Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “phương pháp dạy học tích cực” nhằm giúp học sinh phát huy
Trang 1MỤC LỤC
1 Khái niệm, cấu tạo, các bước thiết kế, quy trình tổ chức hoạt
động vẽ SĐTD trên lớp, những tiện ích và những hạn chế của
phương pháp dạy học theo sơ đồ hóa
05
1.3 Các bước thiết kế một sơ đồ tư duy 06 1.4 Quy trình tổ chức hoạt động vẽ SĐTD trên lớp 07 1.5 Những tiện ích của việc sử dụng SĐTD trong dạy học Ngữ
văn
07
1.6 Những hạn chế của Phương pháp dạy học theo sơ đồ hóa 08
2 Cách sử dụng SĐTD trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy
học
09
2.2 Các hình thức sử dụng sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học 11
3 Vận dụng SĐTD hệ thống kiến thức một tác phẩm văn học
(Giáo án minh họa giờ dạy chuyển sang phần Phụ lục)
15
A MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài.
Từ nhiều năm nay, việc dạy môn Ngữ văn được thực hiện theo phương
Trang 2học sinh, học sinh tiếp thu thụ động kiến thức ấy, ghi nhớ và vận dụng vào bài kiểm tra Cứ như thế thành một nhu cầu khép kín Phương pháp dạy học này có những ưu điểm riêng không thể phủ nhận được Tuy nhiên trong môi trường giáo dục ngày nay phương pháp truyền thống ấy cũng bộc lộ không ít nhược điểm như: Học sinh học thụ động, chỉ biết tiếp nhận một chiều chứ không tự nghiên cứu, tìm hiểu Như thế hậu quả khó tránh khỏi là học sinh dần dần mất đi năng lực tư duy, tự cảm thụ tác phẩm mà chỉ chấp nhận và sao chép lại cảm thụ của thầy cô Giáo viên chỉ thuyết giảng, thỉnh thoảng lại đặt vài câu hỏi chiếu lệ
sẽ không thể nắm bắt được hiệu quả tiếp thu cũng như quan điểm, thái độ của học sinh Cảm nhận văn học mang tính chủ quan của giáo viên không có sự phản hồi từ học sinh sẽ trở thành khiên cưỡng, áp đặt Giờ học văn vì không có
sự tương tác qua lại giữa thầy và trò nên dần trở nên buồn tẻ, nặng nề, không hứng thú
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn của xã hội môn Ngữ văn đã không ngừng cải tiến chương trình, cải tiến phương pháp dạy học kèm theo đổi mới kiểm tra, đánh giá nhằm đạt được hiệu quả cao nhất
Trong những năm qua, ngành giáo dục đã có nhiều cải cách quan trọng từ giáo dục ở bậc tiểu học cho đến đào tạo đại học và sau đại học Riêng ở phổ thông, sự đổi mới thể hiện trên nhiều phương diện, rõ nhất là về chương trình, sách giáo khoa và đặc biệt là phương pháp dạy học [07]
Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông là
thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “phương pháp dạy học tích cực” nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng
tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và thực tiễn, tạo niềm tin, niềm vui hứng thú trong học tập [06]
Để đáp ứng những yêu cầu đổi mới về phương diện phương pháp, đáp ứng tốt hơn Chuẩn kiến thức và kĩ năng quy định thì việc làm phong phú, sinh động, khắc sâu đề tài…bằng một kỹ thuật mới đó là tổ chức các đơn vị kiến thức trên hệ thống sơ đồ, ta vẫn gọi là sơ đồ tư duy, hay bản đồ tư duy Nó không chỉ giúp cho học sinh có sự hiểu biết sâu rộng, dễ tái hiện kiến thức Ngữ văn mà còn góp phần chắp cánh cho những phương pháp dạy học đặc trưng của bộ môn này
Đồng thời, tạo hứng thú để học sinh tham gia học tập tích cực
Từ mục đích đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, tôi xin mạnh dạn
trao đổi kinh nghiệm của bản thân về việc áp dụng phương pháp dạy học theo
sơ đồ tư duy trong bài học “Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành” (tác phẩm
văn học ở chương trình Ngữ văn 12 – Tập 2).
2 Mục đích nghiên cứu.
Trong giờ văn học, giáo viên cần cung cấp kiến thức theo mục tiêu bài dạy thông qua một số phương pháp, biện pháp, kĩ thuật cụ thể Bên cạnh nhiệm
vụ đó, giáo viên còn phải khắc sâu, mở rộng, nâng cao kiến thức đã và đang học
Trang 3cho học sinh nhằm đáp ứng từng mức độ nhận thức của học sinh, khêu gợi sự hứng thú học tập, làm cho giờ học diễn ra sôi nổi hơn, học sinh ham học hơn, không còn cảm thấy mệt mỏi, nặng nề khi đến tiết Ngữ văn Từ đó giúp HS chủ động chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng theo yêu cầu dạy học mới mà ngành đã đề ra
Đó chính là mục đích để chúng tôi vận dụng sơ đồ tư duy nhằm hỗ trợ về phương pháp giúp cho giáo viên có một cách tổ chức mới theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh và làm cho bài dạy nhẹ nhàng hơn mà hiệu quả đạt được vẫn cao
Mục đích nghiên cứu đề tài này là góp phần rèn luyện tính sáng tạo, tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho học sinh Học sinh được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức một cách máy móc Đồng thời giúp các em tiếp cận tri thức một cách hiệu quả nhất
3 Đối tượng nghiên cứu.
- Học sinh lớp 12A1, 12A3 Trường THPT Quan Sơn
- Áp dụng phương pháp dạy học theo sơ đồ tư duy trong bài “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành nhằm giúp học sinh phát huy tính chủ động, sáng
tạo trong giờ đọc hiểu tác phẩm
4 Phương pháp nghiên cứu.
- Các phương pháp lý thuyết: Đọc sách và tài liệu tham khảo có liên quan đến đề tài, để khái quát vấn đề, làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực tiễn
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát theo dõi học sinh sinh hoạt trong giờ học
+ Phương pháp An két: Xây dựng một hệ thống câu hỏi ghi trên phiếu bài tập, tìm hiểu mức độ nhận thức, biểu hiện, nguyên nhân của các em để có những biện pháp khắc phục
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm những biện pháp nhằm rèn luyện tính chủ động, sáng tạo cho học sinh trong thời gian giảng dạy
và so sánh kết quả thực nghiệm với thực trạng ban đầu chưa thực nghiệm, để đánh giá kết quả thực nghiệm có thành công hay không
+ Phương pháp trò truyện: Trong quá trình dạy học tôi thường xuyên trò truyện gần gũi với học sinh, trong giờ học hay ngoài giờ học, nhằm tạo cho học sinh tính tự tin, bạo dạn Để thăm dò mức độ biểu hiện của học sinh, từ đó lập kế hoạch hướng dẫn rèn luyện cho phù hợp với từng đối tượng học sinh
B NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
I CƠ SỞ LÍ LUẬN
Từ lâu các nhà sư phạm tiền bối đã từng tâm đắc: tri thức của tuổi trẻ là diện mạo của đất nước trong tương lai Từ những năm 60 của thế kỉ trước đồng
Trang 4học sinh, giáo dục là đào tạo học sinh thành những thế hệ thông minh sáng tạo.
Sự thông minh sáng tạo phải xuất phát từ những hiểu biết rộng lớn, nó tạo cho nền tảng tư duy được vững vàng hơn Phải hiểu rộng, biết nhiều mới có thể
chuyên sâu, mới “làm được cuộc trường chinh vạn dặm trên con đường học vấn” Muốn được như vậy, thì ngay hôm nay, thầy cô giáo phải tích cực, chủ
động vận dụng những thành tựu dạy học tiên tiến của loài người vào giảng dạy cho học sinh, trong đó sơ đồ tư duy là một cách dạy học mới dựa trên cơ sở sơ
đồ hóa kiến thức mà từ trước đến nay chúng ta vẫn vận dụng để phân tầng kiến thức, hệ thống chuỗi sự kiện hoặc thiết lập biểu bảng ôn tập tổng kết…
Mặt khác, nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy tính hiệu quả của việc hình dung tri thức thông qua một sơ đồ hình nhánh, mỗi nhánh mang một thông tin ngắn gọn được phát triển từ một vấn đề lớn đặt ở trung tâm Một sơ đồ tư duy cho phép ta thỏa sức vạch ra các ý tưởng, suy nghĩ đầy đủ trước khi đưa ra một quyết định Nếu cần xây dựng một kế hoạch làm việc, phân tích một vấn đề…thì sơ đồ tư duy mang đến những giá trị lớn hơn nhiều so với việc bạn đặt bút viết từ đầu đến cuối
II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
1 Thực trạng của đề tài nghiên cứu.
- Thực tế trong nhà trường hiện nay nhiều giáo viên đã tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, những tìm tòi trong công tác soạn giảng và tiếp cận lượng lớn tư liệu dạy học Tuy vậy về phương diện phương pháp và kĩ thuật vẫn còn nhiều hạn chế nhất là cách thức giúp học sinh hiểu vấn đề nhanh, nhớ kiến thức lâu và tái hiện nhanh khi cần thiết vận dụng
- Trong một số tiết học, dù vẫn cố gắng thực hiện theo chủ trương giảm tải nhưng cách tổ chức các đơn vị kiến thức vẫn còn rườm rà, kiểu như phải ghi chép thành câu, đoạn hoàn chỉnh, có khi phải nhiều câu dài dòng, trong khi đó chỉ cần một sơ đồ là học sinh có thể hiểu vấn đề thông suốt
- Tình trạng học sinh học vẹt để đối phó trong kiểm tra đánh giá hiện nay một phần do các em hiểu vấn đề chưa tường tận hoặc bị ràng buộc bởi “hành lang ngôn ngữ diễn đạt” mà giáo viên đã sử dụng, các em không tự tin khi dùng kho từ vựng của mình để diễn đạt, do không sử dụng nên nó cũng dễ mai một và ngày một ít sắc bén hơn Đặc biệt với môn Ngữ văn thì đây là một hạn chế lớn, khi nói, viết được xem là yêu cầu quan trọng của học sinh
- Những khó khăn trên nhất thiết phải có hướng khắc phục, trước tiên ta hãy từng bước vận dụng hình thức tổ chức kiến thức theo lối sơ đồ tư duy để hỗ trợ khi cần cho từng tiết dạy và có thể kiểm tra để thấy hiệu quả nhận thức của học sinh
2 Nguyên nhân của thực trạng.
- Xuất phát từ thực tiễn dạy học ở địa phương nhiều năm qua: giáo viên chưa thật sự quan tâm trong việc hình hóa kiến thức bài học Trước đây, các tiết
ôn tập chương một số GV cũng đã lập bảng biểu, vẽ sơ đồ, biểu đồ,… và cả lớp
Trang 5có chung cách trình bày giống như cách của GV hoặc của tài liệu, chứ không phải do HS tự xây dựng theo cách hiểu của mình, hơn nữa, các bảng biểu đó chưa chú ý đến hình ảnh, màu sắc và đường nét
- Giáo viên trình bày kiến thức chính xác phong phú, sinh động nhờ sự hỗ trợ nhiều về yếu tố trực quan do công nghệ thông tin mang lại nhưng vẫn chưa đưa sơ đồ tư duy vào sử dụng đại trà để học sinh học tập hiệu quả hơn Nhiều phương pháp kích thích sự chủ động sáng tạo ở học sinh chưa được phát huy tối
đa vì thiếu thao tác sơ đồ hóa hoặc sử dụng với mật độ thấp
- Chưa đổi mới cách ghi chép nội dung kiến thức bài học, theo kiểu kích thích tư duy mà chủ yếu là quan tâm đến độ chuẩn của nội dung ghi Do vậy, dù
ở lớp học sinh tích cực chủ động để phát hiện hiểu kiến thức nhưng khi học bài
cũ ở nhà thì rất thụ động
- Để có kết quả học tập tốt, ở một số bộ môn học sinh phải học vẹt vì phải nhớ kiến thức để trả lời câu hỏi mà theo các em, nội dung ghi của giáo viên
là chuẩn, là cách diễn đạt tốt nhất Chính điều này dẫn đến hiện tượng học sinh học thuộc để trả lời, đó cũng là nguyên nhân học vẹt ở học sinh
- Một phần rất quan trọng, để trả lời câu hỏi: Tại sao lập sơ đồ để dạy học
là chuyện rất cũ mà trước đây giáo viên ít mạnh dạn vận dụng? Có lẽ một phần
do giáo viên ngại ghi chép theo kiểu vắn tắt, chẳng ngay hàng thẳng lối, thoát khỏi quy cũ đề mục, mặc dù giáo viên nào cũng có thể hình dung được kiến thức
có thể thiết lập trên một sơ đồ Phải chăng trước đây ta đã có sơ đồ nhưng ta chưa thật sự đổi mới tư duy
III BIỆN PHÁP THỰC HIỆN.
1 Khái niệm, cấu tạo, các bước thiết kế, quy trình tổ chức hoạt động
vẽ sơ đồ tư duy trên lớp, những tiện ích và hạn chế của phương pháp dạy học theo sơ đồ hóa
Để sử dụng một cách có hiệu qủa SĐTD trong quá trình dạy học, trước hết, ta cần nắm vững những tri thức về nó:
1.1 Khái niệm Sơ đồ tư duy (SĐTD).
Sơ đồ tư duy hay còn gọi là bản đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Kỹ thuật tạo ra loại bản đồ này được phát triển bởi Tony Buzan vào những năm 1960 Sơ đồ tư duy
có cấu tạo như một cái cây có nhiều nhánh lớn, nhỏ mọc xung quanh “Cái cây”
ở giữa sơ đồ là một ý tưởng chính hay hình ảnh trung tâm Nối với nó là các nhánh lớn thể hiện các vấn đề liên quan với ý tưởng chính Các nhánh lớn sẽ được phân thành nhiều nhánh nhỏ, rồi nhánh nhỏ hơn, nhánh nhỏ hơn nữa nhằm thể hiện chủ đề ở mức độ sâu hơn Sự phân nhánh cứ thế tiếp tục và các kiến thức, hình ảnh luôn được nối kết với nhau Sự liên kết này tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả ý tưởng trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng [01]
1.2 Cấu tạo.
- Ở giữa sơ đồ là một hình ảnh trung tâm (hay một cụm từ) khái quát chủ đề
Trang 6- Gắn liền với hình ảnh trung tâm là các nhánh cấp 1 mang các ý chính làm rõ chủ đề
- Phát triển các nhánh cấp 1 là các nhánh cấp 2 mang các ý phụ làm rõ mỗi ý chính
- Sự phân nhánh cứ thế tiếp tục để cụ thể hóa chủ đề, nhánh càng xa trung tâm thì ý càng cụ thể, chi tiết Có thể nói, SĐTD là một bức tranh tổng thể, một mạng lưới tổ chức, liên kết khá chặt chẽ theo cấp độ để thể hiện một nội dung, một đơn vị kiến thức nào đó [01]
1.3 Các bước thiết kế một SĐTD [01]:
Để thiết kế một SĐTD dù vẽ thủ công trên bảng, trên giấy , hay trên phần mềm Mind Map, chúng ta đều thực hiện theo thứ tự các bước sau đây:
Bước 1: Bắt đầu từ trung tâm với từ, cụm từ thể hiện chủ đề (có thể vẽ
hình ảnh minh họa cho chủ đề - nếu hình dung được)
Bước 2: Từ hình ảnh trung tâm (chủ đề) chúng ta cần xác định: để làm rõ
chủ đề, thì ta đưa ra những ý chính nào Sau đó, ta phân chia ra những ý chính, đặt tiêu đề các nhánh chính, nối chúng với trung tâm
Bước 3: Ở mỗi ý chính, ta lại xác định cần đưa ra những ý nhỏ nào để
làm rõ mỗi ý chính ấy Sau đó, nối chúng vào mỗi nhánh chính Cứ thế ta triển khai thành mạng lưới liên kết chặt chẽ
Bước 4: Cuối cùng, ta dùng hình ảnh (vẽ hoặc chèn) để minh họa cho các
ý, tạo tác động trực quan, dễ nhớ
*Lưu ý:
- Nên chọn hướng giấy ngang để khổ giấy rộng, thuận lợi cho việc vẽ các nhánh con
- Nên dùng các nét vẽ cong, mềm mại thay vì vẽ các đường thẳng để thu hút sự chú ý của mắt, như vậy SĐTD sẽ lôi cuốn, hấp dẫn hơn
- Các nhánh càng ở gần trung tâm thì càng được tô đậm hơn, dày hơn
Ảnh minh họa cấu tạo Sơ đồ tư duy
Trang 7- Chú ý dùng màu sắc, đường nét hợp lý để vừa làm rõ các ý trong sơ đồ đồng thời tạo sự cân đối, hài hòa cho sơ đồ
- Không ghi quá dài dòng, hoặc ghi những ý rời rạc, không cần thiết, nên dùng các từ, cụm từ một cách ngắn gọn
- Không dùng quá nhiều hình ảnh, nên chọn lọc những hình ảnh thật cần thiết góp phần làm rõ các ý, chủ đề
- Có thể đánh số thứ tự ở các ý chính cùng cấp
- Không đầu tư quá nhiều thời gian vào việc “làm đẹp” sơ đồ bằng vẽ, viết, tô màu
- Không vẽ quá chi tiết, cũng không vẽ quá sơ sài
- Người lập sơ đồ được phép vẽ và trang trí theo cách riêng của mình 1.4 Quy trình tổ chức hoạt động vẽ SĐTD trên lớp [02]:
Hoạt động 1: Cho học sinh lập SĐTD theo nhóm hay cá nhân thông qua
gợi ý của giáo viên
Hoạt động 2: Học sinh hoặc đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo,
thuyết minh về SĐTD mà nhóm mình đã thiết lập
Hoạt động 3: Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện
SĐTD về kiến thức của bài học đó Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh SĐTD, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học
Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một SĐTD mà giáo viên đã chuẩn
bị sẵn hoặc một SĐTD mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, cho học sinh lên trình bày, thuyết minh về kiến thức đó
1.5 Những tiện ích của việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học Ngữ Văn:
- Dạy học bằng SĐTD giúp học sinh có được phương pháp học hiệu quả Chúng ta biết rằng việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ đơn thuần là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học Trong thực tế hiện nay, còn nhiều học sinh học tập một cách thụ động, chỉ đơn thuần là nhớ kiến thức một cách máy móc theo thói quen học vẹt, các em chưa
có ý thức hoặc chưa biết rèn luyện kỹ năng tư duy Học sinh chỉ học bài nào biết bài ấy, nắm kiến thức một cách đơn lẻ, rời rạc, chưa biết tích hợp, liên hệ kiến thức với nhau giữa các bài học, giữa các phân môn, vì vậy mà chưa phát triển được tư duy lô-gic và tư duy hệ thống Do đó, dù các em học rất chăm chỉ nhưng vẫn học kém Vì học phần sau đã quên phần trước, không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau Lại có nhiều học sinh khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, hay kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình Bởi vậy, rèn luyện cho các em có thói quen và kĩ năng sử dụng thành thạo SĐTD trong quá trình dạy học sẽ gúp học sinh có được phương pháp học tốt, phát huy tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy [09]
- SĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực Một số kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu
và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của
Trang 8mình Vì vậy sử dụng SĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não Việc học sinh trực tiếp vẽ SĐTD vừa lôi cuốn, hấp dẫn các em, đồng thời còn phát triển khiếu thẩm mĩ, óc hội họa, bởi
đó là “sản phẩm kiến thức hội họa” do chính các em tự làm ra, lại vừa phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của các em trong học tập, không rập khuôn một cách máy móc như khi lập các bảng biểu, sơ đồ, vì các em dễ dàng vẽ thêm các nhánh để phát triển ý tưởng riêng của mình Vì thế, tạo một không khí sôi nổi, hào hứng, say mê cho học sinh trong học tập Đây cũng là một trong những nội dung quan trọng của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ GD&ĐT đang triển khai thực hiện
- Sơ đồ tư duy chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các nhánh) Do đó, chúng ta có thể vận dụng Sơ đồ tư duy vào tất cả các khâu trong quá trình dạy học Từ khâu kiểm tra bài cũ, đến khâu dạy học kiến thức mới, hay khâu củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, rồi ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi học kì, kể cả việc kiểm tra bài cũ, kiểm tra 15 phút
- Sơ đồ tư duy, một công cụ có tính khả thi cao Ta có thể vận dụng được với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay nói chung Bởi vì ta có thể thiết kế Sơ đồ tư duy trên giấy, bìa, tờ lịch cũ, bảng phụ,… bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn màu, tẩy…hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm Sơ đồ tư duy (Mind Map) Với những trường đủ điều kiện về cơ sở vật chất như Máy chiếu Projecto, phòng máy vi tính đảm bảo, chúng ta có thể sử dụng phần mềm (Mind Map) để phục vụ cho việc dạy học có ứng dụng CNTT
Tóm lại, việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học sẽ giúp HS:
- Tăng sự hứng thú trong học tập
- Phát huy khả năng sáng tạo, năng lực tư duy của các em
- Tiết kiệm thời gian rất nhiều
- Nhìn thấy được bức tranh tổng thể
- Ghi nhớ tốt hơn
- Thể hiện phong cách cá nhân, dấu ấn riêng của mỗi em
1.6 Những hạn chế của Phương pháp dạy học theo sơ đồ hóa:
- Một số nội dung, định nghĩa, khái niệm khi sơ đồ hóa không truyền tải hết nội dung khoa học của vấn đề
- Sơ đồ hóa chưa phải là sự nhận thức đầy đủ về lý luận mà chỉ mới là công cụ để xây dựng lý luận Phải có sự kết hợp với các phương pháp khác để
mở rộng kiến thức, liên hệ với thực tiễn, gắn với các vấn đề đặt ra trong cuộc sống
- Nếu lạm dụng sơ đồ hóa sẽ gây ra tình trạng học sinh bị loạn trong kiến thức, mất phương hướng trong việc tiếp thu kiến thức bài giảng
- Với những giáo viên chưa sử dụng thành thạo máy tính và các phần mềm hỗ trợ thì việc sơ đồ hóa nội dung kiến thức trên máy tính là tương đối khó khăn
Trang 92 Cách sử dụng SĐTD trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học:
2.1 Làm quen với SĐTD:
* Đối với giáo viên: Ngoài việc tham dự các lớp tập huấn bồi dưỡng
chuyên môn nghiệp vụ có liên quan đến việc đổi mới PPDH, giáo viên cần nghiên cứu kĩ những tài liệu liên quan đến việc hướng dẫn sử dụng SĐTD và
phần mềm vẽ SĐTD Mind Map để có những tri thức cơ bản về nó (Hiểu biết về
SĐTD, cấu tạo, vai trò, tiện ích, phương pháp tạo lập, thiết kế, việc sử dụng nó trong quá trình dạy học ); đồng thời, giáo viên cần đầu tư thời gian vào việc tập
vẽ, cả vẽ trên giấy và trên phần mềm trong máy vi tính (Nhớ là phải nghiên cứu
kĩ cách sử dụng phần mềm để thực hiện thao tác cho nhanh nhẹn, thuần thục) Sau khi đã hiểu kĩ, nắm chắc về vai trò, công dụng của SĐTD, sử dụng thành thạo phần mềm, nắm vững phương pháp vẽ một SĐTD, thì việc ứng dụng nó vào quá trình dạy học là việc dễ dàng (Dĩ nhiên chuyện SĐTD đẹp hay xấu phụ thuộc vào sự tưởng tượng, liên tưởng, óc sáng tạo và năng khiếu mỗi người)
* Đối với học sinh: Người xưa có câu “Chưa học bò, chớ lo học chạy”.
Quả đúng như vậy Để có thể sử dụng tốt và phát huy một cách có hiệu quả SĐTD trong quá trình dạy học, trước hết, chúng ta cần cho học sinh làm quen với một số sơ đồ tư duy có sẵn, để chí ít các em có cái nhìn khái quát về nó (tiếp xúc nó, hiểu nó, rồi “bắt chước” vẽ nó) Đây là bước chuẩn bị hết sức quan trọng Tuy nhiên, rất nhiều giáo viên bỏ qua bước này hoặc giới thiệu một cách rất sơ sài, qua loa Vì thế, học sinh chưa hiểu biết cặn kẽ, cụ thể về nó, chưa nắm vững phương pháp tạo lập, chưa có kĩ năng vẽ SĐTD nên dẫn đến nhiều tiết dạy không thành công do các em mãi loay hoay với giấy bút mà không biết vẽ cái gì,
vẽ như thế nào, bắt đầu từ đâu, vì các em chưa hình dung được SĐTD của bài học trong đầu mình cũng như chưa biết cách thức, phương pháp vẽ
Vì vậy, theo tôi chúng ta cần dành thời gian hợp lý cho các em “làm quen”
với SĐTD, theo cách sau đây:
* Để tiết kiệm thời gian, lại khỏi phải làm cái công việc giới thiệu, hướng
dẫn cách vẽ SĐTD trở đi, trở lại hết lớp này đến lớp khác, giáo viên nên tham mưu cho Ban Giám hiệu nhà trường, hoặc Chuyên môn nhà trường, chọn thời gian thuận lợi ngay từ đầu năm học tổ chức một buổi ngoại khóa “Làm quen với
Sơ đồ tư duy” (Tùy theo tình hình cụ thể của từng đơn vị trường mà có thể tổ chức theo khối lớp giáo viên trực tiếp dạy, khối học sáng - chiều hoặc toàn trường) để giới thiệu, cho các em làm quen và hướng dẫn cách vẽ SĐTD cho các
em (Lưu ý rằng đây cũng là một bước tạo không khí sôi nổi, lôi cuốn các em tiếp cận với một phương pháp, kĩ thuật dạy học mới) Để buổi ngoại khóa thành công, giáo viên cần chuẩn bị tốt các nội dung sau:
+ Về phía học sinh, giáo viên cần nhắc nhở các em mang theo đầy đủ các dụng cụ: giấy vở, bìa lịch cũ, bìa cứng, bút chì, hộp màu, tẩy,
+ Về phía giáo viên, cần chuẩn bị trước: phòng máy, máy chiếu, bảng phụ, phấn màu, và một số SĐTD đã vẽ sẵn trên trên máy, trên giấy vở, trên
Trang 10bìa lịch, trên bảng phụ Sau đó, chúng ta bắt đầu tiến hành tổ chức nội dung theo các bước sau [02]:
Bước 1: “Làm quen”.
Giáo viên giới thiệu một số SĐTD vẽ sẵn cho học sinh làm quen (Nên chọn vẽ SĐTD ở những bài đã học trong chương trình cho các em vừa tiện theo dõi, tiếp thu tri thức về SĐTD, đồng thời vừa thuận lợi trong việc hệ thống hóa kiến thức, học sinh sẽ nhanh tiếp thu hơn vì các em đã học) Giáo viên giới thiệu cấu trúc SĐTD theo mạch kiến thức của bài học cho học sinh nắm, rồi hướng
dẫn cách vẽ một SĐTD (Cung cấp cho các em phương pháp vẽ SĐTD)
Bước 2: “Đọc hiểu”.
Giáo viên chọn những SĐTD có kết cấu đơn giản cho học sinh quan sát Sau đó, cho các em dựa vào SĐTD để thuyết trình nội dung bài học (kiến thức)
được vẽ trong sơ đồ (Luyện cho các em tư duy lô-gic, tư duy hệ thống và kĩ năng thuyết trình).
Bước 3: “Tập vẽ”.
- Giáo viên đưa ra chủ đề bằng từ khóa (hoặc hình ảnh) ở trung tâm màn hình (hoặc trên bảng đen) Ví dụ: Phương châm hội thoại, Từ (Xét về cấu tạo) Cho học sinh thực hành vẽ SĐTD trên giấy hoặc bìa lịch hay bảng phụ
- Giáo viên đặt các câu hỏi gợi ý để các em suy nghĩ và vẽ các nhánh cấp
1, cấp 2, cấp 3 (Luyện kĩ năng vẽ SĐTD)
* Lưu ý:
+ Giáo viên nên chọn những bài các em đã học, có kiến thức đơn giản, dễ nhớ, dễ vẽ
+ Giáo viên có thể linh hoạt cho học sinh vẽ theo nhóm vào bìa lịch, vẽ cá nhân vào giấy vở hoặc gọi 2-3 em lên bảng vẽ
+ Lưu ý các em không dùng câu, đoạn quá dài, nên thể hiện các ý bằng những cụm từ ngắn gọn
Bước 4: “Trang trí”
Sau khi các em vẽ xong sườn của SĐTD, giáo viên gợi ý cho các em vẽ chèn thêm những hình ảnh cần thiết để minh họa cho nội dung của sơ đồ, gợi ý cho các em chỉnh sửa đường nét, sử dụng màu sắc để phân biệt, làm nổi bật
mạng lưới các ý trong sơ đồ.(Kĩ năng hội họa - dấu ấn sáng tạo riêng)
* Lưu ý:
+ Giáo viên lưu ý học sinh khi vẽ SĐTD, các em nên kết hợp dùng màu sắc, đường nét, ngay trong quá trình vẽ để tiết kiệm thời gian
+ Không nên dùng quá nhiều màu, không dùng những màu sắc quá sặc sỡ, không quá chú trọng vào đường nét, hình ảnh làm lãng phí thời gian
Bước 5: “Chia sẻ kinh nghiệm”
- Ở bước này, giáo viên thu một số SĐTD các em vừa vẽ theo từng loại (Sơ đồ không triển khai đủ các ý chính, sơ đồ vẽ quá chi tiết đến vụn vặt, sơ đồ
vẽ không đúng trọng tâm kiến thức, sơ đồ dùng quá nhiều hình ảnh, màu sắc lòe loẹt, )
- Cho học sinh quan sát, nhận xét, góp ý chỉnh sửa, bổ sung