Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh thuộc xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên – Vĩnh Phúc được thành lập theo quyết định số 1063 – QĐ-KHCN, ngày 6/8/1999 của giám đốc Trung tâm Khoa học tự nhiên và
Trang 1-
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
NGHIÊN CỨU SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN
CỦA LOÀI GIẺ ĐEN-CASTANOPSIS CEREBRINA
(HICKEL & A CAMUS) BARNETT, 1944
TRỒNG TẠI TRẠM ĐA DẠNG SINH HỌC
MÊ LINH - VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã ngành: 60 42 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Đồng Tấn
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và
sâu sắc nhất đến TS Lê Đồng Tấn - người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình
chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Th.S Trịnh xuân Thành cùng tập thể cán bộ Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thu thập số liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài trường Nhân dịp này tôi xin trân trọng cảm ơn Thư viện của Phòng Thực vật - Viện Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật, Ban chủ nhiệm khoa Sinh_KTNN, phòng Sau Đại học - Trường ĐHSP
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài do tôi thực hiện cùng với sự hướng dẫn
của TS Lê Đồng Tấn Các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được
ghi rõ nguồn gốc Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, tháng 8 năm 2017
Học viên
Nguyễn Thị Hương
Trang 4∆D Tăng trưởng đường kính
∆H Tăng trưởng chiều cao
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
4 Điểm mới của đề tài 3
5 Bố cục của luận văn 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Sinh trưởng của cây rừng 4
1.2 Tình hình nghiên cứu về sinh trưởng và phát triển của họ Dẻ và loài Giẻ đen-Castanopsis cerebrina (Hickel & A Camus) Barnett 1944 5
1.2.1 Trên thế giới 5
1.2.2 Ở Việt Nam 6
1.2.3 Tại khu vực nghiên cứu 7
1.3 Nghiên cứu sinh trưởng của cây rừng tại Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh 8
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
2.1 Đối tượng nghiên cứu 10
2.2 Phạm vi nghiên cứu 10
2.2.1 Diện tích, vị trí địa lý, địa hình 10
2.2.2 Địa chất, thổ nhưỡng 12
2.2.3 Khí hậu, thủy văn 12
2.2.4 Tài nguyên động thực vật rừng 13
2.3 Thời gian nghiên cứu 18
Trang 62.4 Nội dung nghiên cứu 18
2.5 Phương pháp nghiên cứu 18
2.5.1 Phương pháp kế thừa 18
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu 18
2.5.3 Phương pháp xử lý số liệu 21
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
3.1 Đặc điểm phân loại của loài Giẻ đen-Castanopsis cerebrina (Hickel & A Camus) Barnett 23
3.1.1 Danh pháp và vị trí phân loại 23
3.1.2 Đặc điểm hình thái 23
3.1.3 Đặc điểm sinh học và sinh thái 26
3.1.4 Phân bố 26
3.1.5 Giá trị sử dụng 26
3.2 Khả năng thích nghi và sống sót của cây trồng 26
3.2.1 Tổng hợp kết quả đo được ở thực địa 26
3.2.2 Khả năng sống sót của các cá thể Giẻ đen-Castanopsis cerebrina 29
3.2.3 Chất lượng cây trồng 29
3.3 Khả năng sinh trưởng của các cá thể Giẻ đen - Castanopsis cerebrina (Hickel & A Camus) Barnett 32
3.3.1 Sinh trường chiều cao cây 32
3.3.2 Sinh trường đường kính cây 33
3.3.3 Mối tương quan giữa sinh trưởng đường kính và chiều cao cây 34
3.4 Mô hình hóa quá trình sinh trưởng phát triển của các cá thể Giẻ đen-Castanopsis cerebrina (Hickel & A Camus) Barnetttrong điều kiện trồng tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh – Vĩnh Phúc 35
Trang 73.4.1 Mô hình hóa sinh trưởng chiều cao cây 36
3.4.2 Mô hình hóa sinh trưởng đường kính cây 40
3.4.3 Mô hình hóa mối tương quan giữa đường kính cây với chiều cao cây 43
3.5 Đề xuất biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc loài Giẻ đen-Castanopsis cerebrina (Hickel & A Camus) Barnett 1944 phục vụ cho công tác bảo tồn nguồn gen tại Trạm ĐDSH Mê Linh – Vĩnh Phúc 47
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 54
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Cấu trúc hê ̣ thực vâ ̣t ta ̣i Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh 13
Bảng 2.2 Phiếu điều tra sinh trưởng của loài Giẻ đen trồng tại Trạm 20
Bảng 3.1 Tổng hợp số liệu điều tra về loài Giẻ đen-Castanopsis cerebrina (Hickel & A Camus) Barnett 1944 trồng tại Trạm năm 2017 27
Bảng 3.2 Tỷ lệ sống, chết của các cá thể Giẻ đen-Castanopsis cerebrina (Hickel & A Camus) Barnett 1944 trồ ng tại Trạm 29
Bảng 3.3 Chất lượng các cá thể Giẻ đen-Castanopsis cerebrina (Hickel & A Camus) Barnett 1944 trồng tại Trạm 30
Bảng 3.4 Sinh trưởng chiều cao trung bình của các cá thể Giẻ đen Castanopsis cerebrina (Hickel & A Camus) Barnetttại Trạm 32
Bảng 3.5 Sinh trưởng đường kính trung bình của các cá thể Giẻ đen Castanopsis cerebrina (Hickel & A Camus) Barnett 33
Bảng 3.6 Tỷ số D/H của loài Giẻ đen-Castanopsis cerebrina (Hickel & A Camus) Barnett trồng tại Trạm giai đoạn 2001 – 2017 35
Bảng 3 7 Tổng hợp các hàm sử dụng mô hình hóa chiều cao cây 39
Bảng 3 8 Tổng hợp các hàm sử dụng mô hình hóa đường kính cây 42
Bảng 3 9 Tổng hợp các hàm sử dụng mô hình hóa biểu diễn 46
sự biến đổi về tỷ số D/H của cây 46
Trang 9DANH MỤC HÌNH VÀ ẢNH
Hình 2.1 Bản đồ Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh – Vĩnh Phúc 11
Hình 2.2 Bản đồ đa dạng thực vật Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh 17
Hình 2.3 Cách đo chiều cao vút ngọn 19
Hình 2.4 Cách đo đường kính thân cây 20
Hình 3.1 Castanopsis cerebrina (Hickel & A Camus) Barnett 23
Hình 3.2 Chất lượng cây Giẻ đen năm 2016 tại Trạm 31
Hình 3.3 Chất lượng cây Giẻ đen năm 2017 tại Trạm 31
Hình 3.4 Đường cong sinh trưởng chiều cao của loài Giẻ đen- Castanopsis cerebrina (Hickel & A Camus) Barnett 33
Hình 3.5 Đường cong sinh trưởng đường kính loài Giẻ đen_-Castanopsis cerebrina (Hickel & A Camus) Barnett 34
Hình 3.6 Đồ thị tăng trưởng chiều cao vút ngọn của loài Giẻ đen 39
Hình 3.7 Đồ thị tăng trưởng đường kính của loài Giẻ đen 43
Hình 3.8 Đồ thị thể hiện mối tương quan giữa sinh trưởng đường kính và chiều cao loài Giẻ đen 46
Ảnh 3.1 Castanopsis cerebrina (Hickel & A Camus) Barnett 25
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Rừng là một hệ sinh thái mà quần xã cây rừng giữ vai trò chủ đạo trong mối quan hệ tương tác giữa sinh vật với môi trường Rừng có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của con người, là nơi cư trú của nhiều loài động - thực vật, là nơi tàng trữ các nguồn gen quý hiếm, ngăn chặn gió bão, chống xói mòn đất, điều hòa không khí,
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với 2/3 diện tích đất đồi núi, do đó tài nguyên rừng rất phong phú và có vai trò đặc biệt trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường ở nước ta Do nhiều nguyên nhân khác nhau làm diện tích và chất lượng rừng nước ta bị suy giảm liên tục trong thời gian dài như: chiến tranh, du canh, du cư, cháy rừng, sức ép gia tăng dân số, Bên cạnh đó, việc khai thác thiếu quy hoạch, nạn chặt phá rừng diễn biến phức tạp đã làm cho nhiều loài cây sụt giảm mạnh cả về số lượng và chất lượng dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết là cần phải giữ gìn, khôi phục tính đa dạng của rừng và trồng bổ sung các loài cây cho rừng
Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh thuộc xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên – Vĩnh Phúc được thành lập theo quyết định số 1063 – QĐ-KHCN, ngày 6/8/1999 của giám đốc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia (nay là Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) với mục đích hoạt động là nghiên cứu tính đa dạng của khu hệ Động – Thực vật vùng nhiệt đới; là điểm định vị nghiên cứu cấu trúc hệ sinh thái, quy luật diễn thế phục hồi hệ sinh thái bị suy thoái và các tác nhân ảnh hưởng đến quá trình đó; làm nơi thực hành cho các đề tài nghiên cứu liên quan đến đa dạng sinh học, tài nguyên sinh vật và bảo vệ môi trường sinh thái cho sinh viên, nghiên cứu sinh và những nhà nghiên cứu cũng như những người yêu thiên nhiên
Trang 11Từ ngày Trạm được thành lập đã có rất nhiều loài cây được trồng bổ sung vào Trạm để bảo tồn và phục hồi tính đa dạng thực vật trong giai đoạn từ năm 2001 – 2009, trong đó có loài Giẻ đen Castanopsis cerebrina (Hickel
& A Camus) Barnett, 1944 Đây là loài đã được ghi trong Sách đỏ Việt Nam, được đánh giá là loài có nguy cơ tuyệt chủng do khai thác qua mức Loài cây này có tác dụng bảo vệ đất tốt do hệ rễ phát triển sâu, rộng và tán lá dày rậm; khả năng tái sinh hạt mạnh; quả nhiều tinh bột Giẻ đen rất có triển vọng trong trồng phục hồi rừng, làm giàu rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên Nhưng kể từ khi được trồng năm 2001 đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về sinh trưởng, phát triển của loài Giẻ đen để đánh giá sự thích nghi của cây khi được trồng tại Trạm
Từ những cơ sở khoa học và thực tiễn trên, tôi đề xuất đề tài:“Nghiên
cứu sinh trưởng, phát triển của loài Giẻ đen-Castanopsis cerebrina (Hickel
& A Camus) Barnett, 1944 trồng tại Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh – Vĩnh Phúc” nhằm nghiên cứu một cách chi tiết hơn về đặc điểm hình thái sinh
thái, khả năng sống sót, sự thích nghi và bảo tồn phát triển của loài Giẻ đen
Trang 123.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu bổ sung thêm cho nguồn dẫn liệu làm tài liệu phục
vụ cho công tác giảng dạy của giáo viên và làm nguồn tham khảo cho học sinh, sinh viên
Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở khoa học cho nghiên cứu quy hoạch và phát trồng loài Giẻ đen để bảo tồn nguồn gen và tăng cường cấu trúc rừng
4 Điểm mới của đề tài
Đây là đề tài nghiên cứu về sinh trưởng và phát triển của loài Giẻ
đen-Castanopsis cerebrina (Hickel & A Camus) Barnett được trồng tại Trạm Đa
dạng Sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc đến năm 2017
5 Bố cu ̣c của luận văn
Luận văn gồm: 56 trang, 12 hình, 1 ảnh, 11 bảng đươ ̣c chia thành các phần chính như sau: Mở đầu (3 trang); Chương 1 (Tổng quan tài liê ̣u: 7 trang) Chương 2 (Đối tươ ̣ng, pha ̣m vi, thời gian, nô ̣i dung, phương pháp nghiên cứ u: 13 trang); chương 3 (Kết quả nghiên cứu: 25 trang); Kết luâ ̣n và kiến nghi ̣: 2 trang; Tài liê ̣u tham khảo (3 trang); Phu ̣ lu ̣c (2 trang)
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sinh trưởng của cây rừng
Sinh trưởng của cây rừng nói chung là sự lớn lên về đường kính và chiều cao, hay sự tăng lên về thể tích thân cây theo thời gian Nói cách khác
đó là sinh trưởng của một thực thể sinh học Nó chịu sự tác động của các nhân tố môi trường và các nhân tố nội tại trong bản thân mỗi một cá thể/quần thể sinh vật Sự biến đổi theo thời gian cúa các đại lượng này đều
có quy luật Sinh vật sống luôn luôn có xu hướng sinh trưởng để đạt kích thước tối đa, nhưng khả năng này lại bị kìm hãm do các yếu tố môi trường sống và đặc tính di truyền của chúng
Đối với cây tái sinh tự nhiên, đặc biệt những cây tái sinh trên vùng đất bạc màu, không chỉ sinh trưởng trong điều kiên nghèo chất dinh dưỡng mà còn phải chịu sự cạnh tranh gay gắt với nhiều cây cỏ khá phong phú và đa dạng nên chúng ít nhiều cũng bị hạn chế về sự sinh trưởng, phát triển
Đối với những loại cây trồng, do có sự chăm sóc của con người nên chúng ít bị cạnh tranh gay gắt về không gian sống và chất dinh dưỡng trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển từ khi gieo trồng đến khi khai thác Trong điều kiện đó, các cá thể hầu như sinh trưởng, phát triển đạt tới kích thước tối đa so với khả năng của chúng trên nền lập địa được gieo trồng Tuy nhiên, khi không gian sống bị vi phạm thì ngay lập tức có sự cạnh tranh xảy
ra giữa các cá thể Dấu hiệu đầu tiên của hiện tượng này là sự giảm sút về sinh trưởng, cây còi cọc đi, tiếp theo là quá trình tỉa thưa
Ngoài yếu tố môi trường, yếu tố quan trọng nhất kiểm soát mọi quá trình sinh trưởng, phát triển của thực vật là bộ gen di truyền Có loài sinh trưởng nhanh ở giai đọan cây non sau đó giảm dần khi cây trưởng thành Ngược lại, có loài sinh trưởng chậm ở giai đoạn còn non cho tới khi cây đạt được kích thước đủ lớn thì tốc độ sinh trưởng tăng nhanh sau đó lại giảm dần
Trang 14Như vậy, sinh trưởng của thực vật, ngoài yếu tố di truyền, nó còn chịu tác động của nhiều yếu tố sinh thái trong môi trường sống Đây là một đề tái rất có ý nghĩa trong thực tế Khi hiểu biết được quy luật sống của thực vật, người ta có thể tác động trực tiếp để điều khiển quá trình sinh trưởng, phát triển của chúng sao cho có lợi nhất Vì vậy việc nghiên cứu sinh trưởng, phát triển của cây rừng cũng như cây trong điều kiện nuôi trồng là hết sức cần thiết
1.2 Tình hình nghiên cứu về sinh trưởng và phát triển của họ Dẻ và loài
Giẻ đen-Castanopsis cerebrina (Hickel & A Camus) Barnett 1944
1.2.1 Trên thế giới
Họ Dẻ (Fagaceae) là họ thực vật thuộc bộ Dẻ (Fagales) Họ này có khoảng 900 loài, cả cây thường xanh lẫn cây rụng lá, cây gỗ và cả cây bụi Các loài trong họ có đặc trưng: lá đơn mọc cách, thường có lá kèm sớm rụng,
hệ gân lông chim; hoa đơn tính cùng gốc, hoa tự bông đuôi sóc; quả thường được bọc trong một lớp vỏ đấu, có thể là các vảy hoặc gai, bọc kín hoặc hở, đấu thường có một đến bảy quả (người ta thường gọi là hạt) Hầu hết các loài
dẻ cho gỗ cứng, nặng, khó bị mối mọt, có thể dùng làm nhà, đóng tàu xe, làm cầu, trụ mỏ, đồ gia dụng, vỏ cây có nhiều tanin dùng để thuộc da, nhuộm vải
có giá trị Đặc biệt, các loài thuộc chi Castanopsis có thể xếp vào loại cây đa
tác dụng vừa cho gỗ, củi, hạt, tanin và thân dùng gây trồng nấm (Khamleck Xaydala (2004) [20]
Trên thế giới, có nhiều công trình nghiên cứu về họ Dẻ (Fagaceae) và
loài Giẻ đen-Castanopsis cerebrina (Hickel & A Camus) Barnett, nhưng chủ yếu là các công trình phân loại và giá trị tài nguyên, như: Flora Yunnanica (1979) [21]; Flora Reipublicae Populasis Sinicae (1998) [22]; Flora of Thailand (2008) [25]; Flora of China” (1999) [26] Các công trình này chủ
yếu là các nghiên cứu về đặc điểm hình thái, phân bố,… để sắp xếp loài cây này vào hệ thống thực vật, đặc điểm sinh trưởng và phát triển của loài Giẻ đen
Trang 15Castanopsis cerebrina (Hickel & A Camus) Barnett cũng được đề cập đến
nhưng rất sơ lược
Nam đã nhận xét: Fagaceae có 5 chi gồm 100 loài, trong đó chủ yếu là các
loài thuộc các chi Castanopsis, Lithocarpus và Quercus, đây là những loài
cung cấp gỗ và cho quả ăn được Theo Nguyễn Tiến Bân (2004) [2], họ Dẻ ở Việt Nam có 6 chi, khoảng 210 loài, được xếp vào 3 phân họ, trong đó có 3
chi lớn là: Castanopsis (trên 50 loài), Lithocaspus (khoảng 115 loài) và Quescus (trên 40 loài), các chi khác chỉ có 1-2 loài
Lecomte M H (1929 -1931) [23] khi nghiên cứu phân loại họ Dẻ ở Đông Dương, bên cạnh các thông tin về mô tả, tác giả đã cung cấp các thông tin về phân bố, sinh học, sinh thái và giá trị tài nguyên của họ Dẻ và loài Giẻ đen ở khu vực này
Hoang Van Sam, Khamseng Nanthavong & P.J.A Keßler (2004) [24]
đã mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái, giá trị sử dụng và phân bố của loài Các tác giả đã xác định được loài Giẻ đen phân bổ ở Phía Đông Nam tỉnh Vân Nam, Trung Quốc; Indonesia; miền bắc Thái Lan; tỉnh Louang namtha ở Lào; và các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Yên Bái, Tuyên Quang, Quảng Ninh, Hà Bắc, Hà Tây ở Việt Nam Chúng thường sống ở địa hình có đồi núi thấp
Phạm Hoàng Hộ (2003) [8], đã mô tả sơ bộ loài Giẻ đen kèm theo hình
vẽ và cung cấp một số thông tin về phân bố và sinh thái
Trang 16Nguyễn Tiến Bân (2005) [3], đã cung cấp các thông tin cơ bản về loài:
Gỗ trung bình đến to, cao 20-25 m, đường kính 80-90 cm Cây ưa sáng hoặc mọc rải rác thành quần thụ trong rừng nguyên sinh, ở độ cao 300-400 m Có khi là cây tiên phong trong rừng thứ sinh Ra hoa tháng 10-11, mùa quả tháng 3-4 năm sau Gỗ dùng làm nông cụ, trụ mỏ, đôi khi dùng trong xây dựng Tác
giả đã xếp loài Giẻ đen thuộc chi Dẻ cau (Lithocarpus)
Theo Nguyễn Tiến Bân (2007) [4], Giẻ đen-Castanopsis cerebrina
(Hickel & A Camus) Barnett, là loài đặc hữu của Việt Nam Nơi cư trú ở nhiều tỉnh như: Quảng Ninh, Tuyên Quang (Phan Lương), Bắc Ninh, Phú Thọ (Phủ Đoan, Chân Mộng, Phú Hộ), Hoà Bình (Thanh Mai), Thanh Hoá có rừng bị chặt phá nặng nề Bản thân loài cũng bị khai thác lấy gỗ Phân hạng:
EN A1c,d
Võ Văn Chi trong cuốn “Từ điển thực vật thông dụng ở Việt Nam” [6]
và “Cây cỏ có ích ở Việt Nam” [7] của Võ Văn Chi và Trần Hợp đã mô tả
hình thái, sinh thái, phân bố, giá trị sử dụng của loài Về thành phần hóa học
cơ bản có: Vỏ thân 11,03% tanin; 12,42% nước; 4% chất phi tanin; 73,4% các chất khác
Trần hợp (2004) [9], cũng đã mô tả đặc điểm hình thái, sinh học, phân
bố và giá trị sử dụng của loài Giẻ đen Castanopsis cerebrina (Hickel & A
Camus) Barnett
1.2.3 Tại khu vực nghiên cứu
Lê Đồng Tấn (2011) [17], trong báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển một số loài cây trồng tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh (Vĩnh Phúc)” đã nêu ra một số thông tin: Giẻ đen giống cao 0,4 m, được
trồ ng năm 2001; năm 2005 cao trung bình 3,5 m, đường kính 1,99 cm; năm
2007 cao trung bình 4,6 m, đường kính 2,6 cm; năm 2011 cao trung bình 6,34
m, đường kính 5,95 cm
Trang 171.3 Nghiên cứu sinh trưởng của cây rừng tại Trạm Đa dạng Sinh học
Sau 12 năm, Sau sau đạt chiều cao cao nhất 7,2 m; sau đó là Trám chim 6,6 m; Sơn rừng đạt 5,6 m và Hoắc quang thấp nhất chỉ đạt 5,2 m
So với các loài cây trồng, sinh trưởng về chiều cao của các loài cây mọc tự nhiên không cao, chỉ đạt mức trung bình 0,4 m-0,5 m/năm Trong suốt thời kỳ 12 năm thì Sau sau đạt mức tăng trưởng trung bình cao nhất (0,60 m/năm), tiếp đến là Trám chim (0,55 m/năm), Sơn rừng đạt 0,43 m/năm và thấp nhất là Hoắc quang 0,42 m/năm
Theo thời gian, mức độ sinh trưởng chiều cao của cả 4 loài đều đạt giá trị cao nhất ở 4 tuổi (Sau sau tăng trưởng cao nhất đạt 0,9 m/năm, thấp nhất là Sơn rừng đạt 0,65 m/năm), rồi sau đó giảm dần ở các tuổi sau Đến 10 và 12 tuổi chiều cao tăng trung bình từ 0,1-0,35 m/năm Hoắc quang, Sơn rừng chỉ đạt 0,1-0,2 m/năm, với mức tăng trưởng này được coi như cây không còn khả năng tăng trưởng về chiều cao
Về đường kính: Sau 12 năm, Trám chim và Sau sau đều đạt đường kính trên 10 cm (Trám chim 10,5 cm, Sau sau 10,2 cm), hai loài Sơn rừng và Hoắc quang chỉ đạt đường kính dưới 10 cm (Sơn rừng 7,90 cm và Hoắc quang 8,53 cm) Trong cả quá trình đến tuổi 12 Trám chim đạt mức tăng trưởng trung bình cao nhất (8,80 cm/năm); tiếp đến là Sau sau (0,85 cm/năm); Hoắc quang (0,71 cm/năm) và thấp nhất là Sơn rừng (0,69 cm/năm)
Trang 18Theo thời gian, có 3 chiều hướng tăng trưởng về đường kính cây khác nhau Trám chim có mức tăng trưởng nhanh ở giai đoạn từ 10 đến 12 tuổi (10 tuổi là 1,07 cm; 12 tuổi là 1,13 cm) Sau sau tăng nhanh ở 6 tuổi đến
8 tuổi (6 tuổi là 0,66 cm, 8 tuổi là 0,88 cm), sau đó giảm dần đến 12 tuổi (0,54 cm/năm) Ngược lại, Hoắc quang và Sơn rừng có mức tăng trưởng nhanh ở 6 tuổi (Hoắc quang là 0,87 cm/năm, Sơn rừng 0,92 cm/năm Sau đó lại giảm dần đến 12 tuổi tốc độ tăng trưởng chỉ là 0,35-0,38 cm
Từ ngày thành lập đến nay, Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh đã có nhiều thay đổi Những nghiên cứu về thành phần loài thực vật, về di nhập các loài cây bản địa vào trồng bổ sung và thay thế các loài cây đã mất, những năm qua là đóng góp rất đáng kể vào việc bảo tồn và làm phong phú thêm hệ thực vật của Trạm
Về sinh trưởng phát triển của hệ thống cây trồng tăng cường tính đa dạng, các số liệu đã được thống kê cho thấy: đa số các loài đều thích nghi tốt với môi trường ở Mê Linh thì sinh trưởng tốt như Lim Xanh, De, Côm tầng, Lim xẹt, Gù hương, Gội gạc, chỉ sau 4-5 năm, nhiều cây từ 0,5 m đã đạt tới chiều cao 3 m Một số loại không thích nghi bị chết hay sinh trưởng kém như Sưa lá thường bị sâu; Côm trâu, Sưa, Sâng Một số loài khi đưa trồng giống còn nhỏ bị cỏ dại lấn át bị chết như Giổi, Chay, Mắc Mật Đất của Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh có rất nhiều mối nên một số cây khi đưa vào trồng giai đoạn đầu sinh trưởng tốt, về sau bị mối tấn công bị chết như Đinh (khi nhổ gốc cây thấy có nhiều mối) Tỷ lệ sống của các loài đạt 70% (Vũ Xuân Phương và cộng sự, 2005) [15]
Trang 19Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bốn mốt cá thể loài Giẻ đen-Castanopsis cerebrina (Hickel & A
Camus) Barnett, 1944 tại Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh – Vĩnh Phúc, thuộc Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật năm 2016-2017
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, Vĩnh Phúc
2.2.1 Diện tích, vị trí địa lý, địa hình
Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc nằm trong địa phận của
xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (trước thuộc huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc) Trạm cách trung tâm thị xã Phúc Yên khoảng 35 km
về phía Bắc
Với diện tích trên 170 ha trong đó chiều dài khoảng 3.000 m, chiều rộng trung bình khoảng 550 m (chỗ rộng nhất khoảng 800 m, chỗ hẹp nhất khoảng 300 m)
Khu vực Trạm có toạ độ:
21o23’57’’ - 21o23’35’’ vĩ độ Bắc
105o42’40’’ - 105o42’40’’ kinh độ Đông
Phía Bắc giáp huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
Phía Đông và phía Nam giáp hợp tác xã Đồng Trầm, xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên
Phía Tây giáp vùng ngoại vi Vườn Quốc gia Tam Đảo, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Đây thuộc vùng bán sơn địa phía Bắc huyện Mê Linh, là phần kéo dài
về phía Đông Nam của dãy Tam Đảo, có địa hình đồi và núi thấp với xu
Trang 20hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam Địa hình khu vực nghiên cứu phần lớn là đất dốc, độ chia cắt sâu với nhiều dông phụ gần như vuông góc với dông chính, độ dốc trung bình từ 15-30o, nhiều nơi dốc đến 30-35o, điểm cao nhất
là 520 m (điểm cực đông thuộc đỉnh núi Đá trắng) Ở khu vực Trạm các bãi bằng rất ít nằm rải rác dọc theo ven suối phía Tây
Hình 2.1 Bản đồ Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh – Vĩnh Phúc
Trang 212.2.2 Địa chất, thổ nhưỡng
Theo nguồn gốc phát sinh, trong vùng có hai loại đất chính sau:
- Ở độ cao trên 300 m là đất Feralit mùn đỏ vàng Ðất có màu vàng yếu thế do độ ẩm cao, hàm lượng sắt di động và nhôm tích luỹ cao Do đất phát triển trên đá Mácma axit kết tinh chua nên tầng đất mỏng, thành phần cơ giới nhẹ, tầng mùn mỏng, không có tầng thảm mục, đá lộ đầu nhiều trên 75%
- Ở độ cao dưới 300 m là đất Feralit vàng đỏ phát triển trên nhiều loại
đá khác nhau, đất có khả nãng hấp phụ không cao do có nhiều khoáng sét, phổ biến là Kaolinit
Ngoài ra còn có đất dốc tụ phù sa ven suối ở độ cao dưới 100 m Thành phần cơ giới của loại đất này là trung bình, tầng đất dày, độ ẩm cao, màu mỡ,
đã được khai phá để trồng lúa và hoa màu
Ðất thuộc loại chua với độ pH 3,5-5,5, độ dày tầng đất trung bình đạt 30-40 cm
2.2.3 Khí hậu, thủy văn
Ðây là vùng nhiệt đới gió mùa, nằm trong vùng khí hậu chung của đồng bằng Bắc Bộ Nhiệt độ trung bình hàng năm là 22-23oC, tập trung không đều, tháng có nhiệt độ cao là tháng 6, tháng 7 và tháng 8 Còn mùa lạnh vào các tháng 12, tháng 1 và tháng 2 Nhiệt độ cao điểm trong các tháng nóng nực lên đến 40oC, nhiệt độ lạnh nhất tới 4oC Nhìn chung nhiệt độ trung bình vào mùa hè từ 27-29oC, trung bình vào mùa đông là 16-17oC
Lượng mưa từ 1.100-1.600 mm/năm, phân bố không đều, tập trung vào mùa hè từ tháng 6-8 hàng năm Ở đây có 2 mùa gió thổi rõ rệt là gió mùa Ðông Bắc (từ tháng 10 đến 3 năm sau) và gió mùa Ðông Nam (từ tháng 4 đến tháng 9) Ðộ ẩm trung bình là 80%
Trạm Đa dạng Sinh học Mê linh là một trong những khu vực đầu nguồn của nhiều suối nhỏ đổ vào hồ Đại Lải
Trang 222.2.4 Tài nguyên động thực vật rừng
- Khu hệ đông vật: Theo kết quả điều tra năm 2003 của phòng động vật
có xương sống – Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật, đã xác định thành phần phân loại của 5 lớp thú, chim, bò sát, ếch nhái, côn trùng thuộc 25 bộ, 99
họ, 461 loài
- Khu hệ thực vật: Theo Vũ Xuân Phương và cộng sự (2001) [14] được
trình bày dưới bảng 2.1 trong “Đa dạng sinh học của hệ thực vật tại Trạm sinh học Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc”
Ba ̉ ng 2.1 Cấu trúc hê ̣ thực vâ ̣t ta ̣i Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh
Nga ̀nh Số ho ̣ Số chi Số loa ̀i
ngựa (Pinus massoniana Lamb.), Thông nhựa (Pinus merkusii Jungh & Vriese), Keo tai tượng (Acacia auriculiformis A Cunn ex Benth.), Keo lá tràm (Acacia confusa Merr.), Bạch đàn (Eucalyptus globulus Labill.)
Trang 23Rừng trồng: gồm có rừng thuần loại (rừng Bạch đàn, Keo tai tượng, Keo lá tràm, Thông nhựa) và rừng hỗn giao (Bạch đàn - Keo tai tượng, Bạch đàn - Keo lá tràm, Thông - Keo lá tràm)
Như vậy, rừng trồng chủ yếu là cây nhập nội với phương thức trồng thuần loại hay hỗn giao đơn giản Rừng chưa khép tán nên khả năng chống xói mòn bảo vệ đất rất hạn chế Nhiều nơi phần lớn đã khai thác nhưng không được trồng lại hay chăm sóc nên chất lượng rừng rất thấp Trên những diện tích này khả năng phục hồi lại thảm thực vật là rất khó khăn do đất đai bạc màu và đã bị suy thoái nghiêm trọng
Thảm thực vật tự nhiên
Trong khu vực nghiên cứu có các quần hệ và kiểu thảm thực vật sau:
Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa hình thấp, gồm có:
- Cây gỗ lá rộng: Thường là những mảnh nhỏ phân bố rải rác trên các sườn núi ở độ cao 300 m trở lên tại tiểu khu 11 Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, sườn phía Đông Vườn Quốc gia Tam Đảo Đây là những phần rừng nguyên sinh
đã bị khai thác kệt còn sót lại hay mới được phục hồi sau khai thác
Hiện nay cấu trúc rừng đã bị phá huỷ do bị tác động nhiều, thành phần loài cây cũng bị thay đổi theo hướng các loài cây thứ sinh chiếm ưu thế Theo điều tra, những loài cây gỗ lớn có giá trị hầu như đã cạn kiệt do khai thác trong nhiều thập kỷ qua Rừng gồm có tầng cây gỗ cao 10-15 m (đôi khi đến 20 m) với đường kính trung bình 20-25 cm, mật độ 400-500 cây/ha Các loài cây thường
gặp là: Dẻ gai (Castanopsis sp.), Trâm (Syzygium sp.), Ràng ràng (Ormosiabalansae Drake.), Re (Cinnamomum sp.), Bứa (Garciniabonii Pitard.), Tai chua (Garciniacowa Roxb.), Máu chó (Knema sp.), Côm (Elaeocarpus sp.), Trám trắng (Canariumalbum (Lour.) Raeusch.) Tầng cây bụi cao 4-5 m, khá
rậm rạp, thường gặp các loài thuộc họ Cà phê (Rubiaceae), họ Đơn nem (Myrsinaceae), họ Trôm (Sterculiaceae), họ Côm (Elaeocarpaceae), Trung quân
Trang 24(Ancistrocladaceae), họ Mua (Melastomataceae)… Thảm tươi chủ yếu là các loài cây thuộc họ Ráy (Araceae), họ Ô rô (Acanthaceae), họ Riềng (Zingiberaceae), họ Cỏ (Poaceae), họ Cói (Cyperaceae) Dây leo thường gặp các loài thuộc họ Nho (Vitaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Bạch hoa (Capparaceae)…
- Rừng nứa xen cây gỗ: Chủ yếu là do khai thác gỗ củi quá mức hình thành nên Phân bố trên độ cao 200-400 m tại khu vực giáp ranh giữa Trạm
Đa dạng sinh học Mê Linh và Vườn Quốc gia Tam Đảo Trong rừng Nứa, cây
gỗ có mật độ thưa, thành phần chính là: Lá nến (Macaranga denticulata (Blume) Muell.-Arg.), Bồ đề (Styrax tonkinensis (Pierre) Craib ex Hardw.), Ràng ràng (Ormosiabalansae Drake.), Chẹo (Engelhardiaroxburghiana Wall.), Hu đay (Tremaorientalis (L.) Blume.), Dẻ gai (Castanopsis sp.), Ngát (Gironnierasubaequalis Planch.), Re (Cinnamomum sp.), Kháo (Machilus sp.), Bứa (Garciniabonii Pitard.), Tai chua (Garciniacowa Roxb.), Sau sau (Liquidambarformosana Hance.),…
Rừng thưa thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa hình thấp, gồm có:
- Cây gỗ lá rộng: Là rừng phục hồi sau khai thác kiệt, đất nương rẫy, đất trồng rừng thất bại Phân bố ở sườn núi trên độ cao từ 200 m trở lên Tổ
thành chủ yếu là Bồ đề (Styrax tonkinensis (Pierre) Craib ex Hardw.), Sơn (Toxicodendronsuccedanea (L.) Mold.), Hu đay (Tremaorientalis (L.) Blume.), Ràng ràng (Ormosiabalansae Drake.), Trâm (Syzygium sp.), Sau sau (Liquidambarformosana Hance.), Lá nến (Macarangadenticulata (Blume) Muell.-Arg.), Côm (Elaeocarpus sp.), Trôm (Sterculia sp.), Bời lời (Litsea sp.), Re (Cinnamomum sp.)…
Ở những nơi rừng trồng thất bại, ngoài các loài cây tái sinh tự nhiên
còn có các loài cây trồng nhân tạo: Thông (Pinusmerkusii Jungh & Vriese.), Keo tai tượng (Acaciamangium Willd.), Keo lá bạc (Acacia sp.), Bạch đàn (Eucalyptus sp.)
Trang 25- Rừng Nứa xen gỗ: Được hình thành do khai thác quá mức và phục hồi sau nương rẫy Tương tự như ở rừng thưa cây lá rộng, thành phần cây gỗ ở đây
cũng chủ yếu là các loài cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh: Bồ đề (Styrax tonkinensis (Pierre) Craib ex Hardw.), Lá nến (Macarangadenticulata (Blume) Muell.-Arg.), Ràng ràng (Ormosiabalansae Drake.), Hu chanh (Alangiumkurzii Craib.), Thôi ba (Alangiumchinensis (Lour.) Harms.), Bời lời (Litsea sp.), Sau sau (Liquidambarformosana Hance.), Chẹo (Engelhardiaroxburghiana Wall.)…
- Rừng Giang: Là dạng thoái hoá của rừng kín cây lá rộng, kiểu này thường là những khoảnh nhỏ phân bố ở tiểu khu 11, dọc theo suối và rải rác trong các vùng thuộc Vườn Quốc gia Tam Đảo Trước đây, nhân dân thường khai thác Giang để làm dây buộc và bán, nhất là trong dịp Tết Nguyên Đán Nhưng trong những năm gần đây, do được bảo vệ nghiêm ngặt nên đã hạn chế người vào lấy Giang cũng như lấy măng Cây gỗ thưa với thành phần khá đơn
giản Những loài thường gặp là: Bồ đề (Styrax tonkinensis (Pierre) Craib ex Hardw.), Vàng anh (Saracadives Pierre.), Nhội (Bischofiajavanica Blume.),
Dẻ gai (Castanopsis sp.), Trám trắng (Canariumalbum (Lour.) Raeusch.), Bứa (Garciniabonii Pitard.), Tai chua (Garciniacowa Roxb.)…
Trảng cây bụi thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa hình thấp:
Gồm các quần xã có hay không có cây gỗ Các quần xã này được hình thành do khai thác quá mức, chặt phá rừng hay làm nương rẫy, xử lý trắng thảm thực vật tự nhiên để trồng rừng nhưng thất bại
- Trảng cỏ: Trảng cỏ dạng lúa trung bình: Có ưu hợp lách
(Saccharumspontaneum L.), Chít (Thysanolaenamaxima (Roxb.) Kuntze.) và
Cỏ tranh (Imperatacylindrica (L.) Beauv.) hình thành trên đất sau nương rẫy
hoặc trồng rừng thất bại Trên đối tượng này thành phần cây bụi chủ yếu là
các loài cây chịu hạn như: Me rừng (Phyllanthus emblica L.), Thàu táu (Aporosasphaerosperma Gagnep.), Hoắc quang (Wendlandiapaniculata
Trang 26(Roxb.) A DC.), Thành ngạnh (Cratoxylumpolyanthum Korth.), Thừng mức (Wrightiapubescens R Br.), Găng (Randiaspinosa (Thunb.) Poir.), Sim (Rhodomyrtustomentosa (Ait) Hassk.), Mua (Melastoma sp.)
Hình 2.2 Bản đồ đa dạng thực vật Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Trang 272.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 3/2016- 8/2017
2.4 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái và phân bố của loài cây
- Nghiên cứu khả năng thích nghi và sống sót của cây trồng
- Nghiên cứu quá trình sinh trường chiều cao cây
- Nghiên cứu quá trình sinh trưởng đường kính cây
- Đề xuất biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc loài Giẻ
đen-Castanopsis cerebrina trồng tại Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh
2.5 Phương pháp nghiên cứu
Ðể nghiên cứu loài Giẻ đen-Castanopsis cerebrina (Hickel & A Camus)
Barnett được trồng tại Trạm, tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu
phổ biến hiện nay theo Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật (1997) [18], Các phương pháp nghiên cứu thực vật (2007) [19] của Nguyễn Nghĩa Thìn; về thực vật học theo Sách đỏ Việt Nam (2007) [4]; để xác định tên khoa học, tôi dựa vào Cây cỏ Việt Nam (2003)[8], The Plantlist [27]; để đánh giá giá trị tài
nguyên, tôi dựa vào tài liệu chuyên khảo và thực tế điều tra
2.5.1 Phương pháp kế thừa
Kế thừa các kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã báo cáo tổng kết công khai, công bố, đăng tải trên các phương tiện thông tin chính thức ở trong nước, quốc tế và các số liệu do cán bộ của Trạm đa dạng sinh học Mê Linh – Vĩnh Phúc thu thập về loài Giẻ đen trong thời gian từ năm 2001-2011
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Đo chiều cao cây
Chiều cao là chỉ tiêu điều tra quan trọng, nó phản ánh kích thước cây, là một nhân tố để tính thể tích cây, để phân chia sản phẩm gỗ
Trang 28Những cây có chiều cao dưới 4m được đo trực tiếp bằng thước sào có chia vạch đến 0,1m Những cây cao hơn 4m được đo bằng máy Blume- leiss
có kiểm tra bằng phương pháp đo trực tiếp
Các thông số cần thu thập gồm: chiều cao vút ngọn (Hvn), chiều cao dưới cành (Hdc)
Đo chiều cao vút ngọn ( Hvn): Dùng thước sào khắc vạch đo trực tiếp, hoặc máy đo chiều cao cây Blume- leiss Vị trí đo chiều cao vút ngọn như trong hình 2.3
Hình 2.3 Cách đo chiều cao vút ngọn
Đo chiều cao dưới cành ( Hdc)
Chiều cao dưới cành là chiều cao thân cây từ dưới đất lên đến độ cao của cành sống mà có tán lá tham gia vào tán cây đứng
- Đo đường kính cây
Dụng cụ đo đường kính thân câythường được sử dụng gồm:
(1)Thước kẹp đo đường kính theo hai chiều vuông góc với nhau và lấy
trị số bình quân
(2) Thước dây: Dùng thước dây có ghi sẵn giá trị đường kính khi đo thân cây theo chu vi cây ở vị trí 1.3m Đường kính được tính qua chu vi và
Trang 29được ghi sẵn lên thước để người sử dụng đọc trực tiếp giá trị đường kính cây Nếu dùng thước dây khắc vạch cm thông thường thì tính đường kính bằng cách lấy chu vi chia cho 3,1416 Cách đo như hình 2.4
Hình 2.4 Cách đo đường kính thân cây
Cách đo đường kính thân cây
- Đo đường kính tán
Đường kính tán cây được đo thông qua hình chiếu của nó trên mặt đất
Sử dụng thước dây đo 2 đường vuông góc qua gốc cây theo hình chiếu tán cây trên mặt đất, sau đó lấy giá trị bình quân Cách đo như hình 2.4
Thu thập số liệu sinh trưởng: Căn cứ vào sơ đồ và số hiệu cây trồng, thực hiện đo các chỉ tiêu về sinh trưởng chiều cao, đường kính Các nội dung thu thập được ghi theo mẫu sau:
Bảng 2.2 Phiếu điều tra sinh trưởng của loài Giẻ đen trồng tại Trạm ST
1
2
3
Trang 30Trong đó: Hvn: Chiều cao vút ngọn
Hdc: Chiều cao dưới tán
D1.3: Đường kính ngang ngực
Dt : Đường kính tán ĐT: Hướng Đông Tây BN: Hướng Bắc Nam
2.5.3 Phương pháp xử lý số liệu
Phân tích số liệu điều tra để mô tả các đặc điểm hình thái và sinh thái: phân bố (phân bố địa lý: độ cao, độ vĩ, đặc điểm địa hình địa phương, nơi có cây sinh trưởng), sinh cảnh (kiểu thảm thực vật), cấu trúc quần thể…
Sử dụng phần mềm exel để xử lý và tính toán số liệu
Đánh giá tình trạng bảo tồn của loài cây theo sách đỏ Việt Nam và danh lục đỏ IUCN
Đánh giá chất lượng cây trồng theo 3 cấp theo Lê Đồng Tấn [17]
- Cây tốt: Cây gỗ khỏe mạnh, thân thẳng, đều, tán cân đối, không sâu bệnh hoặc rỗng ruột
- Cây trung bình: Cây có đặc điểm như thân hơi cong, tán lệch, có thể có u biếu hoặc một số khuyết tật nhỏ nhưng vẫn có khả năng sinh trưởng và phát triển đạt đến độ trưởng thành; hoặc cây đã trưởng thành, có một số khuyết tật nhỏ nhưng không ảnh hưởng nhiều đến khả năng sinh trưởng hoặc lợi dụng gỗ
- Cây xấu: Là những cây đã trưởng thành, bị khuyết tật nặng (sâu bệnh, cong queo, rỗng ruột, cụt ngọn …) hầu như không có khả năng lợi dụng gỗ; hoặc những cây chưa trưởng thành có nhiều khiếm khuyết (sâu bệnh, cong queo, rỗng ruột, cụt ngọn, sinh trưởng không bình thường …) khó có khả năng tiếp tục sinh trưởng và phát triển đạt đến độ trưởng thành
Sử dụng các phương trình toán học để mô hình hóa quá trình sinh trưởng phát triển của cây trồng:
Trang 31Các tham số được xác định bằng phương pháp bình phương tối thiểu
Sử dụng phần mềm trên excel để tính toán hệ số
Trang 32Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm phân loại của loài Giẻ đen-Castanopsis cerebrina (Hickel &
A Camus) Barnett
3.1.1 Danh pháp và vị trí phân loại
Theo các tài liệu cập nhật hiện nay như: Blumer (2004) [24]; Flora of Thailand (2008) [25]; Flora of China (1999) [26]; The Plantlist [27],… Giẻ đen có tên khoa học là Castanopsis cerebrina (Hickel & A Camus) Barnett với tên đồng nghĩa là Lithocarpus cerebrinus, thuộc họ Dẻ (Fagaceae), bộ Dẻ
(Fagales), lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) hay lớp Hai lá mầm (Dicotylendonae), ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) hay còn gọi là ngành Hạt kín (Angiospermae), giới Thực vật (Plantea) Ngoài tên gọi là Gỉẻ đen, ở nước
ta loài này còn các tên gọi khác là Dẻ đấu cụt, Dẻ cau, Sồi phảng, Sồi cau
3.1.2 Đặc điểm hình thái
Hình 3.1 Castanopsis cerebrina (Hickel & A Camus) Barnett
1 cành mang hoa; 2 đấu và quả (Hình theo Sách đỏ Việt Nam, 2007)