Các công trình nghiên cứu về sinh trưởng và phát triển của loài Re gừng Cinnamomum bejolghota .... Mô hình hóa sinh trưởng chiều cao cây của các cá thể thuộc loài Re gừng Cinnamomum bejo
Trang 1KHÚC THỊ HẰNG
NGHIÊN CỨU SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN
CỦA LOÀI RE GỪNG- CINNAMOMUM BEJOLGHOTA
(BUCH - HAM EX NEES) SWEET, 1827 TRỒNG TẠI TRẠM
ĐA DẠNG SINH HỌC MÊ LINH- VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60 42 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Đồng Tấn
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm khóa luận, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp
đỡ của TS Lê Đồng Tấn Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
nhất đến thầy
Tôi xin trân trọng cảm ơn Th.S Trịnh xuân Thành cùng tập thể cán bộ
Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thu thập số liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều tổ chức và cá nhân trong và ngoài trường Nhân dịp này tôi xin trân trọng cảm ơn Thư viện của Phòng Thực vật - Viện Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật: Ban chủ nhiệm khoa Sinh – KTNN - Trường ĐHSP Hà Nội 2; đặc biệt là sự giúp đỡ, động viên của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 03 tháng 07 năm 2017
Học viên
Khúc Thị Hằng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài do tôi thực hiện cùng với sự hướng dẫn
của TS Lê Đồng Tấn Các số liệu nêu trong đề tài là trung thực, được thu
thập từ thực nghiệm và qua xử lí thống kê Các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 03 tháng 07năm 2017
Học viên
Khúc Thị Hằng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
4 Điểm mới của đề tài 2
5 Bố cục luận văn 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Sinh trưởng của cây rừng 3
1.2 Các công trình nghiên cứu về sinh trưởng và phát triển của loài Re gừng (Cinnamomum bejolghota) 4
1.2.1 Trên thế giới 4
1.2.2 Ở Việt Nam 6
1.3 Những nghiên cứu về sinh trưởng của các loài cây rừng tại Trạm Đa Dạng Sinh Học Mê Linh 8
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA VÙNG NGHIÊN CỨU 11
2.1 Đối tượng nghiên cứu 11
2.2 Phạm vi nghiên cứu 11
2.3 Thời gian nghiên cứu 11
2.4 Nội dung nghiên cứu 11
2.5 Phương pháp nghiên cứu 11
2.5.1 Phương pháp kế thừa 12
Trang 52.5.2 Phương pháp thu thập số liệu 12
2.5.3 Phương pháp xử lý số liệu 15
2.6 Điều kiện tự nhiên của vùng nghiên cứu 16
2.6.1 Diện tích, vị trí địa lí, địa hình 16
2.6.2 Địa chất - Thổ nhưỡng 18
2.6.3 Khí hậu - thuỷ văn 19
2.6.4 Tài nguyên động thực vật rừng 19
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
3.1 Đặc điểm phân loại loài Re gừng (Cinnamomun bejolghota) 25
3.1.1 Danh pháp và vị trí phân loại 25
3.1.2 Đặc điểm hình thái 25
3.1.3 Đặc điểm sinh học và sinh thái 26
3.1.4 Phân bố 27
3.1.5 Giá trị sử dụng 27
3.2 Khả năng thích nghi và sống sót của các cá thể thuộc loài Re gừng trồng tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh – Vĩnh Phúc 28
3.2.1 Tổng hợp kết quả đo được ở thực địa 28
3.2.2 Khả năng sống sót của các cá thể thuộc loài Re gừng 30
3.2.3 Chất lượng cây trồng 31
3.3 Sinh trưởng chiều cao cây của loài Re gừng (Cinnamomum bejolghota) 34
3.3.1 Đặc điểm về quá trình sinh trưởng chiều cao cây 34
3.3.2 Mức độ tăng trưởng về chiều cao của cây 34
3.3.3 Mô hình hóa sinh trưởng chiều cao cây của các cá thể thuộc loài Re gừng (Cinnamomum bejolghota) trong điều kiện trồng tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh – Vĩnh Phúc 36
Trang 63.4 Sinh trưởng về đường kính thân cây của loài Re gừng
(Cinnamomum bejolghota) 40
3.4.1 Đặc điểm về quá trình sinh trưởng đường kính cây 40
3.4.2 Mức độ tăng trưởng về đường kính của cây 40
3.4.3 Mô hình hóa sinh trưởng đường kính cây 42
3.5 Đánh giá mối liên quan giữa sinh trưởng đường kính cây và sinh trưởng chiều cao cây của loài Re gừng (Cinnamomum bejolghota) 45
3.5.1 Lập tỷ số D/H qua từng giai đoạn như sau: 45
3.5.2 Xác định hàm tương quan theo tỷ số D/H 46
3.6 Đề xuất giải pháp trồng chăm sóc Re gừng (Cinnamomum bejolghota) tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh – Vĩnh Phúc 48
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Cấu trúc hệ thực vật tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh 20
Bảng 3.1 Số liệu điều tra về loài Re gừng trồng tại Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh năm 2016 28
Bảng 3.2 Tỷ lệ sống và chết của các cá thể Re gừng trồng tại Trạm ĐDSH Mê Linh – Vĩnh Phúc 31
Bảng 3.3 Chất lượng các cá thể thuộc loài Re gừng trồng tại Trạm ĐDSH Mê Linh – Vĩnh Phúc 32
Bảng 3.4 Sinh trưởng chiều cao trung bình các cá thể thuộc loài Re gừng 35
Bảng 3.5 Kết quả khảo sát các hàm 39
Bảng 3.6 Sinh trưởng đường kính trung bình của các cá thể Re gừng 40
Bảng 3.7 Kết quả khảo sát các hàm về sinh trưởng đường kính cây 44
Bảng 3.8: Tỷ số D/H của loài Re gừng trồng tại Trạm Đa Dạng Sinh học Mê Linh – Vĩnh Phúc qua giai đoạn 2002 – 2016 45
Bảng 3.9 Kết quả khảo sát các hàm tương quan theo tỷ số D/H 48
Trang 9DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Cách đo chiều cao vút ngọn 13
Hình 2.2 Cách đo đường kính thân cây 14
Hình 2.3 Bản đồ địa hình Trạm ĐDSH Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc 18
Hình 2.4 Bản đồ đa dạng thực vật Trạm ĐDSH Mê Linh 24
Hình 3.1 Cinnamomum bejolghota 26
Hình 3.2 Biểu đồ chất lượng cây trồng năm 2007 33
Hình 3.3 Biểu đồ chất lượng cây trồng năm 2011 33
Hình 3.4 Biểu đồ chất lượng cây trồng năm 2016 34
Hình 3.5 Đồ thị đường cong sinh trưởng chiều cao của loài Re gừng (Cinnamomum bejolghota) 35
Hình 3.6 Đồ thị đường cong sinh trưởng đường kính loài Re gừng (Cinnamomum bejolghota) 41
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thế giới thực vật vô cùng phong phú và đa dạng Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu về thực vật Trong đó, nghiên cứu quá trình sinh trưởng phát triển của thực vật đóng vai trò rất quan trọng Quá trình sinh trưởng của thực vật luôn luôn được kiểm soát bởi hai xu hướng trái ngược nhau: tăng trưởng để đạt kích thước tối đa và một quá trình ngược lại
là kìm hãm chúng Đó là một hệ thống điều khiển hoàn chỉnh, tinh tế đến mức tạo ra một thế giới thực vật vô cùng đa dạng và phong phú mà cho đến ngày nay con người còn chưa thể khám phá hết
Kể từ khi thành lập Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh đến nay, Trạm trồng
bổ sung rất nhiều loài cây khác nhau trong đó có loài Re gừng (Cinnamomum
bejolghota), thuộc họ Long não (Lauraceae) là loài cây gỗ cao tới 30 m Bên
cạnh giá trị cho gỗ, vỏ và lá được sử dụng làm hương, làm thuốc
Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của loài Re gừng ở Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh, nhất là cây
trồng, chính vì vậy chúng tôi đề xuất đề tài: “Nghiên cứu sinh trưởng phát
triển của cây Re gừng- Cinnamomum bejolghota (Buch.- Ham ex Nees)
Sweet, 1827 trồng tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh – Vĩnh Phúc”
nhằm nghiên cứu một cách chi tiết hơn về khả năng sinh trưởng của loài Re gừng trong điều kiện trồng bổ sung phục vụ cho công tác làm giàu rừng và tăng cường cường tính đa dạng cho thảm thực vật phục hồi tự nhiên
Trang 113 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Góp phần bổ sung dẫn liệu (đặc điểm hình thái sinh
thái, sự thích nghi, quá trình sinh trưởng,…) của loài Re gừng (Cinnamomum
bejolghota)
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở khoa học
cho nghiên cứu quy hoạch và phát triển trồng loài Re gừng để bảo tồn nguồn gen và tăng cường cấu trúc rừng
4 Điểm mới của đề tài
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu sự sinh trưởng và phát triển của
loài Re gừng (Cinnamomum bejolghota) được trồng tại Trạm Đa dạng Mê
Linh - Vĩnh Phúc đến năm 2017
5 Bố cục luận văn
Gồm 58 trang, 7 ảnh, 19 hình, 9 bảng, 3 biểu đồ, 2 bản đồ, được chia thành các phần chính như sau: Mở đầu (2 trang), chương 1 (Tổng quan tài liệu: 8 trang), chương 2 ( Đối tượng, phạm vi, thời gian, nội dung và phương pháp nghiên cứu; điều kiện tự nhên của vùng nghiên cứu: 14 trang), chương 3 ( Kết quả nghiên cứu: 29 trang), Kết luận và kiến nghị (2 trang), Tài liệu tham
khảo: 20 tài liệu, ngoài ra còn có phần Phụ lục không đánh số trang
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Sinh trưởng của cây rừng
Sinh vật sống luôn luôn có xu hướng sinh trưởng để đạt kích thước tối
đa, nhưng khả năng này lại bị kìm hãm do các yếu tố môi trường sống và đặc tính di truyền của chúng Nói cách khác, quá trình sinh trưởng của sinh vật luôn luôn được kiểm soát bởi hai xu hướng trái ngược nhau: tăng trưởng để đạt kích thước tối đa và ngược lại là kìm hãm chúng Đó là một hệ thống điều khiển hoàn chỉnh tinh tế đến mức mà tạo ra một thế giới sinh vật vô cùng đa dạng và phong phú mà cho đến nay con người chưa thể khám phá hết được
Đối với những loại cây trồng do có sự chăm sóc của con người nên chúng ít bị cạnh tranh gay gắt về không gian sống và chất dinh dưỡng trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển từ khi gieo trồng đến khi khai thác Trong điều kiện đó các cá thể hầu như sinh trưởng, phát triển hầu như đạt tới kích thước tối đa so với khả năng của chúng trên nền lập địa được gieo trồng Tuy nhiên, khi không gian sống bị vi phạm thì ngay lập tức có sự cạnh tranh xảy ra giữa các cá thể Dấu hiệu đầu tiên của hiện tượng này là sự giảm sút về sinh trưởng, cây còi cọc đi, tiếp theo là quá trình tỉa thưa
Ngoài yếu tố môi trường, yếu tố quan trọng nhất kiểm soát mọi quá trình sinh trưởng, phát triển của thực vật là bộ gen di truyền Có loài sinh trưởng nhanh ở giai đọan cây non sau đó giảm dần khi cây trưởng thành Ngược lại, có loài sinh trưởng chậm ở giai đoạn còn non cho tới khi cây đạt được kích thước đủ lớn thì tốc độ sinh trưởng tăng nhanh sau đó lại giảm dần
Đối với cây tái sinh tự nhiên, đặc biệt những cây tái sinh trên vùng đất bạc màu, không chỉ sinh trưởng trong điều kiện nghèo chất dinh dưỡng mà còn phải chịu sự cạnh tranh gay gắt với nhiều cây cỏ khá phong phú và đa dạng nên chúng ít nhiều cũng bị hạn chế về sự sinh trưởng, phát triển
Trang 13Một số nghiên cứu trong lĩnh vực phytoxit cho thấy mối quan hệ tương
hỗ giữa các loài cây trong quần xã không chỉ có tính chất loại trừ lẫn nhau mà còn tính chất tương hỗ cùng nhau phát triển Tuy nhiên, tính chất này chỉ có ở mức độ giới hạn nhất định Trong trường hợp “lợi ích” của một trong hai cá thể hay loài (hoặc nhiều hơn) bị vi phạm thì quá trình cạnh tranh hay đào thải
sẽ xảy ra và dấu hiệu đầu tiên là sự suy giảm về sinh trưởng, phát triển như đã trình bày ở trên
Như vậy, sinh trưởng của thực vật, ngoài yếu tố di truyền, nó còn chịu tác động của nhiều yếu tố sinh thái trong môi trường sống Đây là một đề tái khá mới và thú vị Khi hiểu biết được quy luật sống của thực vật, người ta có thể tác động trực tiếp để điều khiển quá trình sinh trưởng, phát triển của chúng sao cho có lợi nhất Vì vậy việc nghiên cứu sinh trưởng, phát triển của cây rừng cũng như cây trong điều kiện nuôi trồng là hết sức cần thiết
1.2 Các công trình nghiên cứu về sinh trưởng và phát triển của loài Re
gừng (Cinnamomum bejolghota)
1.2.1 Trên thế giới
Long não (Lauraceae) là họ có thành phần loài đa dạng và có nhiều giá trị sử dụng nên đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm Người đầu tiên nghiên cứu về họ Long não (Lauraceae) là Juss (1789-1824) Tiếp theo đã
có nhiều công trình nghiên cứu và công bố về các loài thuộc họ Long não (Lauraceae) trong các bộ sách Thực vật chí Ấn Độ với 16 chi và 250 loài, Trung Quốc có 18 chi và 500 loài, Malixia có 12 chi và 200 loài, Đông Dương có 12 chi và 50 loài,… Họ Long não (Lauraceae) bao gồm chủ yếu là các loài cây gỗ, cây bụi thường xanh
Chi Quế (Cinnamomum) có khoảng 250 loài Chúng thường là cây gỗ
lớn phân bố ở các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới của Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Nam Mỹ, Châu Á, Châu Đại Dương như Trung Quốc với 50 loài, Malaixia có
30 loài, Ấn Độ có 30 loài, Đông Dương có 12 loài [17]
Trang 14Trên thế giới, các công trình đề cập đến sinh trưởng và phát triển của
loài Re gừng (Cinnamomum bejolghota) chủ yếu là các công trình phân loại, người đầu đề cập tới loài Re gừng (Cinnamomum bejolghota) là Buch-Ham
vào năm 1827 Ông đã mô tả đặc điểm hình thái của loài Re gừng
(Cinnamomum bejolghota) như sau: Cây gỗ nhỏ đến lớn, cao 5-25 m, đường
kính thân 30 cm; thân xanh, có mùi thơm Cành cứng, luôn đối diện nhau; cành non hình trụ, nâu đỏ khi khô Lá gần đối; cuống lá cứng, cỡ 1-1,5 cm,; phiến lá xanh nhạt hay vàng xanh mặt trên, xanh và bóng mặt dưới, dạng bầu dục- thuôn, cỡ 12-30 x 4-9 cm, dạng da, nhẵn ở 2 mặt, 3 gân gốc cách gốc lá 1-1,5 cm, gân phụ kéo dài đến đầu lá, gốc lá gần chòn hay hơi nhọn, mép lá nguyên, đỉnh tù hay nhọn Cụm hoa dạng chuỳ ở nách, cỡ 13-16 cm, có nhiều hoa, nhiều nhánh; nhánh cỡ 3 cm; cuống cụm hoa cỡ 7-11 cm, có lông nâu Cuống hoa cỡ 4-6 mm, có lông nâu Hoa vàng, cỡ 6 mm ống bao hoa ngắn cỡ
1 mm; bao hoa có 6 thuỳ, hình trứng thuôn, cỡ 5 x 2,5 mm, hơi nhọn Nhị nhiều, 3 vòng, cỡ 3,5-3,7 mm; chỉ nhị rộng; bao phấn của vòng 1 và 2 hình trứng thuôn, hầu hết đều dài hơn chỉ nhị, vòng 3 thì hẹp hơn cỡ 1,7 mm Nhị lép 3, rõ, hình tên- tam giác, cỡ 3 mm Bầu thuôn, cỡ 1,5 mm; đầu nhuỵ dạng đĩa Quả bầu dục, cỡ 1,3 x 0,8 cm, xanh khi non; cuống quả tím, đôi khi to ra Mùa hoa tháng 3-4, mùa quả tháng 5-7 [15] Sau đó ông xếp loài Re gừng
(Cinnamomum bejolghota) này vào chi Quế (Cinnamomum) Về sau, có nhiều tác giả cũng đề cập đến loài Re gừng (Cinnamomum bejolghota) trong các
công trình nghiên cứu như Hort.Brit (1830), Roxb.(1831), Kurz (1877), H Lecomte (1913) ông mô tả hình thái cũng như khóa định loại 11 loài trong đó
cũng có loài Re gừng (Cinnamomum bejolghota), Li His- Wen (1934) cũng
mô tả đặc điểm loài và kèm theo hình vẽ,… Hầu hết các tác giả đều cho rằng
loài Cinnamomum bejolghota nằm trong chi Cinnamomum thuộc họ Long não
(Lauraceae) Bên cạnh việc nghiên cứu phân loại, các tác giả đã cung cấp các
Trang 15thông tin tóm tắt về phân bố, môi trường sống, mùa hoa quả và giá trị sử dụng
của loài Re gừng (Cinnamomum bejolghota)
Trong những năm gần đây, nhờ chính sách bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, cho nên các loài có giá trị lớn với con người đã và đang
được quan tâm nghiên cứu, trong đó có loài Re gừng (Cinnamomum
bejolghota) Do có nhiều tác dụng (hư hàn ỉa chảy, đau bụng kinh, phong thấp
đau xương, liệt dương, bế kinh, trị trướng bụng ) và được sử dụng nhiều trong y học cổ truyền, cho nên Re gừng loài cây thuốc đang được tiến hành nghiên cứu nhiều ở các nước như Trung Quốc, Nêpan…
1.2.2 Ở Việt Nam
Cho đến nay các công trình nghiên cứu chi Quế (Cinnamomum) nói chung và loài Re gừng (Cinnamomum bejolghota) ở Việt Nam còn rất ít Người đầu tiên đề cập tới loài (Cinnamomum bejolghota) ở Việt Nam là nhà thực vật học người Pháp H Lecomte (1913) trong tác phẩm „„Cây gỗ vân nam
đồ chí’’, trong đó ông đã mô tả đặc điểm hình thái, dạng sống và công dụng
của loài Re gừng (Cinnamomum bejolghota) Sau này, các nhà thực vật học
Việt Nam cũng đã điều tra và thống kê nguồn tài nguyên ở các khu vực cả nước và phát hiện bổ sung thêm cho Hệ Thực vật Việt Nam Các công trình
"Cây cỏ Việt Nam" của Phạm Hoàng Hộ (1991) và tái bản (1999) có hình vẽ đơn giản và bản mô tả rất ngắn gọn về loài Re gừng (Cinnamomum
bejolghota): Đại mộc cao 10m, nhánh không lông Lá có phiến bầu dục, tròn,
dài, hẹp, 13-18× 3,5-5 cm; tà 2 đầu; mặt trên láng, nâu - vàng, gân - phụ không rõ; mặt dưới nâu hồng, gân chỉ do cặp gân đi từ đáy chạy đến chót; cuống vào 1cm Trái to, bầu dục, cao vào 15 mm; đấu còn lại nhỏ, có thùy tròn tròn [6],
[7] Công trình "Cây cỏ Việt Nam" tuy có nhiều hạn chế như danh pháp, không
có tài liệu trích dẫn, không có mẫu nghiên cứu, không nói về quá trình sinh trưởng phát triển của loài Nhưng cho đến nay, đây là tài liệu quan trọng cho việc định loại sơ bộ cho những loài thực vật có ở Việt Nam
Trang 16Nguyễn Tiến Bân (1997), trong "Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ
thực vật hạt kín" tác giả giới thiệu loài Re gừng (Cinnamomum bejolghota) [1]
Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) &nnk (2003), trong „„Danh lục các loài
thực vật Việt Nam‟‟, tập 2 Tác giả đã cung cấp các dẫn liệu về vùng phân bố,
dạng sống và sinh thái, cũng như giá trị sử dụng loài Re gừng (Cinnamomum
bejolghota) [2]
Vũ Xuân Phương, trong báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu phục hồi,
bảo tồn và phát triển Đa dạng thực vật tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh (Vĩnh Phúc giai đoạn 2001-2009)” đã nêu ra một số thông tin loài Re gừng
(Cinnamomum bejolghota) như về phân bố: Hà Giang, Lạng Sơn, Bắc Kan,
Thái Nguyên, Bình Dương còn có ở Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Quảng Đông Dạng sống là cây gỗ cao 10-30 m; ra hoa tháng 3-4; quả chín tháng 6-9 Công dung cho gỗ, vỏ, lá có tinh dầu Trồng 2002 (cao 0,5 m), đo năm 2005 (cao 2,1-5,1 m), trung bình 3,5 m Cây sinh trưởng tốt, thích nghi với môi trường Mê Linh [3]
Dương Đức Huyến (2011), trong báo cáo tổng kết đề tài “Tăng cường
tính đa dạng thực vật bằng những loài cây gỗ quý hiếm tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh (Vĩnh Phúc)” đã nêu ra một số thông tin về loài Re gừng
(Cinnamomum bejolghota): trồng năm 2002, cây sinh trưởng tốt, tỷ lệ sống
cao [8]
Võ Văn Chi (2012), trong „„Từ điển cây thuốc Việt Nam‟‟, tập 2 Tác giả đã cung cấp khá nhiều thông tin về loài như: mô tả đặc điểm hình thái, có hình ảnh sơ bộ kèm theo, sinh thái, vùng phân bố, bộ phận dùng, thành phần hóa học, tính vị và tác dụng, cũng như công dụng của loài Re gừng
(Cinnamomum bejolghota) [4]
Như vậy, cho đến nay những nghiên cứu sinh trưởng phát triển của loài
Re gừng (Cinnamomum bejolghota) còn hạn chế, các công trình nghiên cứu
Trang 17đã thực hiện chủ yếu là nhằm phân loại và xác định vùng phân bố để phục vụ cho công tác bảo tồn
1.3 Những nghiên cứu về sinh trưởng của các loài cây rừng tại Trạm Đa Dạng Sinh Học Mê Linh
Nghiên cứu về sinh trưởng của cây rừng tại Trạm Đa Dạng Sinh Học
Mê Linh (tăng trưởng về chiều cao, đường kính), Ma Thị Ngọc Mai (2007) đã thực hiện trên hệ thống ô định vị từ năm 2004 – 2007; trên cơ sở kế thừa số liệu quan trắc của Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, trước đó, trong 3 năm từ
2001 – 2003; đồng thời kết hợp phương pháp lấy không gian bù thời gian, tác giả đã có quỹ thời gian nghiên cứu sinh trưởng của 4 loài cây gồm Trám chim, Hoắc quang, Sau sau và Sơn rừng Kết quả cho thấy:
Sau 12 năm, Sau sau đạt chiều cao cao nhất 7,2 m; sau đó là Trám chim 6,6 m; Sơn rừng đạt 5,6 m và Hoắc quang thấp nhất chỉ đạt 5,2 m
So với các loài cây trồng, sinh trưởng về chiều cao của các loài cây mọc tự nhiên không cao, chỉ đạt mức trung bình 0,4 m - 0,5 m/năm Trong suốt thời kỳ 12 năm thì Sau sau đạt mức tăng trưởng trung bình cao nhất (0,60 m/năm), tiếp đến là Trám chim (0,55 m/năm), Sơn rừng đạt 0,42 m/năm và thấp nhất là Hoắc quang 0,43 m/năm
Theo thời gian, mức độ sinh trưởng chiều cao của cả 4 loài đều đạt giá trị cao nhất ở 4 tuổi (Sau sau tăng trưởng cao nhất đạt 0,9 m/năm, thấp nhất là Sơn rừng đạt 0,65 m/năm), rồi sau đó giảm dần ở các tuổi sau Đến 10 và 12 tuổi chiều cao tăng trung bình từ 0,1 - 0,35 m/năm Hoắc quang, Sơn rừng chỉ đạt 0,1 - 0,2 m/năm, với mức tăng trưởng này được coi như cây không còn khả năng tăng trưởng về chiều cao
Về đường kính: Sau 12 năm, Trám chim và Sau sau đều đạt đường kính trên 10 cm (Trám chim 10,5 cm, Sau sau 10,2 cm), hai loài Sơn rừng và Hoắc quang chỉ đạt đường kính dưới 10 cm (Sơn rừng 7,90 cm và Hoắc quang 8,53
Trang 18cm) Trong cả quá trình đến tuổi 12 Trám chim đạt mức tăng trưởng trung bình cao nhất (8,80 cm/năm); tiếp đến là Sau sau (0,85 cm/năm); Hoắc quang (0,71 cm/năm) và thấp nhất là Sơn rừng (0,69 cm/năm)
Theo thời gian, có 3 chiều hướng tăng trưởng về đường kính cây khác nhau Trám chim có mức tăng trưởng nhanh ở giai đoạn từ 10 đến 12 tuổi (10 tuổi là 1,07 cm; 12 tuổi là 1.13 cm) Sau sau tăng nhanh ở 6 tuổi đến 8 tuổi (6 tuổi là 0,66 cm, 8 tuổi là 0,88 cm), sau đó giảm dần đến 12 tuổi (0,54 cm/năm) Ngược lại, Hoắc quang và Sơn rừng có mức tăng trưởng nhanh ở 6 tuổi (Hoắc quang là 0,87 cm/năm, Sơn rừng 0,92 cm/năm Sau đó lại giảm dần đến 12 tuổi tốc độ tăng trưởng chỉ là 0,35 - 0,38 cm
Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh tính đến thời điểm này được 17 năm
kể từ khi thành lập đã có nhiều thay đổi Những nghiên cứu về thành phần loài thực vật, về di nhập các loài cây bản địa vào trồng bổ sung và thay thế các loài cây đã mất, những năm qua là đóng góp rất đáng kể vào việc bảo tồn
và làm phong phú thêm Hệ thực vật của Trạm trên cơ sở quy hoạch tổng thể của Trạm, phần thực vật mới chỉ bắt tay vào thực hiện ở 4 khu, những khu này trong những năm tới vẫn rất cần được chăm sóc để nghiên cứu Bên cạnh
đó còn 6 khu được giành cho các tập đoàn thực vật rất cần được đầu tư để triển khai, có như vậy mới dần dần hoàn thiện quy hoạch tổng thể của Trạm
Về sinh trưởng phát triển của hệ thống cây trồng tăng cường tính đa dạng, các số liệu đã được thống kê cho thấy: đa số các loài đều thích nghi tốt với môi trường ở Mê Linh thì sinh trưởng tốt như: Re gừng, Lim Xanh, Dẻ
đỏ, Dẻ bộp, De, Côm tầng, Lim xẹt, Gù hương, Gội gạc, chỉ sau 4-5 năm, nhiều cây từ 0,5 m đã đạt tới chiều cao 3 m Một số loại không thích nghi bị chết hay sinh trưởng kém như Sữa lá thường bị sâu; Côm trâu, Sưa, Sâng Một số loài khi đưa trồng giống còn nhỏ bị cỏ dại lấn át bị chết như Giổi, Chay, Mắc Mật Trạm đa dạng sinh học Mê Linh đất có rất nhiều mối nên
Trang 19một số cây khi đưa vào trồng giai đoạn đầu sinh trưởng tốt, về sau bị mối tấn công bị chết như Đinh (khi nhổ gốc cây thấy có nhiều mối) Tỷ lệ sống của
các loài đạt 70% (Vũ Xuân Phương và cộng sự, 2005)
Lê Đồng Tấn (2011) [13], đã tiến hành nghiên cứu sinh trưởng phát triển của một số loài cây trồng tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh Tác giả
đã thu thập số liệu về 22 loài cây trồng tại Trạm từ năm 2002, cùng với việc
kế thừa số liệu của các năm trước đã tính được mức tăng trưởng về chiều cao
và đường kính qua 3 giai đoạn từ 2002-2005, 2005-2007 và 2007-2011
Trang 20Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ
NHIÊN CỦA VÙNG NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các cá thể thuộc loài Re gừng (Cinnamomum bejolghota) được trồng
theo phương thức tăng cường tính đa dạng thực vật tại Trạm Đa dạng sinh học
Mê Linh – Vĩnh Phúc thuộc Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật
Tổng số mẫu nghiên cứu là 60 cá thể được trồng năm 2002
2.4 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái và phân bố của loài Re gừng
- Nghiên cứu khả năng thích nghi và sống sót của cây trồng
- Nghiên cứu quá trình sinh trưởng chiều cao cây
- Nghiên cứu quá trình sinh trưởng đường kính cây
- Đề xuất biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Re gừng trồng tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh
2.5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu sinh trưởng của loài Re gừng (Cinnamomum
bejolghota), chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu phổ
biến đã và đang được áp dụng hiện nay như: Các phương pháp nghiên cứu
thực vật của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [14]; để xác định tên khoa học,
chúng tôi dựa vào Cây cỏ Việt Nam (1999) [7] và Danh lục các loài thực vật
Trang 21Việt Nam (2003) [2]; để đánh giá giá trị tài nguyên, chúng tôi dựa vào tài liệu
và thực tế điều tra, cụ thể như sau:
2.5.1 Phương pháp kế thừa
Kế thừa các kết quả về thông tin, số liệu và những tư liệu, kết quả liên quan đến đề tài mà các công trình nghiên cứu đã báo cáo tổng kết công khai, công bố, đăng tải trên các phương tiện thông tin chính thức, đặc biệt các thông tin về phân bố của các loài Re gừng
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
Đo chiều cao cây
Chiều cao là chỉ tiêu điều tra quan trọng, nó phản ánh kích thước cây, là một nhân tố để tính thể tích cây, để phân chia sản phẩm gỗ
Những cây có chiều cao dưới 4 m được đo trực tiếp bằng thước sào có chia vạch đến 0,1 m Những cây cao hơn 4 m được đo bằng máy Blume- leiss
có kiểm tra bằng phương pháp đo trực tiếp
Các thông số cần thu thập gồm: chiều cao vút ngọn (HVN), chiều cao dưới cành (HDC)
Đo chiều cao vút ngọn (HVN): Dùng thước sào khắc vạch đo trực tiếp, hoặc máy đo chiều cao cây Blume- leiss Vị trí đo chiều cao vút ngọn như trong hình
Trang 22Hình 2.1 Cách đo chiều cao vút ngọn
Đo chiều cao dưới cành (HDC)
Chiều cao dưới cành là chiều cao thân cây từ dưới đất lên đến độ cao của cành sống mà có tán lá tham gia vào tán cây đứng
Đo đường kính cây
Dụng cụ đo đường kính thân cây thường được sử dụng gồm:
(1)Thước kẹp đo đường kính theo hai chiều vuông góc với nhau và lấy
trị số bình quân
(2) Thước dây: Dùng thước dây có ghi sẵn giá trị đường kính khi đo thân cây theo chu vi cây ở vị trí 1,3 m Đường kính được tính qua chu vi và được ghi sẵn lên thước để người sử dụng đọc trực tiếp giá trị đường kính cây Nếu dùng thước dây khắc vạch cm thông thường thì tính đường kính bằng cách lấy chu vi chia cho 3,1416
Trang 23
Hình 2.2 Cách đo đường kính thân cây
Đo đường kính tán
Đường kính tán cây được đo thông qua hình chiếu của nó trên mặt đất
Sử dụng thước dây đo 2 đường vuông góc qua gốc cây theo hình chiếu tán cây trên mặt đất, sau đó lấy giá trị bình quân
Thu thập số liệu sinh trưởng:
Căn cứ vào sơ đồ và số hiệu cây trồng, thực hiện đo các chỉ tiêu về sinh trưởng chiều cao, đường kính Các nội dung thu thập được ghi theo mẫu sau: STT HVN
Ghi chú
Trang 242.5.3 Phương pháp xử lý số liệu
Để tra cứu nhận biết họ, chúng tôi căn cứ vào Cẩm nang tra cứu và
nhận biết các họ thực vật Hạt kín ở Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (1997) và Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997)
Để xác định tên khoa học của loài, chúng tôi căn cứ vào Cây cỏ Việt
Nam của Phạm Hoàng Hộ (1999) Nếu vẫn còn nghi ngờ kết quả, chúng tôi
tiến hành thu mẫu để tham khảo ý kiến của các chuyên gia phân loại
Để chỉnh lý tên khoa học, chúng tôi căn cứ vào Danh lục các loài thực
vật Việt Nam do Nguyễn Tiến Bân làm chủ biên (2003)
Phân tích số liệu điều tra để mô tả các đặc điểm hình thái và sinh thái, phân bố (phân bố địa lý: độ cao, độ vĩ, đặc điểm địa hình, địa phương nơi có cây sinh trưởng), sinh cảnh (kiểu thảm thực vật), cấu trúc quần thể…
Sử dụng phần mềm excel để xử lý và tính toán số liệu
Đánh giá tình trạng bảo tồn của loài cây theo sách đỏ Việt Nam 2007
và danh lục đỏ IUCN 2009
Đánh giá chất lượng cây trồng theo 3 cấp:
Cây tốt: Cây gỗ khỏe mạnh, thân thẳng, đều, tán cân đối, không sâu bệnh hoặc rỗng ruột
Cây trung bình: Cây có đặc điểm như thân hơi cong, tán lệch, có thể có u biếu hoặc một số khuyết tật nhỏ nhưng vẫn có khả năng sinh trưởng và phát triển đạt đến độ trưởng thành; hoặc cây đã trưởng thành, có một số khuyết tật nhỏ nhưng không ảnh hưởng nhiều đến khả năng sinh trưởng hoặc lợi dụng gỗ
Cây xấu: Là những cây đã trưởng thành, bị khuyết tật nặng (sâu bệnh, cong queo, rỗng ruột, cụt ngọn,…) hầu như không có khả năng lợi dụng gỗ; hoặc những cây chưa trưởng thành có nhiều khiếm khuyết (sâu bệnh, cong queo, rỗng ruột, cụt ngọn, sinh trưởng không bình thường,…) khó có khả năng tiếp tục sinh trưởng và phát triển đạt đến độ trưởng thành
Trang 25Sử dụng các phương trình toán học để mô hình hóa quá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng:
- Hàm Polynomial (đa thức bậc n) Hàm số có dang:
X là thời gian tính theo năm
a, b, c, α, β là tham số
Các tham số được xác định bằng phương pháp bình phương tối thiểu
Sử dụng phần mềm trên excel để tính toán hệ số
2.6 Điều kiện tự nhiên của vùng nghiên cứu
2.6.1 Diện tích, vị trí địa lí, địa hình
Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh nằm trong địa phận của xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (trước thuộc huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc) Trạm Đa dạng sinh học cách trung tâm thị xã Phúc Yên khoảng
35 km về phía Bắc
Với diện tích 170,3 ha trong đó chiều dài khoảng 3.000 m, chiều rộng trung bình khoảng 550 m (chỗ rộng nhất khoảng 800 m, chỗ hẹp nhất khoảng
300 m)
Trang 26Khu vực Trạm có toạ độ:
21o23‟57‟‟ - 21o23‟35‟‟ vĩ độ Bắc
105o42‟40‟‟ - 105o
46‟40‟‟ kinh độ Đông Phía Bắc giáp huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
Phía Đông và phía Nam giáp hợp tác xã Đồng Trầm, xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên
Phía Tây giáp vùng ngoại vi Vườn Quốc gia Tam Đảo, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Đây thuộc vùng bán sơn địa phía Bắc huyện Mê Linh, là phần kéo dài
về phía Đông Nam của dãy Tam Đảo, có địa hình đồi và núi thấp với xu hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam
Địa hình khu vực nghiên cứu phần lớn là đất dốc, độ chia cắt sâu với nhiều dốc phụ gần như vuông góc với dốc chính, độ dốc trung bình từ 15 -
30o, nhiều nơi dốc đến 30 - 35o, điểm cao nhất là 520 m (điểm cực đông thuộc đỉnh núi Đá trắng) Ở khu vực Trạm các bãi bằng rất ít nằm rải rác dọc theo ven suối phía Tây
Trang 27Hình 2.3 Bản đồ địa hình Trạm ĐDSH Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc 2.6.2 Địa chất - Thổ nhưỡng
Theo nguồn gốc phát sinh trong vùng có hai loại đất chính sau:
- Đất Feralit mùn đỏ vàng ở độ cộ cao trên 300 m Đất có màu vàng ƣu thế do độ ẩm cao, hàm lƣợng sắt di động và nhôm tích luỹ cao Do đất phát triển trên đá Mácma axit kết tinh chua nên tầng đất mỏng, thành phần cơ giới nhẹ, tầng mùn mỏng, không có tầng thảm mục, đá lộ đầu nhiều trên 75%
Trang 28- Đất Feralit vàng đỏ ở độ cao dưới 300 m phát triển trên nhiều loại đá khác nhau, đất có khả năng hấp phụ không cao do có nhiều khoáng sét phổ biến là Kaolinit
Ngoài ra còn có đất dốc tụ phù sa ven suối ở độ cao dưới 100 m Thành phần cơ giới của loại đất này là trung bình, tầng đất dày, độ ẩm cao, màu mỡ,
đã được khai phá để trồng lúa và hoa màu
Đất thuộc loại chua với độ pH= 3,5-5,5 độ dày tầng đất trung bình 30-40 cm
2.6.3 Khí hậu - thuỷ văn
Đây là vùng nhiệt đới gió mùa, nằm trong vùng khí hậu chung của đồng bằng Bắc Bộ, nhiệt độ trung bình hàng năm là 22-23oC, tập trung không đều, tháng có nhiệt độ cao là tháng 6, tháng 7 và tháng 8 Còn mùa lạnh vào các tháng 12, tháng 1 và tháng 2 Nhiệt độ cao điểm trong các tháng nóng nực lên đến 40oC, nhiệt độ lạnh nhất tới 4oC Nhìn chung nhiệt độ trung bình vào mùa
hè từ 27-29oC, trung bình vào mùa đông là 16-17o
C
Lượng mưa từ 1.100 -1.600 mm/năm, phân bố không đều, tập trung vào mùa hè từ tháng 6 đến tháng 8 hàng năm, ở đây có 2 mùa gió thổi rõ rệt là gió mùa Đông Bắc (từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau) và gió mùa Đông Nam (từ tháng 4 đến tháng 9) Độ ẩm trung bình là 80% Là khu vực đầu nguồn của nhiều suối nhỏ đổ vào hồ Đại Lải
2.6.4 Tài nguyên động thực vật rừng
- Khu hệ đông vật: Theo kết quả điều tra năm 2003 của phòng động vật
có xương sống – Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật, đã xác định thành phần phân loại của 5 lớp thú, chim, bò sát, ếch nhái, côn trùng thuộc 25 bộ, 99
họ, 461 loài
Trang 29- Khu hệ thực vật: Theo Vũ Xuân Phương và cộng sự (2001) [11] được
trình bày dưới bảng 2.1 trong “Trạm Đa dạng sinh học của hệ thực vật tại
Trạm sinh học Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc”
Bảng 2.1 Cấu trúc hệ thực vật tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh
ngựa (Pinus massoniana Lamb.), Thông nhựa (Pinus merkusii Jungh & Vriese), Keo tai tượng (Acacia auriculiformis A Cunn ex Benth.), Keo lá tràm (Acacia confusa Merr.), Bạch đàn (Eucalyptus globulus Labill.)
Rừng trồng: gồm có rừng thuần loại (rừng Bạch đàn, Keo tai tượng, Keo lá tràm, Thông nhựa) và rừng hỗn giao (Bạch đàn - Keo tai tượng, Bạch đàn - Keo lá tràm, Thông - Keo lá tràm)
Như vậy, rừng trồng chủ yếu là cây nhập nội với phương thức trồng thuần loại hay hỗn giao đơn giản Rừng chưa khép tán nên khả năng chống xói mòn bảo vệ đất rất hạn chế Nhiều nơi phần lớn đã khai thác nhưng không
Trang 30được trồng lại hay chăm sóc nên chất lượng rừng rất thấp Trên những diện tích này khả năng phục hồi lại thảm thực vật là rất khó khăn do đất đai bạc màu và đã bị suy thoái nghiêm trọng
Thảm thực vật tự nhiên
Trong khu vực nghiên cứu có các quần hệ và kiểu thảm thực vật sau:
Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa hình thấp, gồm có:
- Cây gỗ lá rộng: thường là những mảnh nhỏ phân bố rải rác trên các sườn núi ở độ cao 300 m trở lên tại tiểu khu 11 Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, sườn phía Đông Vườn Quốc gia Tam Đảo Đây là những phần rừng nguyên sinh đã bị khai thác kệt còn sót lại hay mới được phục hồi sau khai thác
Hiện nay cấu trúc rừng đã bị phá huỷ do bị tác động nhiều, thành phần loài cây cũng bị thay đổi theo hướng các loài cây thứ sinh chiếm ưu thế Theo điều tra, những loài cây gỗ lớn có giá trị hầu như đã cạn kiệt do khai thác trong nhiều thập kỷ qua Rừng gồm có tầng cây gỗ cao 10 - 15 m (đôi khi đến 20 m) với đường kính trung bình 20 - 25 cm, mật độ 400 - 500 cây/ha Các loài cây
thường gặp là: Dẻ gai (Castanopsis sp.), Trâm (Syzygium sp.), Ràng ràng (Ormosia balansae Drake.), Re (Cinnamomum sp.), Bứa (Garcinia bonii Pitard.), Tai chua (Garcinia cowa Roxb.), Máu chó (Knema sp.), Côm (Elaeocarpus sp.), Trám trắng (Canarium album (Lour.) Raeusch.) Tầng cây
bụi cao 4 - 5 m, khá rậm rạp, thường gặp các loài thuộc họ Cà phê (Rubiaceae),
họ Đơn nem (Myrsinaceae), họ Trôm (Sterculiaceae), họ Côm (Elaeocarpaceae), Trung quân (Ancistrocladaceae), họ Mua (Melastomataceae)… Thảm tươi chủ yếu là các loài cây thuộc họ Ráy (Araceae), họ Ô rô (Acanthaceae), họ Riềng (Zingiberaceae), họ Cỏ (Poaceae), họ Cói (Cyperaceae) Dây leo thường gặp các loài thuộc họ Nho (Vitaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Bạch hoa (Capparaceae)…
- Rừng nứa xen cây gỗ: Chủ yếu là do khai thác gỗ củi quá mức hình thành nên Phân bố trên độ cao 200 - 400 m tại khu vực giáp ranh giữa Trạm
Trang 31Đa dạng sinh học Mê Linh và Vườn Quốc gia Tam Đảo Trong rừng Nứa, cây
gỗ có mật độ thưa, thành phần chính là: Lá nến (Macaranga denticulata
(Blume) Muell.-Arg.), Bồ đề (Styrax tonkinensis (Pierre) Craib ex Hardw.),
Ràng ràng (Ormosia balansae Drake.), Chẹo (Engelhardia roxburghiana Wall.), Hu đay (Trema orientalis (L.) Blume.), Dẻ gai (Castanopsis sp.), Ngát (Gironniera subaequalis Planch.), Re (Cinnamomum sp.), Kháo (Machilus sp.) Bứa (Garcinia bonii Pitard.), Tai chua (Garcinia cowa Roxb.), Sau sau (Liquidambar formosana Hance.),…
Rừng thưa thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa hình thấp, gồm có:
Cây gỗ lá rộng, rừng Nứa xen cây gỗ và rừng Giang
- Cây gỗ lá rộng: Là rừng phục hồi sau khai thác kiệt, đất nương rẫy, đất trồng rừng thất bại Phân bố ở sườn núi trên độ cao từ 200 m trở lên Tổ
thành chủ yếu là Bồ đề (Styrax tonkinensis (Pierre) Craib ex Hardw.), Sơn (Toxicodendron succedanea (L.) Mold.), Hu đay (Trema orientalis (L.) Blume.), Ràng ràng (Ormosia balansae Drake.), Trâm (Syzygium sp.), Sau sau (Liquidambar formosana Hance.), Lá nến (Macaranga denticulata (Blume) Muell.-Arg.), Côm (Elaeocarpus sp.), Trôm (Sterculia sp.), Bời lời (Litsea sp.), Re (Cinnamomum sp.)…
Ở những nơi rừng trồng thất bại, ngoài các loài cây tái sinh tự nhiên
còn có các loài cây trồng nhân tạo: Thông (Pinus merkusii Jungh & Vriese.), Keo tai tượng (Acacia mangium Willd.), Keo lá bạc (Acacia sp.), Bạch đàn (Eucalyptus sp.)
- Rừng Nứa xen gỗ: Được hình thành do khai thác quá mức và phục hồi sau nương rẫy
Tương tự như ở rừng thưa cây lá rộng, thành phần cây gỗ ở đây cũng
chủ yếu là các loài cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh: Bồ đề (Styrax
tonkinensis (Pierre) Craib ex Hardw.), Lá nến (Macaranga denticulata
Trang 32(Blume) Muell.-Arg.), Ràng ràng (Ormosia balansae Drake.), Hu chanh (Alangium kurzii Craib.), Thôi ba (Alangium chinensis (Lour.) Harms.), Bời lời (Litsea sp.), Sau sau (Liquidambar formosana Hance.), Chẹo (Engelhardia
roxburghiana Wall.)…
- Rừng Giang: Là dạng thoái hoá của rừng kín cây lá rộng, kiểu này thường là những khoảnh nhỏ phân bố ở tiểu khu 11, dọc theo suối và rải rác trong các vùng thuộc Vườn Quốc gia Tam Đảo Cây gỗ thưa với thành phần
khá đơn giản Những loài thường gặp là: Bồ đề (Styrax tonkinensis (Pierre) Craib ex Hardw.), Vàng anh (Saraca dives Pierre.), Nhội (Bischofia javanica Blume.), Dẻ gai (Castanopsis sp.), Trám trắng (Canarium album (Lour.) Raeusch.), Bứa (Garcinia bonii Pitard.), Tai chua (Garcinia cowa Roxb.)…
Trảng cây bụi thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa hình thấp:
Gồm các quần xã có hay không có cây gỗ Các quần xã này được hình thành do khai thác quá mức, chặt phá rừng hay làm nương rẫy, xử lý trắng thảm thực vật tự nhiên để trồng rừng nhưng thất bại
Trảng cỏ: Trảng cỏ dạng lúa trung bình: Có ưu hợp lách (Saccharum
spontaneum L.), Chít (Thysanolaena maxima (Roxb.) Kuntze) và Cỏ tranh
(Imperata cylindrica (L.) Beauv.) hình thành trên đất sau nương rẫy hoặc
trồng rừng thất bại Trên đối tượng này thành phần cây bụi chủ yếu là các loài
cây chịu hạn như: Me rừng (Phyllanthus emblica L.), Thàu táu (Aporosa
sphaerosperma Gagnep.), Hoắc quang (Wendlandia paniculata (Roxb.) A
DC.), Thành ngạnh (Cratoxylum polyanthum Korth.), Thừng mức (Wrightia
pubescens R Br.), Găng (Randia spinosa (Thunb.) Poir.), Sim (Rhodomyrtus tomentosa (Ait) Hassk.), Mua (Melastoma sp.)