thể phụ “âm thanhtrong trẻo chen lẫn giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hốn loạn xô bồ”
Cảnh ông Huấn Cao cho chữ viên Quản ngục, đây là một đoạn "tuyệt bút",thể hiện tài năng tuyệt vời của ngòi bút Nguyễn Tuân Đó là cảnh tượng "xưa naychưa từng có" Nguyễn Tuân đã dồn hết bút lực, huy động vốn ngôn ngữ, tâmhuyết và tài năng của mình dồn tụ trong một không khí cổ xưa hoành tráng củanghệ thuật thanh cao: Viết Thư pháp, vừa trang trọng cổ kính, vừa dữ đội làm nổi
rõ nhân cách cao cả và tài năng của Huấn Cao và "thiên lương" của quản ngục giữacảnh ngục tù u ám, tối tám Đó chính là sự đối lập giữa bóng tối và ánh sáng, giữa
dơ bẩn của xã hội nhà tù và thiên lương trong sáng, khí phách rạng ngời Tươngphản giữa bó đuốc sáng rực trên vách nhà với đêm đen thăm thẳm, tương phản giữavòng lụa trắng, thoi mực thơm và tường nhà đầy mạng nhện, đầy phân chuột phân
Trang 9gián Trong cảnh cho chữ này, pháp luật và quyền uy của nhà tù đã bị sụp đổ.Quyền uy và bạo lực giờ đây đã tan biến, nó bị khuất phục bởi cái đẹp cái thiênlương Đó không còn kẻ phạm tội, không có Quản ngục và thư lại, chỉ có ngườinghệ sĩ tài hoa đang sáng tạo cái đẹp trước đôi mắt ngưỡng mộ sùng kính củanhững kẻ liên tài Người tù đang đi vào cõi bất tử
Sau đó Huân Cao đã khuyên Quản ngục, lại một lần nữa khẳng định cái đẹp, cáithiên lương của con người "Tôi bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về nhà quê ở đã, thầyhãy thoát khỏi cái nghề này đi đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ Ở đây khó giữthiện lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cả đời lương thiện đi" Lời khuyên này Huân Cao khẳng định rằng: cái đẹp cái thiên lương, không bao giờkhông khi nào có thể chung sống với cái xấu, cái ác Một lời khuyên thật thiện tâm,thiện ý khiến Quản ngục cảm động “ vái người tù một vái, chắp tay nói một câu màdòng nước mắt rĩ vào kẻ miệng làm cho nghẹn ngào: - Kẻ mệ muội này xin bái lĩnh”.Đúng là cái đẹp, cái thiện, cái tài hoa đã chiến thắng cái tuyệt đối Cái đẹp của nghệthuật đã xóa nhòa mọi khoảng cách và ranh giới đưa con người đến với nhau trong vẻChân - Thiện - Mĩ Điều này thể hiện rõ tấm lòng yêu tin trân trọng của nhà văn đốivới con người, cuộc sông bấy giờ Trong truyện ngắn, Nguyễn Tuân còn cho ta thấylòng nhân hậu, sự hướng thiện, hướng mĩ, tư tưởng tiến bộ, nhân văn của nhà vănngay từ trước Cách mang Đó còn là việc ông “ít chịu cho chữ”, “nhất sinh không vìvàng ngọc hay quyền thế mà phải ép mình viết câu đối bao giờ: Đây là nhân cách lýtưởng của con người đẹp như bông sen dã ngoại
Nói tóm lại, nhân vật Huấn Cao là một con người tích tụ những phẩm chất tốt đẹp nhất Là người sống vượt lên những hiện thực tầm thường, tăm tối để toả sáng, để vĩnh cửu, để bất diệt, đó là đạo lý dân tộc Tất cả hài hòa đan xen bằng
cái “Tâm”, cái “Tài” Nguyễn Tuân Lớp lớp ý nghĩa trong một hành động, đoạn
văn như bông hoa ngát hương cứ nở mãi trong lòng người đọc, làm ''sáng lên những cái gì vốn đã trong sáng, lung linh'' Xây dựng hành động cho chữ Quản ngục và lời khuyên của Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã thể hiện quan niệm về cuộc sống và những quan điểm nghệ thuật tiến bộ của mình - đó là sự thống nhất giữa
cái Tâm và cái Tài, cái Đẹp và cái THIỆN - cái THIÊN LƯƠNG Thể hiện tâm
niệm của mình bằng nghệ thuật bậc thầy về sử dụng ngôn ngữ, khắc họa nhân
vật - đó là một bằng chứng sống về cái Tâm, cái Tài Nguyễn Tuân - mang bản
sắc Nguyễn Tuân, ''người ca sĩ của những vẻ đẹp'' Nó hướng con người tới vẻ
đẹp thánh thiện với những chân lý nhân sinh cao cả Ở đây, thêm một lần tôi muốn khẳng định Nguyễn Tuân là một nhà tư tưởng - tài hoa, một nhà văn chân chính với thế giới quan, nhân sinh quan tiến bộ của mình Cái TÂM, cái TÀI củangười nghệ sĩ luôn đặt ra với muôn đời Cái đẹp luôn là đích hướng tới của con người Và bởi thế, lời khuyên của Huấn Cao sau khi cho chữ quản ngục - tiếng lòng Nguyễn Tuân, ''người ca sĩ của những vẻ đẹp'' gửi gắm - sẽ còn xanh mãi
(Vũ Thu Phong_ PTTH chuyên Lê Hồng Phong)
2.2 Thực trạng của vấn đề:
a Thuận lợi:
Ngữ văn là môn học chính khóa, có số lượng tiết nhiều trên tuần so với cácmôn học khác Tác giả Nguyễn Tuân và tác phẩm của ông được đưa vào dạy chínhcho khối 11 và 12, lại là tác giả tiêu biểu xuất sắc trên văn đàn văn học hiện đại
Trang 10Bản thân tôi được đào tạo chính quy, lại được học chuyên đề bồi dưỡng thườngxuyên, tự học nâng cao trình độ chuyên môn, lại tâm huyết với nghề với quan niệm
đã dạy học là phải đạt tính hiệu quả, đã bồi dưỡng học sinh giỏi là phải chuyên sâunâng cao nên:
+ Tham khảo nhiều tài liệu chuyên môn, đọc các cuốn nghiên cứu lí luậnphê bình văn hoc
+ Tiếp cận các dạng đề thi Quốc gia và đề thi học sinh giỏi tỉnh hàng năm.+ Tra cứu, truy cập thông tin, ghi chép các nguồn tài liệu qua các phươngtiện thông tin đại chúng
+ Trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp qua các buổi sinh hoạt tổ
+ Được sự quan tâm chỉ đạo chuyên môn của ban giám hiệu, ưu tiên chocông tác chất lượng đào tạo mũi nhọn
b Khó khăn:
Trường THPT Thọ Xuân 5 là đơn vị thành lập sau nhất trong khối trường THPTcủa tỉnh, huyện chịu nhiều năm dưới sự quản lí mô hình trường bán công không đượctuyển sinh dẫn đến chất lượng đầu vào thấp, khó đào tạo, quan niệm sống còn thấp
Bản thân nhà trường năm trên địa bàn bán sơn địa, chủ yếu là các xã ThọLâm, Xuân Phú, Xuân Thắng địa hình hiểm trở, khoảng cách xa, giao thông khókhăn, học sinh còn đang hưởng chế độ con em dân tộc thiểu số, chủ yếu là dân tộcMường và Thái, cộng với dân theo đạo Thiên chúa cũng nhiều Đa số không có nhucầu học nâng cao, chỉ mục đích là tốt nghiệp rồi ra trường đi làm công nhân, làmđồi nương, và đi xuất khẩu lao động
Đội ngũ giáo viên còn non trẻ, kinh nghiệm ít, nhiều năm hưởng lương từnguồn học phí, dẫn đến tâm lí dạy học chưa chuyên sâu
Trường THPT Thọ Xuân 5 không có phòng đọc thư viện, chỉ có kho đựngsách giáo khoa, đầu sách tham khảo không có
Do sự thúc bách của xã hội, môn Ngữ văn dành cho thi chọn nghề nghiệp ít,
đã giảm, xã hội không có nhu cầu Nên việc lựa chọn học văn và học bồi dưỡnghọc sinh giỏi và thi Đại học và giáo dục nhân cách là khó khăn
2.3 Giải pháp thực hiện giúp học sinh nhận biết chữ Tài và chữ Tâm trong truyện ngắn “ Chữ người tử tù” qua phong cách sáng tác của Nguyễn Tuân” giáo dục quan niệm sống cho học sinh:
Trong suốt những năm đứng lớp giảng dạy Ngữ văn của trường THPT ThọXuân 5, tôi đã phát hiện, và rút ra những kinh nghiệm áp dụng vào dạy học đem lạithành tích cho nhà trường, lợi ích uy tín trước quần chúng nhân dân, niềm tin chohọc sinh Tôi áp dụng các giải pháp sau:
a Giải pháp và tổ chức thực hiện:
* Đối với người dạy:
- Giới thiệu tài liệu tham khảo: tên sách, tuyển tập về nhà văn Nguyển Tuân để các emtìm đọc tra cứu, trên các phương tiện thông tin đai chúng, tham khảo đọc trước.Yêucầu học sinh ghi chép vào vở những lời nhận xét, đánh giá của các nhà lí luận phêbình, những câu văn hay, nhận định về tác phẩm tác giả này Xác định được nhữngvấn đề xoay quanh chữ Tâm và chữ Tài mà Nguyễn Tuân miêu tả trong hai tácphẩm, từ đó hình thành những câu hỏi, nội dung trả lời cho câu hỏi của học sinh,làm cơ sở cho việc ra các dạng đề luyện tập Cách thức ra đề, chấm bài, làm bài ở