Trong cấu trúc mớinhất của đề thi THPT quốc gia năm 2017 môn Ngữ Văn rút xuống còn 120 phút,phần nghị luận xã hội được điều chỉnh như sau: - Từ yêu cầu viết một bài văn thành viết một đo
Trang 1M ỤC L ỤC Trang
A MỞ ĐẦU… 1
I Lí do chọn đề tài……… 1
II Mục đích nghiên cứu……… 1
III Đối tượng nghiên cứu, phạm vi đề tài……… 1
IV Phương pháp nghiên cứu……… 2
B NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 3
I.Cơ sở lí luận ……… 3
1.Khái niệm về đoạn văn……… 3
2 Cách thức triển khai ý trong đoạn văn……… 3
II Thực trạng của vấn đề……… 5
1 Thực trạng vấn đề……… 5
2 Kết quả của thực trạng……… 6
III Giải quyết vấn đề 6 1 Dạy học sinh cách nhận thức đề và tìm ý……… 6
2 Hướng dẫn học sinh cách viết đoạn văn nghị luận xã hội……… 8
3 Dạy học sinh cách viết từng phần trong đoạn văn….……… 10
4 Hướng dẫn học sinh cách sử dụng dẫn chứng trong đoạn văn NLXH… 14
5 Hướng dẫn học sinh thực hành đề……… 14
6 Dạy học sinh một số lưu ý viết đoạn văn NLXH 200 chữ đạt điểm cao 17
IV Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm……… 17
1 Về phía học sinh……… 17
2 Về phía giáo viên……… 18
C KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ………. 19
I Kết luận……… 19
II Kiến nghị……….……… 19
Tài liệu tham khảo…
A MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nghe, nói, đọc, viết là 4 kĩ năng ngôn ngữ mà mỗi người cần phải thành
thạo để giao tiếp và nghiên cứu Rèn luyện những kĩ năng ấy cũng là mục tiêu của bộ môn Ngữ Văn PGS TS Đỗ Ngọc Thống (Viện KHGD VN), tổng chủ biên chương trình môn Ngữ văn xoay quanh những điểm đổi mới của môn Ngữ
văn trong chương trình giáo dục phổ thông đang biên soạn đã khẳng định: Đối
với môn Ngữ văn, chương trình lần này sẽ có đổi mới cả về mục tiêu, quy trình xây dựng cũng như nội dung chương trình cho tới phương pháp giảng dạy và kiểm tra, đánh giá Về mục tiêu môn học, điểm khác biệt lớn nhất của chương trình lần này chính là coi trọng năng lực giao tiếp (với 4 kỹ năng chính là đọc, viết, nói và nghe) Thông qua việc hình thành và phát triển năng lực giao tiếp
mà giáo dục tâm hồn, nhân cách và khả năng sáng tạo văn học của học sinh
Trang 2năng lực tự chủ, năng lực giải quyết vấn đề sáng tạo… mà chương trình tổng thể đã đề ra Trong đó, năng lực giao tiếp ngôn ngữ là trục tích hợp để xây dựng xuyên suốt cả 3 cấp học.[4]
Làm Văn trong nhà trường trước kia chủ yếu là Nghị luận Văn học vớicác dạng bài phân tích, bình giảng, chứng minh, so sánh…Từ năm học 2008-
2009 khi phần Nghị luận xã hội được đưa vào đề thi đại học, việc rèn luyện kĩnăng viết bài nghị luận xã hội đã được chú trọng rèn luyện Trong cấu trúc mớinhất của đề thi THPT quốc gia năm 2017 môn Ngữ Văn rút xuống còn 120 phút,phần nghị luận xã hội được điều chỉnh như sau:
- Từ yêu cầu viết một bài văn thành viết một đoạn văn khoảng 200 chữ
- Nội dung nghị luận về một vấn đề xã hội được đề cập ở phần Đọc hiểu
- Phần NLXH còn lại là 2,0 điểm
Qua điều tra, tìm hiểu tôi thấy học sinh còn rất lúng túng khi viết đoạnvăn nghị luận xã hội Đa số các em chưa định hình được dung lượng 200 chữ làphải viết bao nhiêu? Nhiều hơn hoặc ít hơn 200 chữ có bị trừ điểm không? vàtrong khoảng thời gian ngắn, dung lượng ngắn, các em phải làm thế nào để đượctrọn vẹn 2 điểm?
Ở trên mạng cũng có rất nhiều bài hướng dẫn của các giáo viên cho họcsinh viết đoạn NLXH 200 chữ Tuy nhiên, khoảng cách giữa lí thuyết đến thựchành vẫn là vấn đề lớn đối với học sinh
Từ quá trình nghiên cứu lí thuyết và đúc rút từ thực tế giảng dạy của bảnthân, tôi muốn chia sẻ với đồng nghiệp kinh nghiệm: Hướng dẫn học sinh viếtđoạn văn nghị luận 200 chữ trong đề thi THPT Quốc gia
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Thực hiện đề tài này, người viết hướng tới mục đích:
- Hệ thống một cách khoa học những yêu cầu cần đạt đối với đoạn văn nghịluận xã hội 200 chữ
- Chia sẻ với đồng nghiệp kinh nghiệm để ôn tập phần NLXH 200 chữ có hiệuquả cho học sinh THPT nói chung và đặc biệt là học sinh lớp 12 nói riêng
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, PHẠM VI ĐỀ TÀI.
- Đề tài tập trung nghiên cứu phần đoạn văn Nghị luận xã hội 200 chữ trong cấutrúc đề thi THPT Quốc gia năm học 2016-2016
- Các kết quả khảo sát được tiến hành tại các trường THPT trên địa bàn huyệnTriệu Sơn mà chủ yếu là tại trường THPT Triệu Sơn 2
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Khi thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu :
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: tìm kiếm, nghiên cứu các tài liệu
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: khảo sát, thống kê, phân tích, so sánh sốliệu
Trang 3B NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I CƠ SỞ LÍ LUẬN
1 Khái niệm về đoạn văn:
- Về nội dung:
Đoạn văn là một phần của văn bản, nó diễn đạt ý hoàn chỉnh ở một mức
độ nào đó logic ngữ nghĩa [1] Tuy nhiên, đoạn văn Nghị luận xã hội 200 chữcần bám sát yêu cầu của đề và dựa trên nội dung thông điệp ở phần đọc hiểu
- Về hình thức:
Đoạn văn luôn luôn hoàn chỉnh Sự hoàn chỉnh đó thể hiện ở những điểmsau: Một đoạn văn được bắt đầu từ chữ cái viết hoa lùi đầu dòng đến chỗ chấmxuống dòng.[1]
Trang 42 Cách thức triển khai ý trong đoạn văn
Đoạn văn diễn dịch (Có câu chủ đề): Đoạn diễn dịch là đoạn văn trong
đó câu chủ đề mang ý nghĩa khái quát đứng ở đầu đoạn, các câu còn lại triển
khai cụ thể ý của câu chủ đề, bổ sung, làm rõ cho câu chủ đề Các câu triển khaiđược thực hiện bằng các thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận,
có thể kèm theo nhận xét, đánh giá và bộc lộ cảm nhận của người viết
Đoạn văn qui nạp (Có câu chủ đề): Đoạn qui nạp là đoạn văn được trình
bày đi từ các ý nhỏ đến ý lớn, từ các ý chi tiết đến ý khái quát, từ ý luận cứ cụthể đến ý kết luận bao trùm Theo cách trình bày này, câu chủ đề nằm ở vị
trí cuối đoạn Ở vị trí này, câu chủ đề không làm nhiệm vụ định hướng nội
dung triển khai cho toàn đoạn mà lại làm nhiệm vụ khép lại nội dung cho đoạn
ấy Các câu trên được trình bày bằng các thao tác lập luận, minh họa, cảm nhận
và rút ra nhận xét đánh giá chung
VD:
Những đứa con từ khi sinh ra đến khi trưởng thành, phần lớn thời gian làgần gũi và thường là chịu ảnh hưởng từ người mẹ hơn từ cha Chúng được mẹcho bú sữa, bồng ẵm, dỗ dành, tắm giặt, ru ngủ, cho ăn uống, chăm sóc rất nhiềukhi ốm đau…Với việc nhận thức thông qua quá trình bé tự quan sát, học hỏi tựnhiên hàng ngày và ảnh hưởng đặc biệt các đức của người mẹ, đã hình thành dầndần bản tính của đứa con theo kiểu “mưa dầm, thấm lâu” Ngoài ra, những đứatrẻ thường là thích bắt chước người khác thông qua những hành động của người
gần gũi nhất chủ yếu là người mẹ Chính người phụ nữ là người chăm sóc và giáo dục con cái chủ yếu trong gia đình (Trần Thanh Thảo) [ 4]
Đoạn tổng – phân – hợp (Có câu chủ đề ở đầu và cuối đoạn văn): Đoạn
tổng – phân – hợp là đoạn văn phối hợp diễn dịch với qui nạp Câu mở đầu đoạnnêu ý khái quát bậc một, các câu tiếp theo triển khai cụ thể ý khái quát Câu kếtđoạn là ý khái quát bậc hai mang tính chất nâng cao, mở rộng Những câu triểnkhai ý được thực hiện bằng các thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bìnhluận, nhận xét, đánh giá hoặc nêu suy nghĩ…để từ đó đề xuất nhận định đối vớichủ đề, tổng hợp, khẳng định, năng cao vấn đề
Trang 5Thế đấy, biển luôn luôn thay đổi màu tùy theo sắc mây trời Trời xanh
thẳm, biển cũng xanh thẳm, như dâng cao lên, chắc nịch Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu hơi sương Trời âm u mây mưa, biển xám xịt, nặng nề.
Trời ầm ầm dông gió, biển đục ngầu giận dữ…Như một con người biết buồn
vui, biển lúc tẻ nhạt, lạnh lung, lúc sôi nổi, hả hê, lúc đăm chiêu, gắt gỏng.
(Vũ Tú Nam) [4]
Đoạn văn song hành (Không có câu chủ đề): Đây là đoạn văn có các câu
triển khai nội dung song song nhau, không nội dung nào bao trùm lên nội dungnào Mỗi câu trong đoạn văn nêu một khía cạnh của chủ đề đoạn văn, làm rõ chonội dung đọan văn
VD:
Trong tập “Nhật kí trong tù”(Hồ Chí Minh), có những bài phác họa sơ sài
mà chân thực đậm đà, càng tìm hiểu càng thú vị như đang chiêm ngưỡng mộtbức tranh cổ điển Có những bài cảnh lồng lộng sinh động như những tấm thảmthuê nền gấm chỉ vàng Cũng có những bài làm cho người đọc nghĩ tới nhữngbức tranh sơn mài thâm trầm, sâu sắc (Lê Thị Tú An) [4]
Đoạn văn móc xích: Đoạn văn có kết cấu móc xích là đoạn văn mà các ý
gối đầu, đan xen nhau và thể hiện cụ thể bằng việc lặp lại một vài từ ngữ đã có ởcâu trước vào câu sau Đoạn móc xích có thể có hoặc không có câu chủ đề.VD: Đọc thơ Nguyễn Trãi, nhiều người đọc khó mà biết có đúng là thơ NguyễnTrãi không Đúng là thơ Nguyễn Trãi rồi thì cũng không phải là dễ hiểu đúng.Lại có khi chữ hiểu đúng, câu hiểu đúng mà toàn bài không hiểu Không hiểu vìkhông biết chắc bài thơ bài thơ được viết ra lúc nào trong cuộc đời nhiều nổichìm của Nguyễn Trãi Cũng một bài thơ nếu viết năm 1420 thì có một ý nghĩa,nếu viết năm 1430 thì nghĩa khác hẳn (Hoài Thanh) [ 4]
Đối với đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ trong đề thi THPT Quốc giahọc sinh nên chọn triển khai theo cách diễn dịch, quy nạp hoặc tổng-phân-hợp
II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
1 Thực trạng của vấn đề
Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội là một nội dung quantrọng trong chương trình Ngữ Văn từ cấp học cơ sở đến THPT Trong chươngtrình Ngữ Văn 12 có hẳn bài Nghị luận về một tư tưởng đạo lí và bài Nghị luận
về một hiện tượng đời sống Điều đó giúp giáo viên hệ thống kiến thức và đưa racách làm bài NLXH cho học sinh Việc hướng dẫn học sinh viết bài văn nghịluận xã hội được giáo viên thực hiện trong các giờ dạy học chính khóa vàchuyên đề ôn tập trong chương trình học thêm
Trang 6Tuy nhiên, sự điều chỉnh của bộ giáo dục trong năm học 2016-2017 vềcấu trúc đề thi môn Văn nói chung và phần NLXH nói riêng cũng khiến học sinh
ít nhiều lúng túng Bởi lâu nay học sinh quen với cách làm bài văn nghị luận xãhôi khoảng 200-300 từ nghĩa là khoảng 600 chữ Với dung lượng ấy, học sinhthỏa sức trình bày ý kiến của mình qua hệ thống lập luận và dẫn chứng phongphú Đến giờ trong một đoạn văn khoảng 200 chữ nghĩa là chỉ khoảng 2/3 tranggiấy thi học sinh phải trình bày một cách thuyết phục quan điểm của mình vềmột vấn đề xã hội tức là về bản chất nó cũng giống như một bài NLXH thu nhỏ.Vậy nên giáo viên phải dạy cho học sinh cách cô đọng ý trong những câu vănmạch lạc, rõ ràng và học sinh phải tập viết “co lại” trong phạm vi thời gian từ20-25 phút
Qua khảo sát thực tế tôi thấy thực trạng dạy học phần rèn luyện kĩ năngviết đoạn văn NLXH 200 chữ có những đặc điểm sau:
1.1 Về phía học sinh
- Vì kĩ năng viết bài văn NLXH đã định hình khá ổn định trong tư duy của các
em, học sinh quen viết dàn trải nên yêu cầu co ngắn lại khoảng 20 dòng là khôngdễ
- Viết 20 dòng để bày tỏ ý kiến của mình không khó nhưng làm sao để tạo nêntính thuyết phục và đáp ứng yêu cầu mà đề bài hướng tới với học sinh không dễ
- Cá biêt có học sinh còn chưa biết một đoạn văn là thế nào, vẫn xuống dòng,tách đoạn mà không biết đã làm sai yêu cầu
1.2 Về phía giáo viên
Trong SGK Ngữ Văn THPT hiện nay không có bài riêng hướng dẫn họcsinh viết đoạn văn nghị luận về một vấn đề xã hội Vì thế, giáo viên dạy NgữVăn ở các trường THPT chúng tôi đang dạy phần này theo cách sau:
- Tham khảo các tài liệu, các đáp án thi thử của các trường và trao đổi kinhnghiệm của đồng nghiệp để hình thành “bộ khung” thống nhất cho đoạn văn 200chữ đối với 2 kiểu bài NLXH: NL về một tư tưởng đạo lí và NL về một hiệntượng đời sống
- Khi Bộ GD&ĐT đưa ra đề minh họa đã bám sát đáp án để điều chỉnh nội dung
và cách làm cho phù hợp
- Tranh thủ thời gian trên lớp, trong các giờ chính khóa và giờ học thêm đểhướng dẫn kĩ năng làm bài đồng thời xây dựng hệ thống đề để học sinh thựchành
Trang 7Kết quả như sau:
- Về hình thức: Đa số các em viết đúng yêu cầu về hình thức 1 đoạn văn và đảmbảo về dung lượng khoảng 200 chữ Vẫn còn một số học sinh viết chưa đúngyêu cầu: tách đoạn, viết quá dài hay quá ngắn…
- Về nội dung: Các em hiểu nội dung vấn đề nhưng lúng túng ở các khâu sau:đặt vấn đề và giải thích dài dòng; phần bình luận sơ sài, dẫn chứng nhiều bàikhông có…
Bảng thống kê điểm kiểm tra:
* Yêu cầu chung của nhận thức đề là đọc kĩ đề bài và xác định:
- Nội dung cần nghị luận
- Kiểu bài nghị luận
- Thao tác LL
- Phạm vi dẫn chứng
Nhận thức đề là khâu quan trọng hàng đầu khi làm văn nghị luận nóichung và NLXH nói riêng Nhận thức đề giúp học sinh không viết lạc đề
* Những chú ý khi nhận thức đề viết đoạn văn 200 chữ NLXH
- Về nội dung: Đề bài có thể trích dẫn hoặc không trích dẫn câu văn trong phần
đọc hiểu
+ Thứ nhất: Phải xác định được đề bài yêu cầu viết về vấn đề gì? (nội dung củađoạn văn).Đây là yêu cầu quan trọng nhất, đòi hỏi người viết phải bày tỏ quanđiểm cá nhân rõ ràng Đối với dạng “đề nổi” , học sinh có thể dễ dàng nhận raphạm vi nội dung và phương pháp lập luận Đối với dạng đề chìm, học sinh phảiđọc kĩ nội dung văn bản để xác định
+ Thứ hai: Cần phải có dẫn chứng thuyết phục bằng các ví dụ cụ thể trong đờisống
+ Thứ ba: Phải đánh giá và nêu thái độ của người viết trước vấn đề đang bànluận Cần nêu ra những bài học nhận thức sau khi bàn luận
Trang 8+ Viết 1 đoạn văn 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh chị về ý nghĩa câu chuyệnđược trích dẫn ở phần đọc hiểu : NGƯỜI ĂN XIN
Một người ăn xin đã già Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông giàn giụa, đôi môitái nhợt áo quần tả tơi Ông chìa tay xin tôi Tôi lục hết túi nọ đến túi kia, không
có lấy một xu, không có cả khăn tay, chẳng có gì hết Ông vẫn đợi tôi Tôi chẳngbiết làm thế nào Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tanóng hổi của ông: – Xinông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả Ông nhìn tôi chăm chăm đôimôi nở nụ cười: Cháu ơi,cảm ơn cháu!Như vậy là cháu đã cho lão rồi Khi ấy tôichợt hiểu ra: cả tôi nữa tôi cũng vừa nhận được một cái gì đó của ông (TheoTuốc- ghê- nhép) [4]
Với đề bài này, học sinh cần hiểu ý nghĩa câu chuyện, xác định vấn đề nghị luận
và thao tác lập luận chủ yếu: HS tự do bày tỏ cảm nhận của bản thân: Có thể HStrình bày về giá trị của tình yêu thương, sự đồng cảm trong cuộc sống Có thể
HS trình bày bài học về một thái độ, cách ứng xử, ý thức cho và nhận của conngười trong cuộc sống Có thể HS trình bày lời chia sẻ với những số phận bấthạnh…
- Về hình thức:
+ Thứ nhất : Đề bài yêu cầu viết đoạn văn 200 chữ, học sinh cần trình bày trong
1 đoạn văn (không được ngắt xuống dòng), dung lượng an toàn khoảng 2/3 tờgiấy thi (khoảng trên dưới 20 dòng viết tay), có thể nhiều hơn 1 vài dòng cũngkhông bị trừ điểm
+ Thứ hai: Đoạn văn phải đảm bảo bố cục ba phần: Đặt vấn đề - Giải quyết vấn
đề - Kết thúc vấn đề
+ Thứ ba: Đoạn văn sử dụng các thao tác lập luận: Giải thích – Phân tích –Chứng minh – Bình luận – Bác bỏ - Bình luận mở rộng
+ Diễn đạt phải trong sáng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp
1 2 Tìm ý cho đoạn văn
Thực tế khi viết bài thi học sinh thường bỏ qua việc tìm ý và lập dàn ý.Nhưng trong khi hướng dẫn học sinh giáo viên phải tập cho học sinh kĩ năngnày Bởi kĩ năng này khi học sinh đã thành thạo sẽ giúp học sinh dù không đặtbút lập dàn ý nhưng trong đầu đã “lập trình” sẵn Nó sẽ giúp học sinh tư duymạch lạc
Những điểm cần chú ý khi lập dàn ý:
Trang 9- Xác định sẽ viết những nội dung cụ thể gì (ý chính)? (Căn cứ vào cách viếtđoạn văn NLXH về tư tưởng đạo lí hay hiện tượng đời sống để tìm ý).
- Ghi ra giấy nháp những ý chính của đoạn văn (theo hệ thống các thao tác lậpluận)
2 Hướng dẫn học sinh cách viết đoạn văn nghị luận xã hội
2.1 Cách viết đoạn văn Nghị luận về một tư tưởng đạo lí.
* Đặc điểm
- Nội dung
+ Vấn đề nhận thức: lí tưởng, mục đích sống, nghề nghiệp, ước mơ…
+ Vấn đề về đạo đức, tâm hồn, tính cách: lòng yêu nước, lòng nhân ái, vị tha,
bao dung, độ lượng; tính trung thực, dũng cảm, chăm chỉ, cần cù, thái độ hòanhã, khiêm tốn; thói ích kỉ, ba hoa, vụ lợi…
+Vấn đề về các quan hệ gia đình: tình mẫu tử, tình phụ tử, tình anh em…
+ Vấn đề về các quan hệ xã hội: tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn…
+Vấn đề về cách ứng xử, đối nhân xử thế của con người trong cuộc sống
Bước 1: Giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận
Bước 2: Bình luận, chứng minh
Bước 3: Bàn bạc mở rộng, phê phán
Bước 4: Rút bài học nhận thức và hành động
- Kết đoạn: Khẳng định chung về tư tưởng, đạo lí đã bàn luận ở thân bài.
* Học sinh có thể tham khảo mô hình cấu trúc một đoạn văn NLXH 200 chữ về
một tư tưởng đạo lí của trang nguvan.tuhoctv.com sau:
Trang 102.2 Cách viết đoạn văn nghị luận về một hiện tượng đời sống
* Yêu cầu cần đạt.
Yêu cầu của kiểu bài này là học sinh cần làm rõ hiện tượng đời sống ( quaviệc miêu tả, phân tích nguyên nhân, các khía cạnh của hiện tượng…) từ đó thểhiện thái độ đánh giá của bản thân cũng như đề xuất ý kiến, giải pháp trước hiệntượng đời sống
Ngoài việc trang bị cho mình những kỹ năng làm bài, học sinh cần tích lũynhững vốn hiểu biết thực tế về đời sống xã hội
*Các bước làm bài.
- Mở đoạn: giới thiệu hiện tượng
- Thân đoạn:
Bước 1: Miêu tả hiện tượng được đề cập đến trong bài
+ Giải thích ( nếu trong đề bài có khái niệm, thuật ngữ hoặc các ẩn dụ, hoán dụ,
so sánh…)cần làm rõ để đưa ra vấn đề bàn luận
+ Chỉ ra thực trạng ( biểu hiện của thực trạng)
Bước 2: Phân tích tác hại, các mặt đúng – sai, lợi – hại của vấn đề
Bước 3: Chỉ ra nguyên nhân