1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Áp dụng phương pháp xây dựng đề kiểm tra đánh giá năng lực học sinh bằng trắc nghiệm khách quan vào bài 15 phút số 1 học kì 1 môn đại số 10 (chương trình chuẩn)

19 283 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 405 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với cương vị là tổ trưởng chuyên môn, phụ trách hướng dẫn các thành viên trong tổ làm tốt nhiệm vụ ra đề trắc nghiệm khách quan, tôi đã đề xuất sáng kiến kinh nghiệm: “Áp dụng phương phá

Trang 1

M C L CỤC LỤC ỤC LỤC

1 MỞ ĐẦU 2

1.1 Lý do chọn đề tài 2

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu 2

2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3

2.1 Cơ sở lý luận 3

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3

2.2.1 Giới thiệu khái quát về trường 3

2.2.2 Thực trạng trước khi nghiên cứu 4

2.2.3 Kết quả của thực trạng 7

2.3 Các giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề 7

2.3.1 Cơ sở lý thuyết 7

2.3.1.1 Phương pháp xây dựng một đề kiểm tra trắc nghiệm 7

2.3.1.2 Các bước xây dựng một đề kiểm tra trắc nghiệm 8

2.3.1.4 Các bước biên soạn câu hỏi trắc nghiệm 8

2.3.1.5 Nội dung câu hỏi trắc nghiệm 9

2.3.1.6 Yêu cầu đối với câu hỏi trắc nghiệm 9

2.3.2 Áp dụng vào việc xây dựng bài kiểm tra 15 phút số 1 học kì I 10

2.3.2.1 Mục tiêu 10

2.3.2.2 Xây dựng ma trận nhận thức 10

2.3.2.3 Xây dựng các câu hỏi trắc nghiệm: 10

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 16

3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 17

3.1 Kết luận 17

3.2 Kiến nghị 17

TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 2

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài

Năm 2014-2015 Đại học Quốc Gia Hà Nội đi đầu trong việc đổi mới kiểm tra đánh giá bằng hình thức trắc nghiệm khách quan Năm 2016-2017

Bộ Giáo Dục và Đào Tạo quyết định tổ chức thi THPT Quốc Gia môn Toán theo hình thức TNKQ Trước tình hình đó các nhà trường THPT trên cả nước, trong đó trường THPT Đặng Thai Mai của chúng tôi cũng không phải ngoại lệ, buộc phải thích ứng và đổi mới các hình thức kiểm tra đánh giá Chúng tôi phải xây dựng các đề kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kì môn Toán dưới dạng trắc nghiệm hoàn toàn hoặc có một phần trắc nghiệm Tuy nhiên một yêu cầu đặt ra với tất cả giáo viên là cần nắm bắt thật vững phương pháp ra đề trắc nghiệm, điều mà không phải ngày một ngày hai là có thể làm tốt được Với cương vị là tổ trưởng chuyên môn, phụ trách hướng dẫn các thành viên trong tổ làm tốt nhiệm vụ ra đề trắc nghiệm khách quan, tôi đã đề

xuất sáng kiến kinh nghiệm: “Áp dụng phương pháp xây dựng đề kiểm tra đánh giá năng lực học sinh bằng trắc nghiệm khách quan vào bài 15 phút

số 1 học kì 1 môn Đại số 10 (Chương trình chuẩn)”.

1.2 Mục đích nghiên cứu

Sáng kiến kinh nghiệm này giúp giáo viên nắm vững các bước ra đề và nắm vững việc biên soạn các câu hỏi TNKQ môn Toán vào bài kiểm tra số 1 môn Đại số, chương trình chuẩn Qua đó nắm vững việc ra đề TNKQ môn Toán nói chung

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Sáng kiến kinh nghiệm này có đối tượng nghiên cứu là việc xây dựng bài kiểm tra 15 phút số 1 môn Đại số 10 chương trình chuẩn

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để trình bày sáng kiến kinh nghiệm này, tôi đã sử dụng phối hợp nhiều phương pháp như: nghiên cứu tài liệu, thuyết trình, quan sát, điều tra cơ bản, thực nghiệm so sánh, phân tích kết quả thực nghiệm,… phù hợp với môn học thuộc lĩnh vực Toán học

Trang 3

2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận

Nghị quyết hội nghị Trung ương VIII khóa XI chỉ đạo: “Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo đảm bảo trung thực, khách quan Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối năm học; Đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; Đánh giá cả nhà trường với đánh giá của gia đình và xã hội”

Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 ban hành kèm theo Quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng chính phủ chỉ rõ:

“Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh gia kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học; Đổi mới kì thi tốt nghiệp THPT, kì thi tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng đảm bảo thiết thực, hiệu quả, khách quan và công bằng; kết hợp kết quả kiểm tra , đánh giá trong quá trình giáo dục với kết quả thi”

Việc đổi mới kiểm tra đánh giá năng lực học sinh cũng là một trong yếu

tố quan trọng góp phần đổi mới phương pháp dạy học

Nếu giáo viên nắm vững phương pháp ra đề kiểm tra thì sẽ đánh giá chính xác năng lực của học sinh, qua đó có phản hồi tích cực đối với công tác dạy học của mình Từ đó người giáo viên có biện pháp điều chỉnh phương pháp dạy của mình cho phù hợp với từng đối tượng học sinh để đem lại hiệu quả cao nhất

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

2.2.1 Giới thiệu khái quát về trường

Trường THPT Đặng Thai Mai được thành lập ngày 20/08/2001, theo quyết định số: 2109/QĐ-UB của Chủ tịch UBND Tỉnh Thanh Hoá Trường nằm ngay trên đường quốc lộ 1A, thuộc km 12 từ thành phố Thanh Hóa xuống phía Nam, thuộc địa bàn xã Quảng Bình, huyện Quảng Xương, tỉnh

Trang 4

Thanh Hóa, nơi đa số phụ huynh học sinh làm nông nghiệp, điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn Ban đầu trường hoạt động theo mô hình trường bán công, chất lượng đầu vào của học sinh thấp, chủ yếu là học sinh trung bình, yếu Mặc dù ngày 31 tháng 5 năm 2010 chủ tịch tỉnh Thanh hóa có quyết định chuyển đổi trường THPT Đặng Thai Mai sang hình thức công lập nhưng chất lượng đầu vào của học sinh vẫn còn thấp so với các trường trong huyện

Trong những năm gần đây nhà trường cũng đã có nhiều thành tích nổi bật như: Năm học 2013 – 2014 được UBND Tỉnh Thanh Hóa tặng bằng khen

- QĐ số 3645/QĐ- UBND, ngày 30/10/2014 Năm học 2014 - 2015 đón cờ thi đua của UBND Tỉnh về đơn vị dẫn đầu, QĐ số 3335/QĐ UBND tỉnh Thanh Hoá ngày 1/9/2015

2.2.2 Thực trạng trước khi nghiên cứu

Thông thường khi ra đề trắc nghiệm môn Toán người giáo viên thường

ra theo kinh nghiệm chủ quan của mình, thường ra dưới dạng “tự luận trá hình” nghĩa là trắc nghiệm nhưng hầu như học sinh phải tham gia giải tự luận rồi mới cho ra kết quả Giáo viên thường không có ma trận, hoặc nếu có ma trận cũng không làm đúng yêu cầu Họ thường lẫn lộn các khái niệm như nhận biết và thông hiểu, thông hiểu và vận dụng hoặc vận dụng và vận dụng cao Đôi khi họ cứ quan niệm phải có bài toán thực tế mới là bài toán vận dụng cao và thường không bám vào chuẩn kiến thức kỹ năng Bên cạnh đó việc sắp xếp các câu hỏi theo các mức độ cũng không theo trình tự từ dễ đến khó, không căn được thời gian với các câu hỏi, điều đó gây nhiều khó khăn cho phần lớn học sinh có lực học từ trung bình trở xuống Vì vậy việc kiểm tra không đánh giá đúng năng lực của học sinh, làm cho các em không hứng thú học tập bộ môn khi kết quả thấp hơn so với khả năng của các em

Xét một đề kiểm tra 15 phút (TNKQ) chương 1 đại số 10 (chương trình

cơ bản) của một giáo viên trong tổ tôi như sau:

Câu 1: Cho A và B là hai tập hợp có hữu hạn phần tử và AB B

Lựa chọn phương án đúng

A A \ B  B BA C AB A D B 

Trang 5

Câu 2: Nếu P là tập hợp có hữu hạn phần tử Kí hiệu P là số lượng phần tử

của P Giả sử A, B là hai tập hợp có 5 và 3 phần tử tương ứng

Lựa chọn phương án đúng

A A \ B 2 B A B 8  C B \ A 0 D A B 3 

Câu 3: Cho các tập hợp A, B và C, với A là tập các số nguyên chia hết cho 6;

B là tập các số nguyên chia hết cho 2; C là tập các số nguyên chia hết cho 3 Lựa chọn phương án đúng

A AB B AB C C A C B  D B C A 

Câu 4: Cho các tập hợp:

A là tập các số nguyên dương chia hết cho 3

B là tập hợp các số nguyên dương chia hết cho 7

C là tập hợp các số nguyên dương chia hết cho 6

D là tập hợp các số nguyên dương chia hết cho 21

E là tập hợp các số nguyên dương chia hết cho 18

Lựa chọn phương án đúng

A A C E B.A  C C.A C E D A B D   

Câu 5: Cho A và B là hai tập con của R, sao cho AB

Lựa chọn phương án đúng

A C AC B B.A B B  C.AB A D A C B  

Câu 6: Cho Aa, b, c , B b, c, d C b, c, e .

Lựa chọn phương án đúng

Câu 7: Cho hai tập hợp Ax R 0 x 2 , B    x R 2 x 3   

 

Trang 6

Câu 8: Cho tập hợp: Ax R 2 x 4 ; B    x R 3 x 4   

Lựa chọn phương án đúng

Câu 9: Cho A và B là hai tập hợp có hữu hạn phần tử và A\ B = A

Lựa chọn phương án đúng

A A B

B A B A

C B A , ( A , B kí hiệu tương ứng là số phần tử của các tập hợp A và B)

D B 

Câu 10: Cho AR, BR, A B  Lựa chọn phương án đúng

A C AB B C A C B C A C B D C AC B

Để đánh giá chất lượng đề trên ta có thể thiết lập ma trận như sau:

Tập hợp 0

0

3 3

6 6

1 1

10 10 Nhìn vào ma trận trên ta thấy tỉ lệ nhận thức là 0: 3: 6: 1 là chưa hợp lý Chưa có câu nhận biết (dành cho học sinh yếu kém) Phần vận dụng quá nhiều (7 điểm) Với mức độ này thì sẽ không đánh giá được đúng năng lực học sinh Chỉ học sinh khá giỏi mới có thể đạt được từ 4 điểm trở lên, còn học sinh trung bình chỉ có thể đạt được từ 3 điểm trở xuống Theo đề thì ta thấy có những kí hiệu không có trong chuẩn kiến thức kỹ năng như A ( số phần tử thuộc tập hợp A) Nhiều kí hiệu toán học bằng chữ không được in nghiêng, ví

dụ tập hợp A, B…

Theo bản thân tôi, một bài kiểm tra đạt chuẩn phải là một bài đánh giá chính xác năng lực của học sinh, trong đó phải có sự phân loại từ khá giỏi đến trung bình, yếu kém Phải có ma trận kiến thức, các câu hỏi phải bám sát chuẩn kiến thức, phải phù hợp với các mức độ đặt ra, thời gian giành

Trang 7

cho từng câu phải được dự tính cẩn thận và phù hợp với khung thời gian tổng thể Câu hỏi phải được sắp xếp theo thứ tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp

2.2.3 Kết quả của thực trạng

Từ thực trạng trên dẫn đến:

- Nếu giáo viên không làm tốt khâu ra đề thì sẽ không đánh giá chính xác năng lực học sinh Từ đó không có phản hồi tích cực trong công tác giảng dạy, không kích thích tính được tích cực ở học sinh khá giỏi, động viên học sinh lực học từ trung bình trở xuống

- Nếu đề ra không bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng thì sẽ không phù hợp với yêu cầu của Bộ Học sinh sẽ không đáp ứng được trong các kì thi quốc gia

- Nếu đề không có ma trận thì sẽ không đánh giá đúng trọng tâm kiến thức, năng lực cần đạt ở mỗi học sinh

- Nếu không phân phối thời gian hợp lý ở các câu thì sẽ dễ dẫn đến tình trạng học sinh làm không đủ thời gian hoặc hoàn thành quá sớm

- Nếu không sắp xếp câu hỏi theo thứ tự dễ trước, khó sau thì dễ gây khó khăn cho học sinh từ trung bình trở xuống, có thể việc đánh giá không đáp ứng được yêu cầu

Kết quả kiểm tra các đề kiểm tra TNKQ do giáo viên trong tổ xây dựng khi nạp về lần đầu có đến 75% là chưa đạt chuẩn

2.3 Các giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề

2.3.1 Cơ sở lý thuyết

2.3.1.1 Phương pháp xây dựng một đề kiểm tra trắc nghiệm

(Theo tài liệu bồi dưỡng giáo viên THPT về Kỹ năng xây dựng ma trận, biên soạn câu hỏi, bài tập đề kiểm tra, đề thi THPT Quốc gia môn Toán của Sở giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa-Năm 2016)

2.3.1.2 Các bước xây dựng một đề kiểm tra trắc nghiệm

- Bước 1: Xác định đối tượng và yêu cầu của đề kiểm tra

Trang 8

- Bước 2: Xây dựng ma trận của đề kiểm tra.

- Bước 3: Xây dựng câu hỏi trắc nghiệm tương ứng với ma trận, nên biên soạn theo từng chủ đề có trong ma trận

- Bước 4: In đề kiểm tra và thẩm định tính chính xác của các câu hỏi trong đề thi (nên là một người khác)

- Bước 5: Trộn đề thi, chỉnh sửa định dạng của đề thi chính thức, xuất đáp án

2.3.1.3 Yêu cầu đối với đề kiểm tra

- Đề thi phải đảm bảo chính xác khoa học, phù hợp với đối tượng thí sinh

- Phông chữ trong đề thi phải đảm bảo giống nhau, cùng một cỡ chữ, độ giãn dòng hợp lí

- Trình bày đúng yêu cầu của trình bày văn bản, đặc biệt là dấu cách trước và sau dấu chấm, dấu phẩy Đối với các kí hiệu Toán học thì phần chữ được viết bằng chữ in nghiêng, phần số được viết bẵng chữ in thẳng

- Nên căn chỉnh đề thi sao cho tránh việc sang trang mới mà chỉ có vài

dòng, gây ra sự lãng phí không cần thiết

- Đáp án nên để tất cả các mã đề ở trong một trang văn bản

2.3.1.4 Các bước biên soạn câu hỏi trắc nghiệm

Để biên soạn một câu hỏi trắc nghiệm môn Toán thuộc loại “4 lựa chọn,1 lựa chọn đúng” theo đúng quy trình, cần thực hiện lần lượt các bước sau:

- Bước 1: Xác định cấp độ nhận thức của câu hỏi muốn biên soạn

- Bước 2: Xác định nội dung kiến thức muốn kiểm tra

- Bước 3: Xây dựng tình huống Toán học đáp ứng các yêu cầu đặt ra ở

2 bước trên

- Bước 4: Xác định dạng thức của câu hỏi

- Bước 5: Xây dựng 4 phương án trả lời trong đó gồm có 1 phương án trả lời đúng và 3 phương án trả lời sai( được gọi là phương án gây nhiễu)

Trang 9

Lưu ý : Phương án nhiễu phải xây dựng dựa trên các sai lầm thường gặp của

học sinh Độ dài của các phương án phải gần bằng nhau Tránh tình trạng phương án đưa ra buộc học sinh phải giải nhiều bài toán khác nhau hoặc chỉ

dùng suy luận loại trừ hết cả 3 phương án

2.3.1.5 Nội dung câu hỏi trắc nghiệm

Nội dung câu hỏi trắc nghiệm được trình bày theo hai phần:

- Phần 1: Mô tả tình huống nói tới ở bước 3(còn gọi là câu dẫn)

- Phần 2: Nêu 4 phương án trả lời ở bước 5

2.3.1.6 Yêu cầu đối với câu hỏi trắc nghiệm

Một câu hỏi trắc nghiệm được coi là đạt yêu cầu nếu đáp ứng đầy đủ các điều sau đây:

- Mỗi câu chỉ nên kiểm tra một chuẩn, một khái niệm

- Câu dẫn được trình bày rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu, phù hợp với khả năng nhận thức của người làm bài

- Nội dung của câu dẫn đảm bảo chính xác khoa học, có nội dung kiến thức nằm trong phạm vi nội dung đã được quy định, bám sát chuẩn kiến thức

và kĩ năng mà người làm bài phải đạt được theo quy định của các cấp có thẩm quyền

- Để thực hiện được yêu cầu đặt ra trong câu hỏi, người làm phải sử dụng hết các giả thiết đã cho trong tình huống (các phương án trả lời được coi

là một phần của giả thiết đó)

- Các phương án nhiễu phải có độ hấp dẫn gần như ngang nhau và mỗi phương án nhiễu phải thể hiện được cụ thể những khiếm khuyết trong việc nhớ, hiểu các kiến thức có liên quan tới tình huống đặt ra trong câu hỏi, hoặc khiếm khuyết về khả năng, kĩ năng sử dụng các kiến thức đó để giải quyết tình huống ấy, của người đã chọn phương án đó làm câu trả lời

- Thời gian dùng để đọc và hiểu câu dẫn được tính vào thời gian làm bài tối đa cho câu hỏi

Trang 10

2.3.2 Áp dụng vào việc xây dựng bài kiểm tra 15 phút số 1 học kì I

(Đại số 10 - chương trình chuẩn)

2.3.2.1 Mục tiêu

Kiểm tra về lý thuyết mệnh đề, tập hợp, các phép toán về tập hợp số Số gần đúng, sai số và cách làm tròn một số gần đúng

2.3.2.2 Xây dựng ma trận nhận thức

Tỉ lệ nhận thức 3: 4: 2: 1

Mệnh đề

(30%)

1 1

1 1

1 1

3 3 Tập hợp

(50%)

1 1

2 2

1 1

1 1

5 5

Số gần đúng

(20%)

1 1

1 1

2 2

3

4 4

2 2

1 1

10 10 (NB: Nhận biết; TH: Thông hiểu; VDT: Vận dụng thấp; VDC: Vận dụng cao)

2.3.2.3 Xây dựng các câu hỏi trắc nghiệm:

Phần 1: Mệnh đề

Theo chuẩn kiến thức kỹ năng môn Toán lớp 10 do Bộ giáo dục và đào

tạo xuất bản năm 2009, phần này có các dạng toán như sau:

- Dạng 1: Nhận biết một câu có là mệnh đề hay không

- Dạng 2: Phủ định mệnh đề; xác định tính đúng, sai của các mệnh đề

- Dạng 3: Lập mệnh đề kéo theo và mệnh đề tương đương từ hai mệnh đề

đã cho Xác định được tính đúng sai của các mệnh đề kéo theo, mệnh đề tương đương

- Dạng 4: Lập mệnh đề đảo của mệnh đề cho trước

Ngày đăng: 16/10/2017, 14:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w